Khoa học công nghệ và chuyển đổi số: Đòn bẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp và Môi trường
Hội nghị “ Phát triển Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp và Môi trường”, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an (Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 57 Trung ương) tổ chức ngày 27/10 tại miền Bắc. Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng và Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Long đồng chủ trì Hội nghị.
![]() |
| Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng và Thượng tướng Nguyễn Văn Long - Thứ trưởng Bộ Công an chủ trì Hội nghị ( Ảnh: Khương Trung). |
Khoa học công nghệ, chuyển đổi số tạo động lực tăng trưởng
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh, trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến khó lường, cạnh tranh thương mại ngày càng gay gắt, các tiêu chuẩn xanh và yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe, cùng với những diễn biến bất thường của thiên tai và biến đổi khí hậu, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã nỗ lực duy trì đà tăng trưởng tích cực, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Thực tiễn sản xuất cho thấy, nhiều tiến bộ về giống, công nghệ sinh học, cơ giới hóa, bảo quản, chế biến và truy xuất nguồn gốc đã được ứng dụng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, ngành cần chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực then chốt, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Theo Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng, khu vực phía Bắc có nhiều lợi thế về hệ thống viện nghiên cứu, trường đại học, đội ngũ chuyên gia và doanh nghiệp công nghệ. Dù vậy, sự gắn kết giữa nghiên cứu và sản xuất vẫn còn rời rạc, chưa khai thác hiệu quả các nguồn lực khoa học công nghệ.
Vì vậy, Hội nghị cần tập trung đề xuất giải pháp phát huy nguồn lực nghiên cứu, giải quyết những điểm nghẽn trong sản xuất, chế biến và thị trường, tạo chuyển biến thực chất về năng suất, chất lượng và giá trị nông sản.
Những kết quả đạt được trong thời gian qua cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của khoa học công nghệ đối với tăng trưởng ngành. Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, giai đoạn 2021-2026, ngành tiếp tục đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực, tạo sinh kế và thúc đẩy xuất khẩu.
Năm 2025, ngành đạt mức tăng trưởng 3,78%, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 70,63 tỷ USD. Trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng đạt 4,02%, kim ngạch xuất khẩu đạt 56,3 tỷ USD.
Đáng chú ý, việc ứng dụng giống mới, công nghệ sinh học, cơ giới hóa và quy trình canh tác tiên tiến đã góp phần nâng năng suất các giống lúa mới khoảng 9,9%, tăng sản lượng ước 2,4 triệu tấn mỗi năm và tạo giá trị kinh tế gia tăng khoảng 12.000 tỷ đồng. Trong các lĩnh vực khác, nghiên cứu vắc xin thú y, phát triển giống cây lâm nghiệp, mở rộng nuôi trồng thủy sản và tăng tỷ trọng chế biến sâu cũng ghi nhận những kết quả tích cực.
Những con số này cho thấy dư địa đóng góp của khoa học công nghệ đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường còn rất lớn. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để các kết quả nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi hơn, đáp ứng trực tiếp nhu cầu sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và gia tăng giá trị sản phẩm.
Tháo gỡ 5 điểm nghẽn, đưa công nghệ vào thực tiễn
Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp chỉ ra 5 điểm nghẽn lớn đang cản trở quá trình phát triển khoa học công nghệ của ngành, gồm: sản xuất nhỏ lẻ, phân tán; nghiên cứu và chuyển giao công nghệ dàn trải; hạn chế về giống và công nghệ đầu vào; thiếu công nghệ bảo quản, chế biến sâu; dữ liệu chưa liên thông và nhân lực số còn yếu.
Các điểm nghẽn này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng ứng dụng công nghệ mà còn tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng, chi phí sản xuất và sức cạnh tranh của từng ngành hàng.
Trong chăn nuôi, khoảng 65% nguyên liệu thức ăn vẫn phải nhập khẩu, trong khi công nghệ hiện đại chủ yếu tập trung tại các trang trại lớn. Đối với thủy sản, tiềm năng nuôi biển chưa được khai thác hết do những hạn chế về giống, hạ tầng và liên kết thị trường.
