Ứng dụng công nghệ số nâng cao hiệu quả công tố, kiểm sát qua vụ án ma túy VN10
Vụ án ma túy liên quan đến các tiếp viên hàng không, được xác lập thành chuyên án VN10, là một trong những vụ án có quy mô đặc biệt lớn được xét xử tại Thành phố Hồ Chí Minh. Với 227 bị cáo và hệ thống chứng cứ phức tạp, việc số hóa, hệ thống hóa hồ sơ đã hỗ trợ Kiểm sát viên trong nghiên cứu, đánh giá, đối chiếu chứng cứ và thực hành quyền công tố tại phiên tòa.
Thực tiễn từ chuyên án cho thấy, ứng dụng công nghệ trong công tác công tố, kiểm sát không chỉ dừng ở việc chuyển hồ sơ giấy sang dạng điện tử, mà đang từng bước làm thay đổi phương pháp quản lý, khai thác và đánh giá chứng cứ.
![]() |
| Ảnh minh họa. |
Số hóa hồ sơ, thay đổi phương pháp công tố
Bà Huỳnh Thị Ngọc Hoa, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, ngay sau khi chuyên án VN10 được khởi tố, lãnh đạo Viện đã chỉ đạo xây dựng hồ sơ kiểm sát điện tử; đồng thời phân công Kiểm sát viên phối hợp với Cơ quan điều tra cập nhật, số hóa và hệ thống hóa chứng cứ ngay từ giai đoạn điều tra.
Điểm quan trọng của quá trình này không nằm ở việc đơn thuần chuyển tài liệu giấy thành các tệp điện tử, mà ở cách tổ chức lại toàn bộ hồ sơ để phục vụ hoạt động công tố, kiểm sát. Tài liệu được phân loại theo từng vụ án, từng bị cáo, nhóm hành vi, tội danh và từng vấn đề cần chứng minh.
Cách tổ chức dữ liệu theo cấu trúc rõ ràng giúp Kiểm sát viên rút ngắn thời gian tìm kiếm, đồng thời kiểm soát tốt hơn mối liên hệ giữa các nhóm chứng cứ. Khi nghiên cứu hồ sơ, Kiểm sát viên có thể nhanh chóng tra cứu, đối chiếu lời khai, kết luận giám định, dữ liệu điện tử, tài liệu ngân hàng và các chứng cứ liên quan.
Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với VN10, khi vụ án được mở rộng điều tra từ vụ việc 4 nữ tiếp viên hàng không vận chuyển ma túy từ Pháp về Việt Nam qua sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.
Ngày 16/3/2023, lực lượng Hải quan sân bay phát hiện 327 tuýp kem đánh răng trong hành lý của 4 nữ tiếp viên, trong đó 157 tuýp chứa hơn 11kg ma túy. Từ vụ việc này, cơ quan chức năng xác lập chuyên án VN10, tiếp tục truy xét và làm rõ từng mắt xích trong đường dây.
Theo hồ sơ vụ án, đường dây được tổ chức thành nhiều tầng, với dòng tiền giao dịch gần 29.000 tỷ đồng. Hơn 2.700 bị can bị khởi tố trong 477 vụ án, riêng chuyên án VN10 có 227 bị cáo. Các đối tượng sử dụng nhiều thủ đoạn để che giấu hoạt động phạm tội như ngụy trang ma túy trong hàng hóa, sử dụng dịch vụ gom hàng, chuyển phát nhanh quốc tế, các ứng dụng nhắn tin có tính bảo mật cao và tài khoản ngân hàng không chính chủ.
Ngày 3/9, sau gần 20 ngày xét xử, tranh luận và nghị án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên án đối với 227 bị cáo trong chuyên án VN10. Hội đồng xét xử tuyên phạt tử hình 11 bị cáo cùng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 20 bị cáo khác nhận án tù chung thân về cùng tội danh. Các bị cáo còn lại nhận mức án từ 1 năm 6 tháng tù treo đến 29 năm tù về nhiều tội danh.
Trong một vụ án có số lượng bị cáo lớn, nhiều nhóm hành vi và khối lượng chứng cứ đồ sộ, việc số hóa và hệ thống hóa dữ liệu giúp Kiểm sát viên chủ động hơn trong quá trình chuẩn bị và thực hiện công tố tại phiên tòa.
Hồ sơ điện tử cho phép truy xuất nhanh các tài liệu liên quan đến từng bị cáo, từng hành vi và từng vấn đề cần chứng minh. Qua đó, việc xét hỏi, tranh luận và đối đáp có thể được thực hiện trên cơ sở kiểm tra, đối chiếu trực tiếp giữa nhiều nguồn chứng cứ.
Khai thác dữ liệu để đánh giá chứng cứ
Ông Đinh Quốc Dũng, Phó Trưởng phòng Công tố và Kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án an ninh, ma túy (Phòng 1), Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, hồ sơ điện tử được hệ thống theo từng vụ án, từng bị cáo, nhóm hành vi và từng vấn đề cần chứng minh. Những tài liệu quan trọng được lập danh mục, đánh dấu và liên kết với lời khai, vật chứng, kết luận giám định và dữ liệu điện tử.
