Muốn nâng giá trị công nghiệp vật liệu phải làm chủ công nghệ

09:05 | 25/09/2026

Muốn nâng giá trị vật liệu, công nghiệp vật liệu Việt Nam phải thôi bán tài nguyên thô và làm chủ công nghệ lõi, phấn đấu nội địa hóa 50% một số vật liệu chiến lược vào năm 2030, theo ý kiến của cơ quan quản lý và các nhà khoa học tại hội thảo chiều 24/9 ở Hà Nội.

Chiều 24/9, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp hội Việt Nam), Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Liên hiệp hội Việt Nam, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng các cơ quan liên quan tổ chức hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW ngày 8/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Ông Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, và GS.VS Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp hội Việt Nam, đồng chủ trì hội thảo với sự tham dự của đại diện các bộ, ngành, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghiệp vật liệu và các hội ngành nghề thành viên của Liên hiệp hội.

Muốn nâng giá trị công nghiệp vật liệu phải làm chủ công nghệ
Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh LH

Công nghiệp vật liệu còn dựa vào tài nguyên, giá trị gia tăng thấp

Phát biểu khai mạc, ông Phan Xuân Thủy nhấn mạnh vật liệu là đầu vào của sản xuất công nghiệp, kết cấu hạ tầng, năng lượng, điện tử, bán dẫn, quốc phòng, an ninh cùng nhiều ngành công nghệ cao. Vì vậy phát triển công nghiệp vật liệu gắn trực tiếp với mô hình tăng trưởng, cơ cấu công nghiệp và vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, chứ không còn là việc riêng của một ngành. Theo ông, công nghiệp vật liệu trong nước đã cơ bản đáp ứng nhu cầu về nhiều loại vật tư, nguyên liệu. Dù vậy, kết quả vẫn chưa tương xứng với tiềm năng khi sản xuất còn dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, giá trị gia tăng thấp, khả năng làm chủ công nghệ lõi còn hạn chế, nhiều vật liệu chất lượng cao và vật liệu đặc chủng còn phụ thuộc nhập khẩu, trong khi cả nước chưa có doanh nghiệp nòng cốt đủ sức dẫn dắt chuỗi giá trị.

Từ thực tế này, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cho biết Bộ Chính trị đã xác định công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, có yếu tố quyết định năng lực tự chủ chiến lược, năng lực cạnh tranh quốc gia và khả năng làm chủ công nghệ lõi. Tinh thần xuyên suốt là đưa công nghiệp vật liệu chuyển từ khai thác lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu, từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, từ tham gia chuỗi cung ứng sang từng bước nắm giữ những công đoạn có giá trị gia tăng cao.

Ông Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương,
Ông Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương phát biểu khai mạc. Ảnh HC

Ông Phan Xuân Thủy đề nghị hội thảo tập trung làm rõ sáu nhóm vấn đề của công nghiệp vật liệu. Nhóm thứ nhất là nội hàm tự chủ chiến lược cùng tiêu chí chọn vật liệu ưu tiên. Nhóm thứ hai là định hướng phát triển đồng bộ ba nhóm vật liệu cơ bản, chiến lược và tương lai. Nhóm thứ ba là cơ chế vận hành mô hình nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp là trung tâm, viện trường là nền tảng, địa phương là không gian thực thi. Ba nhóm còn lại gồm những điểm nghẽn về thể chế, vốn và tổ chức chuỗi giá trị, yêu cầu phát triển xanh, tuần hoàn, cuối cùng là công tác tuyên truyền để người dân hiểu vì sao công nghiệp vật liệu mang ý nghĩa chiến lược.

Kết luận 83-KL/TW đặt ra lộ trình cụ thể cho phát triển công nghiệp vật liệu. Trong năm 2026, Chính phủ phải ban hành Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời hình thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về ngành vật liệu vào năm 2027. Đến năm 2028, cả nước phấn đấu có từ 3 đến 5 trung tâm nghiên cứu vật liệu quốc gia. Xa hơn, đến năm 2030, Việt Nam phải làm chủ một số công nghệ chế biến sâu đất hiếm, vật liệu bán dẫn và vật liệu pin, đồng thời đưa tỷ lệ nội địa hóa một số vật liệu chiến lược lên 50%.

Ông Phan Xuân Thủy khẳng định Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ tổng hợp đầy đủ các kiến nghị tại hội thảo, trong đó nhấn mạnh tuyên truyền và tổ chức thực hiện các định hướng phát triển công nghiệp vật liệu là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

Tư duy mới về công nghiệp vật liệu và vai trò doanh nghiệp quốc gia

TS. Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, trình bày báo cáo về định hướng phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam trong thời gian tới và chỉ ra những nguyên nhân gốc rễ dẫn đến các hạn chế hiện nay. Theo ông, ở nhiều nơi, vật liệu vẫn được nhìn nhận đơn giản như nguyên liệu đầu vào, cho rằng chỉ cần có tiền là có thể mua được. Trên thực tế, công nghiệp vật liệu là một hệ thống phức tạp, trải dài từ khai thác, chế biến, chế tạo đến kiểm thử, kiểm định và cung ứng ra thị trường, đồng thời đòi hỏi nền tảng về thể chế, khoa học công nghệ và đào tạo nhân lực.