![]() |
| Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng phát biểu về những thách thức và yêu cầu đổi mới để thúc đẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp và Môi trường - ( Ảnh: Khương Trung). |
Ở lĩnh vực lâm nghiệp, các chuỗi giá trị chủ lực như keo, tre nứa, quế vẫn gặp khó khăn về giống, sâu bệnh, công nghệ chế biến và tiêu chuẩn xuất khẩu. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu chưa được chuyển giao rộng rãi; liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp chưa chặt chẽ, khiến nhiều tiến bộ công nghệ chậm đi vào thực tiễn sản xuất.
Từ thực trạng này, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất tập trung nguồn lực vào những công nghệ có khả năng giải quyết trực tiếp các bài toán của từng ngành hàng, ưu tiên giống chất lượng cao, công nghệ sinh học, tự động hóa, chế biến sâu và truy xuất nguồn gốc.
Một trong những yêu cầu quan trọng là đổi mới phương thức nghiên cứu theo hướng lấy nhu cầu doanh nghiệp và thị trường làm điểm xuất phát. Nhiệm vụ khoa học công nghệ cần gắn với sản phẩm cụ thể, khả năng thương mại hóa và hiệu quả kinh tế; đồng thời tăng cường liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và địa phương.
Cách tiếp cận này hướng tới chuyển trọng tâm từ số lượng kết quả nghiên cứu sang hiệu quả ứng dụng. Công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi được đưa vào sản xuất, giúp giảm chi phí, nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị sản phẩm và tạo động lực tăng trưởng bền vững.
Về nhiệm vụ cụ thể, trong năm 2026, ngành Nông nghiệp và Môi trường dự kiến hoàn thành tuyển chọn, giao nhiệm vụ đối với các nhiệm vụ công nghệ chiến lược trong lĩnh vực nông nghiệp; chuẩn hóa danh mục 187 nhiệm vụ khoa học và công nghệ mở mới năm 2027 theo định hướng bảo đảm 100% nhiệm vụ có doanh nghiệp cam kết ứng dụng, tiếp nhận kết quả.
Cùng với đó, ngành sẽ hoàn thiện kiến trúc tổng thể và quy chế chia sẻ dữ liệu thuộc Không gian dữ liệu số ngành Nông nghiệp và Môi trường. Đây là một trong những nội dung quan trọng nhằm khắc phục tình trạng dữ liệu chưa liên thông, nâng cao khả năng khai thác và sử dụng dữ liệu phục vụ quản lý, sản xuất và phát triển thị trường.
Trong giai đoạn 2027-2030, các nhiệm vụ trọng tâm gồm triển khai truy xuất nguồn gốc số đối với những chuỗi sản phẩm ưu tiên, phát triển các trung tâm logistics nông sản công nghệ cao và tổ chức đánh giá giữa kỳ việc thực hiện đề án chuyển đổi số vào năm 2028. Kết quả đánh giá sẽ là cơ sở để điều chỉnh nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế triển khai và nhân rộng các mô hình, giải pháp có hiệu quả.
Thực tế cho thấy, để khoa học công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng, ngành Nông nghiệp và Môi trường cần đồng thời giải quyết các hạn chế về công nghệ đầu vào, năng lực chế biến, kết nối dữ liệu và cơ chế chuyển giao kết quả nghiên cứu. Trong đó, liên kết chặt chẽ giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất sẽ quyết định khả năng đưa các thành tựu nghiên cứu vào thực tiễn, tạo giá trị kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Có thể bạn quan tâm
Công chức cấp xã kiêm nhiệm chuyển đổi số được xét hỗ trợ khi nào?
Chính sách số
Tháng 12/2026, phải hoàn thành chính sách điện mặt trời và BESS
Chính sách số
Số hóa dữ liệu đất đai mở đường cho quản lý minh bạch
Chính sách số

