341/451 sản phẩm công nghệ nông nghiệp vẫn ở giai đoạn nghiên cứu

14:40 | 28/10/2026

Trong 451 sản phẩm khoa học, công nghệ nông nghiệp được tổng hợp từ 34 địa phương, có 341 sản phẩm vẫn ở giai đoạn nghiên cứu, chiếm khoảng 76%.

Hải Phòng nhận hồ sơ hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đến 30/11 Hải Phòng nhận hồ sơ hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đến 30/11
Khoa học công nghệ và chuyển đổi số: Đòn bẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp và Môi trường Khoa học công nghệ và chuyển đổi số: Đòn bẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp và Môi trường
Thủ tướng Lê Minh Hưng kêu gọi hợp lực quốc tế, tạo đột phá về công nghệ chiến lược Thủ tướng Lê Minh Hưng kêu gọi hợp lực quốc tế, tạo đột phá về công nghệ chiến lược

Sáng 27/10/2026 tại Hà Nội, hội nghị về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp công bố số liệu cho thấy khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng. Sự kiện do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Bộ Công an tổ chức, với khoảng 450 đại biểu tham dự.

Theo Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Long, kết quả tổng hợp từ 34 địa phương ghi nhận 916 nhiệm vụ gắn với 908 sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Riêng lĩnh vực nông nghiệp có 451 sản phẩm, chiếm gần một nửa danh sách được thống kê.

Trong số đó, 341 sản phẩm vẫn ở giai đoạn nghiên cứu, tương đương khoảng 76%. Tỷ lệ kết quả được đưa vào ứng dụng, thương mại hóa theo báo cáo mới đạt khoảng 24%. Đây là thống kê trong phạm vi danh sách do 34 địa phương báo cáo, không đại diện cho toàn bộ hoạt động nghiên cứu nông nghiệp cả nước.

Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Long phát biểu tại Hội nghị - Ảnh: chinhphu.vn/Gia Huy
Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Long phát biểu tại Hội nghị - Ảnh: chinhphu.vn/Gia Huy

Một số liệu khác cho thấy thách thức kết nối thị trường: trong 5 năm qua, chỉ khoảng 12% đề tài nghiên cứu có liên kết với doanh nghiệp, theo báo cáo tại hội nghị. Khi doanh nghiệp chưa tham gia từ khâu xác định nhu cầu, sản phẩm nghiên cứu có thể gặp khó trong thử nghiệm, tiếp nhận và tìm đầu ra thương mại.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ ra năm nhóm điểm nghẽn: sản xuất nhỏ lẻ; nghiên cứu và chuyển giao dàn trải; hạn chế về giống và công nghệ đầu vào; thiếu công nghệ bảo quản, chế biến sâu; dữ liệu chưa liên thông và nhân lực số còn yếu. Những vấn đề này làm nổi bật yêu cầu gắn nghiên cứu với nhu cầu sản xuất thực tế.

Ở chiều ngược lại, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã có mô hình thương mại hóa cụ thể. GS.TS. Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện, cho biết mô hình doanh nghiệp spin-off thương mại hóa sản phẩm kháng thể IgY cho vịt đã đạt doanh thu 12 tỷ đồng và mang lại khoản bản quyền 5% cho Học viện. Bà cũng nêu khó khăn về kinh phí sản xuất thử, định giá tài sản trí tuệ và cơ chế góp vốn.

Thứ trưởng Nguyễn Văn Long đề nghị lựa chọn các bài toán tăng trưởng ưu tiên, kết nối nhu cầu địa phương với viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu tháo gỡ vướng mắc về đặt hàng nhiệm vụ, thử nghiệm, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Theo chỉ đạo, trước ngày 15/11/2026, các địa phương phía bắc cần lựa chọn từ ba đến năm bài toán ưu tiên. Trước ngày 15/12, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phải hoàn thiện danh mục nhiệm vụ trọng tâm để triển khai trong quý I/2027. Những mốc này sẽ là cơ sở theo dõi tiến độ chuyển kết quả nghiên cứu thành giải pháp được doanh nghiệp, hợp tác xã sử dụng.

Đình Tưởng

Đường dẫn bài viết: https://dientuungdung.vn/341451-san-pham-cong-nghe-nong-nghiep-van-o-giai-doan-nghien-cuu-19182.html

In bài biết

Bản quyền thuộc Tạp chí Điện tử và Ứng dụng.