Đề xuất: Phân cấp kí thoả thuận hợp tác quốc tế nhằm hỗ trợ kịp thời chuỗi cúng ứng và sản xuất nông sản
Ngày 20/10, phiên thảo luận về Dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi), đại biểu đoàn Cần Thơ Tô Ái Vang đề nghị dự thảo Luật nghiên cứu bổ sung cơ chế phân cấp mạnh mẽ hơn, giao Chính phủ quy định quy trình rút gọn hoặc tạo không gian chủ động cho UBND cấp tỉnh trong việc ký kết các thỏa thuận quốc tế cấp địa phương, trực tiếp hỗ trợ chuỗi cung ứng, logistics và xúc tiến thương mại mang tính liên kết vùng.
Bổ sung bộ tiêu chí phân loại và nhận diện thỏa thuận quốc tế
Tại phiên thảo luận tổ, nữ đại biểu Đoàn Cần Thơ bày tỏ sự thống nhất với sự cần thiết sửa đổi luật nhằm khắc phục các vướng mắc, bất cập hiện hành trong thể chế hóa đường lối đối ngoại của Đảng. Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi) bảo đảm tính chặt chẽ và khả thi, bà Tô Ái Vang kiến nghị 3 nhóm ý kiến:
Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1), nữ đại biểu đoàn Cần Thơ đề xuất 2 kiến nghị: Thứ nhất, làm rõ ranh giới giữa thỏa thuận quốc tế và hợp đồng dân sự, thương mại: Thực tiễn hiện nay, các doanh nghiệp, hợp tác xã và hiệp hội ngành hàng khi ký hợp đồng mua bán, hợp tác kinh doanh có yếu tố nước ngoài thường lúng túng, dễ nhầm lẫn giữa thỏa thuận quốc tế (thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này) với hợp đồng dân sự, thương mại (thuộc Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại).
![]() |
| Đại biểu Đoàn Cần Thơ Tô Ái Vang |
Nữ đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định rõ: Luật này không điều chỉnh các hợp đồng thương mại, đầu tư, thỏa thuận hợp tác kinh doanh thuần túy nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các tổ chức kinh tế và hiệp hội.
Thứ hai, đẩy mạnh phân cấp cho chính quyền địa phương. Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các vùng kinh tế trọng điểm, nhu cầu hợp tác quốc tế để thúc đẩy xuất khẩu nông sản, phát triển logistics, kiểm dịch và bảo hộ thương hiệu mang tính đặc thù và vô cùng cấp thiết.
Nữ Đại biểu Tô Ái Vang đề nghị dự thảo Luật nghiên cứu bổ sung cơ chế phân cấp mạnh mẽ hơn, giao Chính phủ quy định quy trình rút gọn hoặc tạo không gian chủ động cho UBND cấp tỉnh trong việc ký kết các thỏa thuận quốc tế ở cấp địa phương, nhằm trực tiếp hỗ trợ chuỗi cung ứng, logistics và xúc tiến thương mại mang tính liên kết vùng.
Về thực hiện thỏa thuận quốc tế và trách nhiệm của các cơ quan (Chương V), nữ đại biểu đoàn Tô Ái Vang đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định về trách nhiệm của Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương và các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc chủ động, kịp thời triển khai các biện pháp hỗ trợ, bảo hộ cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức kinh tế, hợp tác xã, hiệp hội ngành hàng Việt Nam khi phát sinh tranh chấp quốc tế.
![]() |
| Ngày 20/10, Quốc hội thảo luận nhiều dự án luật thuộc lĩnh vực tư pháp, kinh tế |
Về nguyên tắc ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế, tại Khoản 3 Điều 3 quy định việc ký kết thỏa thuận quốc tế không được làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế và không được ký kết thỏa thuận quốc tế về các vấn đề phải thực hiện thông qua điều ước quốc tế.
Tuy nhiên, theo đại biểu, thực tiễn vừa qua cho thấy có tình trạng các bên cố tình thay đổi tên gọi văn bản hoặc lợi dụng kẽ hở thủ tục để né tránh quy trình phê duyệt nghiêm ngặt, dẫn đến nguy cơ ký kết các thỏa thuận có nội dung hỗn hợp mang tính chất của điều ước quốc tế, làm phát sinh nghĩa vụ của Nhà nước.
Để quy định tại Điều 3 không dừng lại ở nguyên tắc chung, đại biểu Đoàn Cần Thơ kiến nghị dự thảo Luật cần bổ sung bộ tiêu chí phân loại và nhận diện thỏa thuận quốc tế rõ ràng. Đồng thời, giao Chính phủ quy định cụ thể cơ chế xử lý nghiêm và giải pháp khắc phục khi phát sinh trường hợp trong quá trình đàm phán, thực hiện thỏa thuận có chứa nội dung vượt quá thẩm quyền hoặc mang tính chất của điều ước quốc tế.