Đặc biệt, với các loại vật liệu phục vụ quốc phòng, an ninh, khả năng mua từ nước ngoài bị hạn chế hoặc không có. Điều này khiến Việt Nam phải tự nghiên cứu và sản xuất nhiều loại vật liệu dù quá trình này đòi hỏi công nghệ cao, vốn lớn và thời gian dài.

TS. Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương
TS. Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương chia sẻ tại Hội thảo. Ảnh: HC

Ông Hùng cho rằng việc có nhiều tài nguyên chưa làm nên vị thế cho công nghiệp vật liệu khi trình độ công nghệ nội địa còn yếu. Trong khi đó, cơ chế chính sách cho công nghiệp vật liệu lại phân tán qua nhiều bộ, ngành và thiếu một cơ chế điều phối thống nhất. Công tác dự báo cũng chưa sát thực tế. Ông dẫn chứng xi măng dư thừa ở miền Bắc, còn miền Nam lại thiếu cả những vật liệu rất cơ bản như cát, đá cho các công trình lớn.

Theo ông Hùng, tư duy mới là xem công nghiệp vật liệu như một ngành nền tảng của quá trình phát triển đất nước và triển khai theo ba tầng với trọng tâm khác nhau. Với vật liệu cơ bản, mục tiêu là nâng cấp công nghệ để gia tăng giá trị thay vì chỉ dừng ở khai thác và sản xuất các sản phẩm có giá trị thấp. Vật liệu chiến lược như đất hiếm và vật liệu phục vụ quốc phòng cần cách tiếp cận đột phá, trong đó ưu tiên tìm hướng đi phù hợp để từng bước làm chủ công nghệ. Trong khi đó, với vật liệu tương lai, Việt Nam cần dự báo nhu cầu từ sớm để chủ động nghiên cứu và chuẩn bị năng lực sản xuất. Mô hình này cũng xác định rõ vai trò của từng chủ thể trong chuỗi phát triển. Doanh nghiệp quốc gia giữ vai trò trung tâm và dẫn dắt, viện nghiên cứu, trường đại học làm nền tảng khoa học, công nghệ, còn khu vực đầu tư nước ngoài đóng vai trò cầu nối trong chuyển giao công nghệ.

Ông đề xuất phát huy các quỹ đầu tư mạo hiểm trong công nghiệp vật liệu, nhất là vật liệu mới, vật liệu bán dẫn, đất hiếm và pin. Lý do là nghiên cứu cơ bản cần nguồn lực dài hạn trong khi đầu ra chưa chắc chắn, còn ngân sách nhà nước lại vướng các khâu thanh toán, kiểm toán. Ông cũng kiến nghị khuyến khích vật liệu tái chế từ chất thải xây dựng, tro xỉ và chất thải công nghiệp. Theo ông, giải pháp đó có thể gỡ phần lớn khó khăn về vật liệu thô ở những vùng đang thiếu. Ban Chính sách, chiến lược Trung ương sẽ đôn đốc, theo dõi, kiểm tra và định kỳ sơ kết việc thực hiện Kết luận 83-KL/TW.

Bộ Công Thương đề xuất tự chủ có chọn lọc trong công nghiệp vật liệu

Ông Nguyễn Ngọc Thành, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương, cho biết ngày 11/9/2026 bộ đã trình Chính phủ hồ sơ dự thảo Chương trình hành động về phát triển công nghiệp vật liệu. Dự thảo được thiết kế theo nguyên tắc rõ cơ quan chủ trì, rõ cơ quan phối hợp, rõ nhiệm vụ, rõ tiến độ, rõ sản phẩm đầu ra và rõ nguồn lực. Mỗi nhiệm vụ chỉ có một đầu mối chịu trách nhiệm chính. Những việc đã đủ căn cứ pháp lý và thực tiễn sẽ được triển khai ngay, không sinh thêm chương trình, đề án hay thủ tục trung gian không cần thiết.

Ông Nguyễn Ngọc Thành, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương,
Ông Nguyễn Ngọc Thành, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương chia sẻ tại Hội thảo. Ảnh HC

Dựa trên ba lớp vật liệu mà Bộ Chính trị xác định, Bộ Công Thương đề xuất chia công nghiệp vật liệu thành bảy nhóm để phân công quản lý. Bảy nhóm gồm vật liệu công nghiệp cơ bản và vật liệu kỹ thuật, vật liệu cao phân tử, cao su và sợi, vật liệu xây dựng và hạ tầng, vật liệu công nghệ cao và vật liệu chiến lược, vật liệu quốc phòng, an ninh và lưỡng dụng, vật liệu y sinh, cuối cùng là vật liệu tương lai. Cách chia nhóm chỉ phục vụ quản trị và không thay thế phân loại khoa học, kỹ thuật.

