Doanh nghiệp nào có thể được Nhà nước thoái vốn?

18:45 | 03/09/2026

Khung phân loại sở hữu mới cùng thời hạn hoàn thành kế hoạch cơ cấu vốn đang tạo sức ép hành động đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước. Tuy nhiên, tỷ lệ sở hữu cao chưa đồng nghĩa cổ phần sẽ được bán ngay.

SCIC công bố danh sách bán vốn đợt 1 năm 2023 Thanh tra Chính phủ chỉ ra loạt vi phạm trong thoái vốn Nhà nước tại các Tổng Công ty Intel thoái vốn khỏi Arm Holdings: dấu hiệu của cuộc tái cấu trúc lớn
Doanh nghiệp nào có thể được Nhà nước thoái vốn?
Nhà máy Lọc dầu Dung Quất là một trong những tài sản quy mô lớn gắn với doanh nghiệp nhà nước đang đứng trước yêu cầu cơ cấu lại tỷ lệ sở hữu (Ảnh: Đ.T).

Khung tỷ lệ sở hữu mới tạo sức ép hành động

Làn sóng thoái vốn nhà nước được kỳ vọng tăng tốc sau khi Chính phủ hoàn thiện thêm các tiêu chí phân loại doanh nghiệp và ấn định thời hạn lập kế hoạch cơ cấu vốn giai đoạn 2026–2030. Trọng tâm của quá trình này không phải bán vốn bằng mọi giá, mà xác định rõ Nhà nước cần nắm giữ doanh nghiệp nào, tỷ lệ bao nhiêu và phần vốn nào có thể chuyển giao cho thị trường.

Ngày 5/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg về tiêu chí phân loại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn nhà nước. Quyết định có hiệu lực ngay trong ngày ban hành, trở thành căn cứ để các cơ quan đại diện chủ sở hữu xây dựng phương án cho từng doanh nghiệp.

Hai ngày sau, Công điện số 52/CĐ-TTg yêu cầu các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình lập kế hoạch. Các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ phải hoàn thành kế hoạch cơ cấu phần vốn đầu tư tại doanh nghiệp khác trước ngày 31/8/2026. Người đại diện vốn nhà nước cũng phải tham gia biểu quyết kế hoạch cơ cấu vốn tại công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn trong thời hạn này.

Bộ Tài chính thúc đẩy chấm điểm tự động giải ngân đầu tư công bằng dữ liệu số
Bộ Tài chính thúc đẩy chấm điểm tự động giải ngân đầu tư công bằng dữ liệu số

Bộ Tài chính được giao tổng hợp tình hình ban hành kế hoạch trên phạm vi cả nước, báo cáo Thủ tướng trong quý IV/2026. Mốc thời gian cụ thể cho thấy quá trình cơ cấu vốn đã chuyển từ xây dựng thể chế sang giai đoạn tổ chức thực hiện. Quyết định 40/2026/QĐ-TTg, Công điện 52/CĐ-TTg.

Quyết định 40 phân doanh nghiệp theo những khung sở hữu khác nhau. Nhà nước tiếp tục nắm toàn bộ vốn tại các ngành, lĩnh vực gắn với quốc phòng, an ninh, độc quyền tự nhiên, dịch vụ công ích thiết yếu và một số hạ tầng quan trọng.

Một số lĩnh vực như ngân hàng, hàng không, cảng hàng không, cơ khí chế tạo, phân bón và cấp thoát nước thuộc diện Nhà nước nắm từ 65% vốn điều lệ trở lên. Các đầu mối nhập khẩu xăng dầu có thị phần lớn và một số dịch vụ viễn thông sở hữu hạ tầng mạng trọng yếu có thể thuộc khung Nhà nước nắm trên 50% nhưng dưới 65%.

Phần vốn đang nắm giữ cao hơn tỷ lệ cần thiết tạo ra dư địa thoái vốn. Ngược lại, doanh nghiệp chưa đạt tỷ lệ tối thiểu có thể phải tăng phần sở hữu nhà nước. Vì vậy, cơ cấu vốn trong giai đoạn tới sẽ diễn ra theo cả hai chiều, thay vì chỉ bao gồm việc bán cổ phần.

Nguồn hàng lớn có thể xuất hiện trên thị trường

Công ty Chứng khoán BIDV, viết tắt là BSC, thống kê nhiều doanh nghiệp niêm yết đang có tỷ lệ sở hữu nhà nước ở mức cao. Tại ngày 31/12/2025, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam, mã ACV, có vốn hóa khoảng 175.935 tỷ đồng và tỷ lệ sở hữu nhà nước 95,4%.

