Tốc độ Internet tối thiểu vùng khó khăn đạt 40-100 Mbit/s từ 19/8
Từ ngày 19/8/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ đặt ra mức tốc độ internet tối thiểu cho từng loại hình dịch vụ viễn thông, đồng thời chọn ứng dụng i-Speed làm công cụ đo để xác định thôn, bản nào đã hoàn thành phổ cập viễn thông công ích.
![]() |
| Ảnh minh họa có sự hỗ trợ của AI |
Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ban hành thông tư Hướng dẫn việc thực hiện yêu cầu về phổ cập dịch vụ viễn thông đối với từng loại hình dịch vụ viễn thông và đo tốc độ mạng Internet dịch vụ viễn thông công ích. Theo đó, tốc độ internet tối thiểu cho dịch vụ viễn thông công ích, áp dụng riêng cho từng loại hình mạng và có hiệu lực thi hành từ ngày 19/8/2026. Thông tư cụ thể hóa khoản 1 Điều 5 và điểm c khoản 8 Điều 6 của Nghị định số 295/2025/NĐ-CP, đồng thời quy định phương pháp đo bằng ứng dụng i-Speed do Trung tâm Internet Việt Nam phát triển.
Theo Điều 2, thông tư áp dụng cho mọi cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân liên quan đến hoạt động viễn thông công ích tại Việt Nam. Phạm vi điều chỉnh, nêu tại Điều 1, giới hạn ở hai nội dung, gồm cách thực hiện phổ cập dịch vụ viễn thông theo từng công nghệ và cách đo tốc độ mạng phục vụ báo cáo kết quả cung cấp dịch vụ công ích.
Nguyên tắc xuyên suốt của thông tư là trung lập công nghệ, bởi Điều 3 không bắt buộc chọn một loại công nghệ duy nhất mà yêu cầu công nghệ triển khai phải phù hợp với địa hình, phân bố dân cư, nhu cầu sử dụng và hiệu quả đầu tư.
Với dịch vụ băng rộng di động và cố định mặt đất, công nghệ cần phù hợp việc lắp đặt tại nhà văn hóa thôn, trung tâm thôn hoặc khu vực có hộ dân sinh sống liền kề đông nhất, còn với dịch vụ vệ tinh, thông tư khuyến khích kết hợp song song với di động và cố định mặt đất cho hộ dân sống đơn lẻ hoặc khu vực bị chia cắt bởi địa hình. Riêng khu vực nhà giàn và giàn khoan trên biển không phải áp dụng các yêu cầu tốc độ tối thiểu nêu tại khoản 2, 3 và 4 Điều 3, do đặc thù vị trí không thể phủ sóng bằng công nghệ mặt đất hay tiêu chuẩn thông thường.
Ngưỡng tốc độ bắt buộc với doanh nghiệp viễn thông
Khoản 2, 3 và 4 Điều 3 ấn định ngưỡng cụ thể mà doanh nghiệp viễn thông phải đạt cho từng loại hình dịch vụ. Công nghệ di động 4G phải đạt tốc độ tải xuống trung bình tối thiểu 40 Mbit/s và tải lên tối thiểu 10 Mbit/s, còn công nghệ 5G phải đạt tối thiểu 100 Mbit/s tải xuống và 30 Mbit/s tải lên. Gói dịch vụ băng rộng cố định mặt đất yêu cầu tốc độ tải dữ liệu tối thiểu 100 Mbit/s, trong khi dịch vụ vệ tinh áp ngưỡng tương đương 4G, tức tối thiểu 40 Mbit/s tải xuống và 10 Mbit/s tải lên, nhưng thêm điều kiện phải đúng cam kết chất lượng mà chính doanh nghiệp vệ tinh công bố.