Điểm mới trong dự thảo là không đồng nhất tự chủ với tự sản xuất toàn bộ. Theo ông Thành, tự chủ trước hết là khả năng kiểm soát những khâu thiết yếu và duy trì năng lực sản xuất khi chuỗi cung ứng bị gián đoạn. Vì vậy, Việt Nam có thể kết hợp sản xuất trong nước với đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, hợp tác quốc tế, đầu tư ra nước ngoài, tái chế và phát triển vật liệu thay thế.

Với những công nghệ chưa cần thiết phải tự làm chủ, Việt Nam có thể tiếp nhận chuyển giao thông qua các dự án trọn gói và tập trung vào khâu vận hành. Riêng với đất hiếm, giá trị gia tăng nằm ở năng lực tuyển tách, tinh chế, sản xuất từng loại oxit, kim loại, nam châm và vật liệu từ. Nếu chỉ xuất quặng để đối tác nước ngoài chế biến, phần giá trị cao hơn của chuỗi sản xuất cũng sẽ nằm ở khâu chế biến bên ngoài Việt Nam.

Ông Thành dẫn chuỗi bô xít, alumin, nhôm làm ví dụ để cho thấy dư địa nâng cấp của công nghiệp vật liệu. Hai tổ hợp alumin Tân Rai và Nhân Cơ hiện đạt tổng sản lượng khoảng 1,3 triệu tấn alumin mỗi năm, nhưng mỗi năm Việt Nam vẫn nhập khẩu khoảng 1,4 đến 1,5 triệu tấn nhôm kim loại. Tháng 7 vừa qua, Việt Nam đã sản xuất được những sản phẩm nhôm đầu tiên từ dự án điện phân nhôm Trần Hồng Quân. Giai đoạn 1 của dự án cho công suất khoảng 150.000 tấn. Khi hoàn thành giai đoạn 3, nhà máy có thể cung cấp khoảng 450.000 tấn mỗi năm, tương đương một phần ba nhu cầu nhôm trong nước.

Với nhóm kim loại cơ bản của công nghiệp vật liệu, ông Thành lưu ý nhu cầu rất lớn về thép chất lượng cao cho ray đường sắt tốc độ cao, móng và trụ tua bin điện gió ngoài khơi. Ông phân tích rằng nếu dự án đường sắt tốc độ cao chỉ tạo ra thị trường nhỏ, doanh nghiệp đầu tư dây chuyền thép ray cường độ cao sẽ khó có lãi. Vì vậy các chương trình lớn về hạ tầng, năng lượng, cơ khí, quốc phòng cần trở thành nguồn cầu đủ lớn để doanh nghiệp công nghiệp vật liệu mạnh dạn rót vốn. Từ ngày 15/9/2026, theo Nghị định số 351/2026/NĐ-CP, chức năng quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản đã chuyển về Bộ Công Thương. Việc chuyển giao giúp nối liền quản lý tài nguyên với chế biến, luyện kim và phát triển công nghiệp vật liệu.

Ông Thành tóm lược ba yêu cầu xuyên suốt trong giai đoạn tới. Yêu cầu đầu tiên là chọn đúng trọng tâm để nguồn lực không bị dàn trải. Yêu cầu thứ hai là tổ chức được chuỗi giá trị để lợi thế tài nguyên chuyển hóa thành công nghệ và năng lực sản xuất trong nước. Yêu cầu cuối cùng là quản lý bằng kết quả để mỗi nhiệm vụ đều có sản phẩm cụ thể được đánh giá. Theo lộ trình của dự thảo, đến năm 2030 Việt Nam phải làm chủ công nghệ và nâng dần tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm như hợp kim cường độ cao, hợp kim nhôm từ nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước.

Viện Khoa học vật liệu thúc đẩy đưa nghiên cứu vào sản xuất

PGS.TS Trần Quốc Tiến thay mặt Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, trình bày về nghiên cứu phát triển và ứng dụng vật liệu tiên tiến trong giai đoạn mới. Từ nghiên cứu cơ bản đến ứng dụng thực tế, viện đã hình thành một số năng lực công nghệ có thể phục vụ trực tiếp cho sản xuất và các ngành công nghiệp quan trọng.