Tổng công ty Khí Việt Nam, mã GAS, có vốn hóa khoảng 174.698 tỷ đồng, Nhà nước sở hữu 95,8%. Tỷ lệ này tại Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, mã GVR, là 96,8%; Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn, mã BSR, là 92,1%; Tổng công ty Phát điện 3, mã PGV, là 99,2%.

Trong lĩnh vực xăng dầu, tỷ lệ sở hữu nhà nước tại Petrolimex ở mức khoảng 75,9%. Nếu doanh nghiệp được áp dụng khung sở hữu trên 50% đến dưới 65%, phần chênh lệch có thể tạo dư địa cho một đợt giảm vốn nhà nước.

Tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, tỷ lệ sở hữu nhà nước lần lượt khoảng 74,8% và 79,6%. Khung tối thiểu 65% cho phép các ngân hàng này có thể mở rộng vốn từ cổ đông khác, với điều kiện Nhà nước vẫn duy trì quyền chi phối.

Becamex IDC, mã BCM, cũng nằm trong nhóm được thị trường theo dõi khi cổ đông nhà nước đang sở hữu khoảng 95,4% vốn. Doanh nghiệp đã kiến nghị cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt lộ trình đưa tỷ lệ này xuống trên 65% trong giai đoạn 2026–2030.

Các số liệu trên cho thấy lượng cổ phần có thể được đưa ra thị trường tương đối lớn. Tuy nhiên, nhà đầu tư không nên mặc định mọi doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao đều sắp thoái vốn.

Cơ quan đại diện chủ sở hữu còn phải đối chiếu ngành nghề kinh doanh, vai trò của doanh nghiệp, yêu cầu quốc phòng, an ninh, cung ứng dịch vụ công và những tiêu chí riêng trong Quyết định 40. Phương án cuối cùng có thể là giữ nguyên tỷ lệ, tăng vốn, giảm vốn, chuyển giao doanh nghiệp hoặc tổ chức hợp nhất, sáp nhập.

Doanh nghiệp nào có thể được Nhà nước thoái vốn?
Nguồn: Virtus Prosperity tổng hợp.

Thoái vốn không đồng nghĩa bán tài sản rẻ

Một nguyên nhân từng làm chậm quá trình thoái vốn là tâm lý lo ngại trách nhiệm khi giá chuyển nhượng thấp hơn giá trị ghi trên sổ kế toán. Giá trị sổ sách phản ánh số liệu kế toán tại một thời điểm, trong khi giá thị trường phụ thuộc triển vọng kinh doanh, chất lượng tài sản, khả năng tạo dòng tiền và nhu cầu của người mua.

Cập nhật quy định về công ty đại chúng và thoái vốn nhà nước
Cập nhật quy định về công ty đại chúng và thoái vốn nhà nước

Khung pháp lý mới trao thêm quyền quyết định cho doanh nghiệp nhưng đồng thời tăng yêu cầu giải trình. Cách tiếp cận này đưa hoạt động quản lý vốn nhà nước gần hơn với quản trị danh mục đầu tư. Cơ quan quản lý không thể chỉ dựa vào việc giữ nguyên số vốn trên sổ sách mà phải đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực trong dài hạn.

Nghị định số 57/2026/NĐ-CP về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp tạo khuôn khổ cho hoạt động cổ phần hóa, chuyển nhượng vốn và chuyển đổi sở hữu. Quyết định 40 bổ sung tiêu chí định lượng để xác định tỷ lệ Nhà nước cần nắm giữ trong từng nhóm ngành.

Quy trình định giá cũng phải xử lý những tài sản khó đo lường như thương hiệu, quyền sử dụng đất và lợi thế kinh doanh. Theo bài phân tích của Báo Đầu tư, giá trị thương hiệu được xác định trên cơ sở tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân của 5 năm liền kề và lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm.

Việc sử dụng chỉ tiêu tài chính giúp giảm sự phụ thuộc vào đánh giá định tính. Dù vậy, một công thức không thể loại bỏ hoàn toàn nguy cơ định giá thiếu chính xác. Hiệu quả còn phụ thuộc dữ liệu đầu vào, năng lực của tổ chức tư vấn và mức độ công khai thông tin trước phiên đấu giá.

Đất đai tiếp tục là khâu có thể ảnh hưởng lớn đến tiến độ và giá trị doanh nghiệp. Việc tách xử lý mục đích sử dụng đất khỏi một số công đoạn cổ phần hóa có thể rút ngắn thời gian chuẩn bị, nhưng cơ quan quản lý vẫn phải ngăn nguy cơ nhà đầu tư mua cổ phần chỉ để tiếp cận quỹ đất.