Trong quá trình xét hỏi, tranh luận, Kiểm sát viên có thể nhanh chóng truy xuất tài liệu để đối chiếu lời khai của bị cáo. Đối với những vấn đề có mâu thuẫn, nhiều nguồn chứng cứ được kiểm tra đồng thời, qua đó xác định diễn biến vụ án theo thời gian và vai trò của từng người.
Một trong những yêu cầu quan trọng của VN10 là cá thể hóa trách nhiệm đối với 227 bị cáo. Hồ sơ điện tử được xây dựng theo hướng không đánh giá chung toàn bộ đường dây, mà xác định cụ thể hành vi, thời gian tham gia, loại và khối lượng ma túy, vai trò, chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội và các tình tiết liên quan của từng bị cáo.
Cách tổ chức này giúp Kiểm sát viên kiểm soát chặt chẽ hơn căn cứ truy tố, đồng thời đề nghị mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi của từng người. Công nghệ vì vậy trở thành công cụ hỗ trợ quá trình cá thể hóa trách nhiệm, thay vì chỉ phục vụ việc lưu trữ hồ sơ.
Đáng chú ý, dữ liệu điện tử không được sử dụng một cách riêng lẻ. Việc đánh giá chứng cứ vẫn phải dựa trên nguyên tắc đối chiếu giữa nhiều nguồn khác nhau, gồm lời khai, vật chứng, kết luận giám định, dữ liệu liên lạc, giao dịch ngân hàng và các tài liệu khách quan khác.
Khi cần thiết, tài liệu được trình chiếu hoặc công bố để các bên cùng kiểm tra và phát biểu ý kiến. Điều này góp phần nâng cao tính trực quan, minh bạch trong quá trình tranh tụng, đồng thời giúp Kiểm sát viên chủ động xử lý những vấn đề phát sinh tại phiên tòa.
Trường hợp 4 nữ tiếp viên hàng không là một ví dụ về vai trò của việc đối chiếu nhiều nguồn dữ liệu. Cơ quan tiến hành tố tụng đã kiểm tra lời khai với dữ liệu điện thoại, nội dung liên lạc trên Viber, tài khoản ngân hàng, lịch trình chuyến bay, quá trình nhận hàng, chia hàng vào 4 vali và mức tiền công thỏa thuận. Kết quả xác minh cho thấy các tiếp viên nhận vận chuyển hàng hóa thuê nhưng không biết bên trong có ma túy, không đủ căn cứ xác định lỗi cố ý nên không bị xử lý hình sự.
Theo ông Nguyễn Đình Thi, Kiểm sát viên trung cấp, Phòng Công tố và Kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án an ninh, ma túy (Phòng 1), Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, việc ứng dụng công nghệ và khai thác dữ liệu điện tử không chỉ phục vụ chứng minh tội phạm mà còn giúp kiểm tra chứng cứ gỡ tội, bảo đảm không làm oan người không có hành vi phạm tội.
Thực tiễn từ chuyên án VN10 cho thấy, giá trị của công nghệ trong công tác công tố, kiểm sát được thể hiện rõ nhất khi công nghệ gắn trực tiếp với yêu cầu kiểm tra và đánh giá chứng cứ. Dữ liệu càng lớn, quan hệ giữa các chứng cứ càng phức tạp thì yêu cầu tổ chức dữ liệu khoa học càng trở nên cần thiết.
Tuy nhiên, số hóa hồ sơ cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với hệ thống và đội ngũ thực hiện. Dữ liệu phải được số hóa chính xác; hệ thống, thiết bị và đường truyền phải ổn định, đồng thời có phương án dự phòng để bảo đảm hoạt động xét hỏi, tranh tụng không bị gián đoạn.
Kiểm sát viên cũng cần được trang bị kỹ năng công nghệ và tư duy xử lý dữ liệu, nhưng không thể phụ thuộc vào công nghệ. Sự am hiểu hồ sơ, khả năng lập luận, bản lĩnh tranh tụng và trách nhiệm của người thực hành quyền công tố vẫn là yếu tố quyết định.
Từ VN10, có thể thấy số hóa hồ sơ đang mở ra phương thức mới trong tổ chức và khai thác chứng cứ, góp phần nâng cao hiệu quả công tác công tố, kiểm sát. Công nghệ giúp Kiểm sát viên tiếp cận và kiểm soát khối lượng dữ liệu lớn nhanh hơn, nhưng mỗi lập luận tại phiên tòa vẫn phải được xây dựng trên những chứng cứ hợp pháp, được kiểm tra công khai và đối đáp đầy đủ.
Đây cũng là hướng tiếp cận cho thấy chuyển đổi số trong lĩnh vực tư pháp không chỉ là câu chuyện về hạ tầng kỹ thuật, mà còn gắn với đổi mới phương pháp làm việc, nâng cao chất lượng xử lý dữ liệu và năng lực thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ tư pháp.
Hậu Thạch