Viện đã làm chủ công nghệ tổng hợp và gia công vật liệu composite carbon-carbon dùng cho loa phụt động cơ tên lửa phòng không tầm thấp. Loại vật liệu này chịu được nhiệt độ trên 3.000 độ C và đã được ứng dụng trực tiếp trong công nghiệp quốc phòng. Bên cạnh đó, Phòng thí nghiệm Vật liệu và Công nghệ Hydrogen đi vào hoạt động năm 2024, giúp viện làm chủ công nghệ điện phân và pin nhiên liệu màng trao đổi proton công suất tới 1 kW. Chất xúc tác Pt/C và Pt-Co/C do viện tổng hợp đã qua kiểm định độc lập, cho kết quả tương đương sản phẩm thương mại của Johnson Matthey. Hợp kim lưu trữ hydro thể rắn nền magie của viện đạt dung lượng 6,0% khối lượng ở áp suất 50 bar.

PGS.TS Trần Quốc Tiến thay mặt Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
PGS.TS Trần Quốc Tiến thay mặt Viện Khoa học vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chi sẻ tại Hội thảo. Ảnh HC

Từ những kết quả đã có, Viện Khoa học vật liệu đang tập trung nguồn lực vào bốn hướng nghiên cứu gắn trực tiếp với nhu cầu phát triển công nghiệp. Ở lĩnh vực bán dẫn, viện phát triển GaN, SiC và vật liệu hai chiều, đồng thời đề xuất xây dựng phòng thí nghiệm chế tạo gương phản xạ UV đạt chuẩn công nghiệp, dự kiến phối hợp với nhà máy chip 32 nm của Viettel. Với đất hiếm, viện nghiên cứu công nghệ chiết tách, phân chia nguyên tố độ sạch cao từ sa khoáng ven biển, đồng thời phát triển nam châm NdFeB, SmCo và các hợp kim đặc chủng. Hai hướng còn lại tập trung vào vật liệu năng lượng mới, hydro, cùng nhóm composite và lớp phủ chức năng phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới.

Không dừng ở các hướng nghiên cứu chuyên ngành, viện cũng đang thay đổi phương thức tổ chức nghiên cứu bằng cách đưa công nghệ số và tự động hóa vào hoạt động khoa học. Từ tháng 1/2026, viện triển khai nhiệm vụ Phòng thí nghiệm tối, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và tự động hóa. Viện đồng thời vận hành hệ thống quản trị điện tử, thay thế trên 90% thủ tục hành chính truyền thống.

Những kết quả và định hướng trên cũng đặt ra yêu cầu về cơ chế tài chính, đầu tư và tổ chức nghiên cứu phù hợp hơn với đặc thù của công nghiệp vật liệu. Từ thực tiễn hoạt động, viện kiến nghị sáu nhóm giải pháp, trong đó nổi bật là đề xuất Bộ Khoa học và Công nghệ sớm thí điểm cấp kinh phí theo gói dựa trên năng lực và uy tín khoa học. Theo đề xuất, nhiệm vụ được thực hiện theo phương thức khoán chi toàn phần, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm và chấp nhận rủi ro đối với những hướng nghiên cứu mới.

Bên cạnh cơ chế tài chính, viện cũng đề nghị đưa hóa chất phục vụ thí nghiệm, nghiên cứu ra khỏi danh mục phải xin thủ tục, giấy phép chuyên biệt vốn áp cho hoạt động kinh doanh thông thường. Viện đồng thời đề nghị đầu tư các cụm phòng thí nghiệm liên thông từ vật liệu tới linh kiện để phục vụ công nghiệp vật liệu. Với mạng lưới hợp tác quốc tế hơn 40 tổ chức, viện đang thúc đẩy thành lập Trung tâm nghiên cứu xuất sắc về vật liệu tiên tiến dưới sự cố vấn của Giáo sư Konstantin S. Novoselov, người đoạt Giải Nobel Vật lý năm 2010.

Những đề xuất từ viện nghiên cứu bổ sung cho các kiến nghị về cơ chế, chính sách được đưa ra tại hội thảo, qua đó cho thấy yêu cầu không chỉ nằm ở nghiên cứu và công nghệ mà còn ở cách tổ chức nguồn lực để đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Từ cơ quan tham mưu, cơ quan quản lý đến viện nghiên cứu, các ý kiến tại hội thảo cùng gặp nhau ở một điểm: muốn nâng giá trị vật liệu, công nghiệp vật liệu Việt Nam phải làm chủ công nghệ để biến tài nguyên thành sản phẩm giá trị cao, biến kết quả phòng thí nghiệm thành hàng hóa và biến những dự án hạ tầng lớn thành thị trường nuôi dưỡng doanh nghiệp trong nước.

Hiền Ngô

Đường dẫn bài viết: https://dientuungdung.vn/muon-nang-gia-tri-cong-nghiep-vat-lieu-phai-lam-chu-cong-nghe-18455.html

In bài biết

Bản quyền thuộc Tạp chí Điện tử và Ứng dụng.