Thị trường cần dữ liệu thay vì kỳ vọng

Một đợt thoái vốn quy mô lớn có thể giúp thị trường chứng khoán tăng lượng cổ phiếu tự do chuyển nhượng, thường được gọi là free float. Khi thêm cổ phần được giao dịch rộng rãi, thanh khoản của doanh nghiệp có thể cải thiện, qua đó tạo điều kiện để các quỹ đầu tư lớn tham gia.

Theo BSC, tỷ lệ free float của thị trường Việt Nam ở mức khoảng 32%, nhưng sở hữu vẫn tập trung. Ba cổ đông lớn nhất tại mỗi doanh nghiệp nắm bình quân khoảng 59% số cổ phần. Sở hữu nhà nước là một nguyên nhân dẫn tới mức tập trung này.

Thị trường còn có hàng trăm công ty đại chúng có nguồn gốc nhà nước chưa đáp ứng đầy đủ một số điều kiện về cơ cấu cổ đông, quy mô vốn hoặc đăng ký giao dịch. Cơ cấu lại vốn có thể hỗ trợ doanh nghiệp tăng lượng cổ phiếu lưu hành và hoàn thiện điều kiện tham gia thị trường tập trung.

Tác động này chỉ xuất hiện khi cơ quan chủ sở hữu công bố rõ danh mục, tỷ lệ bán, phương pháp định giá và thời gian thực hiện. Nếu kế hoạch dừng ở mức định hướng hoặc liên tục lùi thời hạn, giá cổ phiếu có thể tăng trước theo tin đồn rồi giảm khi kỳ vọng không trở thành giao dịch thực tế.

Nhà đầu tư vì thế cần phân biệt ba trạng thái: doanh nghiệp có dư địa giảm sở hữu nhà nước, doanh nghiệp đã được đưa vào kế hoạch cơ cấu vốn và doanh nghiệp đã có phương án bán được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Chỉ trạng thái cuối cùng mới cho thấy thương vụ đang đến gần quá trình triển khai.

Phép thử nằm ở chất lượng thực thi

Việt Nam từng ghi nhận hai giai đoạn cổ phần hóa và thoái vốn sôi động vào các năm 2006–2009 và 2016–2018. Thương vụ bán gần 54% vốn Sabeco thu về gần 110.000 tỷ đồng trở thành dấu mốc lớn nhất của giai đoạn thứ hai.

Giai đoạn 2026–2030 có quy mô doanh nghiệp, chất lượng thị trường vốn và nền tảng pháp lý khác trước. Nhiều doanh nghiệp thuộc nhóm năng lượng, hàng không, hạ tầng, viễn thông và tài chính đang sở hữu tài sản có khả năng thu hút nhà đầu tư dài hạn.

Nhưng quy mô danh mục chưa quyết định thành công. Chất lượng công bố thông tin, cách lựa chọn nhà đầu tư, tính cạnh tranh của phiên bán vốn và cơ chế giám sát sau chuyển nhượng mới quyết định Nhà nước có bảo toàn được lợi ích hay không.

Cơ cấu vốn hiệu quả cũng không nên được đánh giá đơn thuần bằng số tiền thu về. Mục tiêu sâu hơn là đưa nguồn lực đến nơi tạo hiệu quả cao hơn, cải thiện quản trị doanh nghiệp, huy động thêm vốn xã hội và giảm tình trạng vốn nhà nước nằm phân tán tại những lĩnh vực không cần nắm giữ.

Quyết định 40 và Công điện 52 đã tạo mốc thời gian rõ hơn cho chu kỳ mới. Tuy nhiên, làn sóng thoái vốn chỉ thực sự được kích hoạt khi những kế hoạch 5 năm chuyển thành danh mục doanh nghiệp, tỷ lệ bán, lịch đấu giá và dữ liệu định giá có thể kiểm chứng.

Ba điều nhà đầu tư cần kiểm tra

Tỷ lệ sở hữu nhà nước cao chỉ phản ánh dư địa cơ cấu vốn, không phải quyết định bán cổ phần. Nhà đầu tư cần kiểm tra doanh nghiệp thuộc khung sở hữu nào trong Quyết định 40, phương án cơ cấu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt hay chưa và thời gian bán vốn đã được công bố chính thức hay mới dừng ở đề xuất.

Thế Kiên

Đường dẫn bài viết: https://dientuungdung.vn/doanh-nghiep-nao-co-the-duoc-nha-nuoc-thoai-von-17899.html

In bài biết

Bản quyền thuộc Tạp chí Điện tử và Ứng dụng.