Đề xuất tăng lương tối thiểu vùng 7,8%, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

11:20 | 22/08/2026

Bộ Nội vụ đề xuất lương tối thiểu vùng tăng bình quân 7,8% từ 1/1/2027, vùng I lên 5,7 triệu đồng, đồng thời sửa Nghị định 145 về tiền lương làm thêm giờ.

Thực trạng và đề xuất cải cách chính sách tiền lương tại Việt Nam Thực trạng và đề xuất cải cách chính sách tiền lương tại Việt Nam
Từ 1/7, tăng lương cơ sở, lương hưu và trợ cấp như thế nào? Từ 1/7, tăng lương cơ sở, lương hưu và trợ cấp như thế nào?
Thanh tra chỉ ra loạt thiếu sót tài chính tại Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội Thanh tra chỉ ra loạt thiếu sót tài chính tại Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội

Lương tối thiểu vùng năm 2027 dự kiến tăng bình quân 7,8%, đồng thời quy định về tiền lương làm thêm giờ cũng bước vào đợt sửa đổi. Bộ Nội vụ vừa trả lời kiến nghị của cử tri Thành phố Hồ Chí Minh gửi tới sau Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, làm rõ định hướng chính sách tiền lương đối với người lao động khu vực doanh nghiệp.

Trước đó, cử tri kiến nghị cơ quan quản lý quan tâm nghiên cứu chính sách điều chỉnh tiền lương phù hợp với biến động giá cả thị trường, bảo đảm đời sống thực tế của người lao động.

Nhà nước giữ mức sàn, doanh nghiệp tự chủ thang bảng lương

Theo Bộ Nội vụ, hệ thống tiền lương đối với người lao động tại Việt Nam đã thể chế hóa theo nguyên tắc thị trường ngay trong Bộ luật Lao động năm 2019. Tiền lương hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, gắn với năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc.

Cùng với đó, pháp luật bảo đảm quyền tự chủ của doanh nghiệp trong việc xây dựng, quyết định thang lương, bảng lương, xác định tiền lương và trả lương thỏa đáng cho người lao động.

Một nội dung đáng chú ý với khối điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin là chính sách không hạn chế mức tối đa đối với chuyên gia, người có tài năng, người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, nhằm giữ chân và thu hút nhân lực chất lượng cao.

Với các doanh nghiệp bán dẫn, phần mềm hay tự động hóa đang cạnh tranh gay gắt để tuyển kỹ sư giỏi, quy định mở về mức trần tạo dư địa trả lương theo mặt bằng khu vực và xây dựng thang lương riêng cho đội ngũ nghiên cứu phát triển.

Công nhân sản xuất điện tử thuộc diện áp dụng lương tối thiểu vùng 2027
Công nhân sản xuất điện tử thuộc diện áp dụng lương tối thiểu vùng 2027

Ở chiều ngược lại, Nhà nước chỉ quy định mức lương tối thiểu, tức mức lương thấp nhất trả cho người làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường.

Việc điều chỉnh mức sàn căn cứ vào mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, tương quan với mặt bằng lương thị trường, chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế, quan hệ cung cầu lao động, năng suất lao động cùng khả năng chi trả của doanh nghiệp.

Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểu trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương quốc gia. Căn cứ Quyết định số 001/QĐ-HĐTLQG về Kế hoạch hoạt động năm 2026, Hội đồng đã tổ chức họp thảo luận, thương lượng về mức lương tối thiểu năm 2027.

Bộ Nội vụ với vai trò thành viên Hội đồng đã phối hợp rà soát, đánh giá các yếu tố liên quan để khuyến nghị Chính phủ xem xét điều chỉnh. Sau thương lượng, Hội đồng gửi báo cáo lên Chính phủ, khuyến nghị mức lương tối thiểu tăng bình quân 7,8% kể từ ngày 1/1/2027.

Hiện Bộ Nội vụ đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định mức lương tối thiểu áp dụng với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Dự thảo đề xuất mức lương tối thiểu tháng theo 4 vùng, trong đó vùng I là 5.700.000 đồng, vùng II là 5.080.000 đồng, vùng III là 4.450.000 đồng và vùng IV là 4.040.000 đồng.

So với mức lương tối thiểu hiện hành, các mức nêu trên tăng thêm từ 310.000 đồng tới 390.000 đồng mỗi tháng. Khoảng cách giữa vùng I và vùng IV vẫn giữ ở mức 1.660.000 đồng, phản ánh chênh lệch chi phí sinh hoạt giữa đô thị lớn và địa bàn nông thôn.

Cùng với mức lương tháng, dự thảo quy định các mức lương tối thiểu giờ tăng tương ứng theo 4 vùng, gồm vùng I là 27.400 đồng, vùng II là 24.400 đồng, vùng III là 21.400 đồng và vùng IV là 19.400 đồng. Chênh lệch giữa vùng cao nhất và vùng thấp nhất ở thang giờ là 8.000 đồng.