Ưu tiên nguồn lực cho các hoạt động đối ngoại nhân dân nhằm đạt được nhiều thành tựu hơn nữa
Từ thực tiễn công tác trước đây tại Thành phố Sơn La và huyện Mai Sơn (tỉnh Sơn La), các địa phương đều đã triển khai các hoạt động kết nghĩa với các huyện của nước bạn Lào, cũng như qua chuyến công tác gần đây cùng Ủy ban Quốc phòng và An ninh (nay là Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại) tại 4 tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, đại biểu Quàng Văn Hương đoàn Sơn La cho biết, trong dự thảo đã có sự phân định rõ ràng giữa hai nhóm xã về thẩm quyền ký kết thỏa thuận quốc tế.
Cụ thể đối với nhóm xã biên giới, theo quy định tại Điều 2 và khoản 7 Điều 3 dự thảo Luật, xã biên giới được phép ký kết thỏa thuận quốc tế.
Đối với nhóm xã nội địa (xã khác), việc ký kết thỏa thuận quốc tế của các xã này sẽ do Chính phủ quy định cụ thể.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 dự thảo Luật và Điều 10 dự thảo Nghị định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định các nội dung do Ủy ban nhân dân cấp xã ký kết thỏa thuận quốc tế nhân danh chính quyền địa phương.
![]() |
| Đại biểu Quàng Văn Hương của Đoàn Sơn La (Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội) |
Nhất trí với việc tách thành hai nhóm xã nêu trên. Trong đó, việc giao nhiệm vụ cụ thể cho các xã biên giới là rất rõ ràng. Tuy nhiên, đối với các xã khác, đại biểu kiến nghị cần xem xét thêm yếu tố kế thừa thực tiễn kết nghĩa, hợp tác trước đây.
Theo đại biểu Quàng Văn Hương, trước đây các địa phương thường triển khai kết nghĩa theo cấp tương đương (tỉnh với tỉnh, huyện với huyện). Chẳng hạn, trước đây Thành phố Sơn La ký kết nghĩa với huyện Xam Neua (tỉnh Houaphanh, Lào); huyện Mai Sơn ký với huyện Xiengkho. Hiện nay, khi sắp xếp đơn vị hành chính và điều chỉnh mô hình, các nội dung trước đây do cấp huyện ký kết chủ yếu được giao lại cho một xã biên giới thực hiện. Điều này vô hình trung tạo áp lực lớn lên xã biên giới, vốn là địa bàn còn nhiều khó khăn khiến việc duy trì các nội dung hợp tác khó đạt hiệu quả cao. Trong khi đó, các xã trung tâm (xã nội địa) có điều kiện, nguồn lực hơn thì lại không thuộc đối tượng trực tiếp được ký kết.
Để tháo gỡ vấn đề này, đại biểu Đoàn Sơn La đề nghị cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu kỹ thực tiễn các thỏa thuận, quan hệ hợp tác đã ký kết trước đây (đặc biệt là với nước bạn Lào) để có cơ chế kế thừa phù hợp. “Nếu không giao cho xã biên giới đảm nhiệm toàn bộ, có thể chuyển giao về cấp tỉnh quản lý, sau đó cấp tỉnh phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho các xã (bao gồm cả xã biên giới và xã nội địa) tùy theo tính chất công việc (như giao lưu, thăm thân, hợp tác đối ngoại nhân dân”- đại biểu đoàn Sơn La nói.
Về phạm vi áp dụng và bảo đảm nguồn lực thực hiện trong dự thảo, đại biểu kiến nghị cần làm rõ quy định này chỉ áp dụng đối với các xã biên giới đất liền. Cụ thể, theo Nghị định số 140/2004/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 34/2014/NĐ-CP) về quy chế khu vực biên giới đất liền, hiện nay cả nước có 248 xã biên giới đất liền thuộc 22 tỉnh. Đối với các xã biên giới biển (310 xã thuộc 21 tỉnh), do đặc thù đối ứng quốc tế không tương đồng ở cấp xã nên quy định này không áp dụng. Dự thảo cần thể hiện thật rõ ràng phạm vi áp dụng trong phạm vi 248 xã biên giới đất liền này.
Cũng theo đại biểu Đoàn Sơn La, trong số 248 xã biên giới đất liền, có đến 204 xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó gồm 175 xã khu vực III và 17 xã khu vực II. Như thế, các xã thuộc khu vực II và III chiếm 77% tổng số xã biên giới đất liền và chiếm 94% số xã biên giới vùng dân tộc thiểu số. Hầu hết các xã biên giới đất liền đều là các xã đặc biệt khó khăn. Khi giao thêm nhiệm vụ đối ngoại cho cấp xã, bắt buộc phải bố trí thêm nguồn lực (cả về con người lẫn kinh phí thực hiện). Cơ quan chủ trì soạn thảo cần rà soát kỹ địa bàn, xác định rõ mức độ đầu tư và dự toán ngân sách chi cho các hoạt động đối ngoại của các xã này theo nguyên tắc: "Giao nhiệm vụ phải gắn liền với giao nguồn lực".
Đại biểu Đoàn Sơn La Quàng Văn Hương đề xuất cần nên ưu tiên nguồn lực cho hoạt động đối ngoại nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân hai bên biên giới qua lại thăm thân, giao lưu văn hóa, giữ gìn mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời giữa các bản giáp biên. Đặc biệt là với nước bạn Lào, nơi nhân dân hai bên đã có truyền thống đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau qua các thời kỳ.
Đình Đề