Việc đo kiểm để báo cáo kết quả cung cấp dịch vụ, quy định tại Điều 6, chỉ tiến hành sau ít nhất 15 ngày kể từ khi doanh nghiệp thông báo đã cung cấp dịch vụ trên địa bàn. Nếu kết quả không đạt, doanh nghiệp được quyền tối ưu mạng và đo lại, song phải hoàn tất trong 15 ngày kể từ ngày thông báo đã tối ưu xong.
Mỗi vị trí đo lấy đủ 05 mẫu, mỗi lần cách nhau tối thiểu 30 giây, rồi lấy giá trị trung bình làm kết quả công bố, và thông tư cấm tuyệt đối hành vi can thiệp làm sai lệch kết quả đo dưới bất kỳ hình thức nào. Khi phát hiện gian lận, thông tư quy định hủy kết quả đo và xử lý theo pháp luật, còn doanh nghiệp vẫn phải chủ trì tổ chức đo kiểm, lập báo cáo theo Mẫu số 01 kèm theo thông tư, đồng thời duy trì chất lượng dịch vụ suốt thời gian thực hiện nghĩa vụ với Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam.
Điều kiện xác định thôn, bản đã được phổ cập
Điều 4 và Điều 5 xác định thời điểm một vị trí đạt chuẩn phổ cập, nhóm đối tượng thụ hưởng trực tiếp của chính sách này. Với dịch vụ di động mặt đất, thông tư xác định một thôn hay bản chưa phổ cập khi trung tâm, tức nhà văn hóa thôn hoặc khu dân cư liền kề đông nhất, không có sóng của bất kỳ doanh nghiệp viễn thông nào, hoặc có sóng nhưng đo bằng ứng dụng i-Speed cho kết quả dưới mức doanh nghiệp đã công bố.
Với internet băng rộng cố định, tiêu chí tương tự áp dụng cho khu vực chưa có hạ tầng cáp quang hay tương đương của bất kỳ nhà mạng nào, còn việc đo dùng chung một hệ thống mang tên VNNIC Internet Speed, gồm ứng dụng i-Speed trên Android, iOS cùng hai website speedtest.vn và i-speed.vn.
Trách nhiệm đo kiểm và vai trò của chính quyền địa phương
Điều 7 giao Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp doanh nghiệp lập bản đồ số các vị trí cần phổ cập cùng thống kê số hộ, số dân theo Mẫu số 02, rồi gửi về Bộ Khoa học và Công nghệ để tổng hợp. Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam tiếp nhận, rà soát dữ liệu này và thẩm định phương án thiết kế sơ bộ do doanh nghiệp đề xuất. Thông tư không đòi hỏi phủ sóng tuyệt đối 100% số hộ nếu địa hình chia cắt hay che chắn khiến việc phủ sóng bất khả thi về kỹ thuật, nhưng vẫn buộc doanh nghiệp bảo đảm phủ sóng tới số hộ tối đa có thể, còn Trung tâm Internet Việt Nam chịu trách nhiệm giữ hệ thống i-Speed vận hành ổn định và lưu trữ dữ liệu đo phục vụ kiểm tra, giám sát, nghiệm thu.
Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 19/8/2026 và đặt ra lần đầu một bộ tiêu chuẩn tốc độ định lượng, gồm 40/10 Mbit/s cho 4G, 100/30 Mbit/s cho 5G và 100 Mbit/s cho cố định mặt đất, gắn với công cụ đo cụ thể thay vì chỉ dừng ở yêu cầu định tính như cách tiếp cận phổ biến trước đây trong các quy định viễn thông công ích. [Chưa xác minh] ngưỡng tốc độ này có khác biệt so với các văn bản hướng dẫn viễn thông công ích thời kỳ Luật Viễn thông 2009 hay không, do chưa đối chiếu được văn bản cũ tương ứng. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, các đơn vị liên quan phản ánh kịp thời về Bộ Khoa học và Công nghệ để cơ quan này xem xét, giải quyết theo Điều 8.
Chi tiết thông tư số 51/2026/TT-BKHCN xem tại đây.
Phạm Anh