Nhìn lại 5 năm gần đây, lộ trình điều chỉnh không diễn ra đều đặn. Năm 2021 mức sàn tăng khoảng 5,5%, năm 2022 tăng 6%, năm 2023 giữ nguyên, năm 2024 tăng 6%, năm 2025 tiếp tục giữ nguyên và năm 2026 tăng 7,2%. Mức đề xuất 7,8% vì vậy là biên độ cao nhất trong chuỗi 6 năm.

Chấm công điện tử giúp minh bạch tiền lương làm thêm giờ

Chính sách tiền lương khu vực doanh nghiệp hiện thực hiện theo Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định số 145/2020/NĐ-CP về điều kiện lao động và quan hệ lao động.

Tại báo cáo sơ kết 5 năm triển khai Nghị định 145, Bộ Nội vụ đánh giá các quy định về hình thức trả lương đã rõ ràng, tạo hành lang để doanh nghiệp lựa chọn phương thức phù hợp với đặc điểm sản xuất, gồm trả lương theo thời gian, theo sản phẩm hoặc theo khoán.

Số liệu điều tra chuyên đề về lao động, tiền lương và đời sống người lao động năm 2025 của Bộ Nội vụ cho thấy cơ cấu khá đơn điệu. Trong 2.773 doanh nghiệp thuộc diện khảo sát, có 2.732 đơn vị trả lương tháng, chiếm 98,5%.

Số doanh nghiệp trả lương theo giờ chỉ là 10 đơn vị, chiếm 0,4%. Trả lương theo sản phẩm và trả lương khoán mỗi loại có 15 đơn vị, cùng chiếm 0,5%. Duy nhất 1 doanh nghiệp chọn hình thức khác. Bộ Nội vụ nhận định kết quả phản ánh xu hướng duy trì lực lượng lao động lâu dài và sự ổn định tương đối của thị trường.

Về tiền lương làm thêm giờ, quy định hiện hành xác định rõ mức trả theo từng thời điểm. Ngày làm việc bình thường tương ứng ít nhất 150%, ngày nghỉ hằng tuần ít nhất 200% và ngày lễ, Tết ít nhất 300%, bù đắp tương xứng với cường độ lao động tăng thêm.

Các quy định về tiền lương khi làm việc vào ban đêm cũng bảo đảm chế độ đãi ngộ phù hợp với người lao động làm việc trong điều kiện đặc thù về thời gian, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp bố trí ca kíp hợp lý.

Tuy vậy, một số vướng mắc đã xuất hiện sau thời gian thực hiện. Bộ Nội vụ dẫn chứng tiền lương doanh nghiệp chi trả thường gồm nhiều khoản, từ lương theo công việc hoặc chức danh tới phụ cấp và các khoản bổ sung. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội và tiền lương thực trả cũng khác biệt nhất định.

Vì vậy, một số doanh nghiệp còn lúng túng khi xác định, thậm chí cố tình xác định tiền lương thực trả thấp hơn thực tế để làm căn cứ tính lương làm thêm giờ. Việc theo dõi, tổng hợp thời gian làm thêm giờ và ca đêm tại một số nơi cũng chưa chặt chẽ, trong khi việc niêm yết công khai cách tính còn hạn chế.

Đây chính là điểm công nghệ quản trị nhân sự phát huy vai trò. Hệ thống chấm công điện tử kết nối phần mềm tính lương cho phép lưu vết toàn bộ thời gian làm thêm giờ và ca đêm theo từng người lao động, loại bỏ sai lệch khi tổng hợp thủ công.

Nền tảng quản trị nhân sự hiện đại còn cho phép doanh nghiệp công khai công thức tính lương làm thêm giờ trên cổng thông tin nội bộ, để mỗi người lao động tự đối chiếu số giờ và số tiền thực nhận.

Việc đồng bộ dữ liệu tiền lương của doanh nghiệp với dữ liệu đóng bảo hiểm xã hội, trong bối cảnh cơ sở dữ liệu quốc gia đang mở rộng kết nối, sẽ thu hẹp khoảng cách giữa mức lương khai báo và mức lương thực trả, giảm tranh chấp lao động ngay từ gốc.

Từ kết quả đánh giá tình hình thực hiện Nghị định số 145 và những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn, Bộ Nội vụ đang đề xuất xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 145, nhằm giải quyết các vướng mắc và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về lao động.

Đình Tưởng

Đường dẫn bài viết: https://dientuungdung.vn/de-xuat-tang-luong-toi-thieu-vung-78-doanh-nghiep-can-luu-y-gi-17643.html

In bài biết

Bản quyền thuộc Tạp chí Điện tử và Ứng dụng.