Học phí đại học 2026 tăng vì sao?
Học phí đang chiếm phần lớn nguồn thu của nhiều trường đại học công lập tự chủ. Khi chi phí đào tạo tăng, quy mô tuyển sinh chịu sức ép và nguồn thu thay thế chưa đủ mạnh, người học đứng trước nguy cơ phải gánh khoản chi ngày càng lớn.
Học phí đại học đang trở thành bài toán tài chính lớn đối với cả nhà trường và người học. Tại nhiều trường đại học công lập tự chủ, nguồn thu từ học phí chiếm phần lớn tổng thu, trong khi nguồn thu từ nghiên cứu khoa học và thương mại hóa công nghệ chưa đủ sức tạo thế cân bằng. Khi yêu cầu bảo đảm chất lượng đặt ra áp lực đầu tư, còn quy mô tuyển sinh có thể bị thu hẹp, tăng học phí trở thành lựa chọn mà nhiều trường cân nhắc. Tuy nhiên, chi phí đào tạo tăng đến đâu và ai sẽ gánh khoản chênh lệch đó là vấn đề cần được nhìn nhận từ góc độ chính sách giáo dục.
Học phí trở thành nguồn thu chính của nhà trường
Số liệu năm 2025 do bản thảo cung cấp cho thấy học phí chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn thu của nhiều trường đại học công lập tự chủ, từ khoảng 68% đến hơn 92%. Điều này phản ánh mức độ phụ thuộc của các trường vào khả năng chi trả của người học. Tại Đại học Kinh tế TP.HCM, tổng nguồn thu năm 2025 đạt 2.234 tỷ đồng, trong đó học phí và lệ phí trực tiếp đóng góp 1.529 tỷ đồng, tương đương 68,4%. Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP.HCM, ghi nhận tổng thu 1.492 tỷ đồng, với 1.136 tỷ đồng từ học phí và lệ phí, chiếm 76,1%.
Tại Trường Đại học Tôn Đức Thắng, học phí đóng góp 1.155 tỷ đồng trong tổng nguồn thu 1.318 tỷ đồng, tương đương 87,6%. Trường Đại học Y Dược TP.HCM thu 952 tỷ đồng từ học phí trên tổng nguồn thu 1.242 tỷ đồng, chiếm hơn 76%. Tình hình tương tự diễn ra tại nhiều trường ở phía Bắc. Trường Đại học Ngoại thương đạt tổng thu 1.029 tỷ đồng, trong đó học phí và lệ phí đóng góp 863,4 tỷ đồng, tương đương gần 84%. Đại học Công nghiệp Hà Nội thu 1.067 tỷ đồng, với 886 tỷ đồng từ học phí, chiếm hơn 83%. Đại học Bách khoa Hà Nội có tổng doanh thu hơn 1.800 tỷ đồng, trong đó học phí và lệ phí đạt gần 1.500 tỷ đồng.
Ở Đồng bằng sông Cửu Long, Đại học Cần Thơ ghi nhận tổng thu 1.286 tỷ đồng, trong đó học phí chiếm gần 964 tỷ đồng, tương đương khoảng 75%. Đại học Trà Vinh có tổng thu 1.101 tỷ đồng, với 1.016 tỷ đồng từ học phí, chiếm hơn 92%. Những con số trên cho thấy học phí đang giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu tài chính của nhiều trường. Khi các nguồn thu khác chưa đủ mạnh, khả năng cân đối ngân sách của nhà trường phụ thuộc lớn vào số lượng sinh viên và mức thu bình quân trên mỗi người học.
Về bản chất, nguồn thu học phí chịu tác động trực tiếp từ hai yếu tố: mức học phí và quy mô tuyển sinh. Nếu số sinh viên giảm, nhà trường có thể phải tăng mức thu bình quân để bù đắp chi phí. Ngược lại, nếu giữ học phí ở mức thấp trong khi chi phí đào tạo tăng, trường cần tìm thêm nguồn tài chính để duy trì hoạt động. Đây là bài toán khó với các trường công lập tự chủ. Tự chủ tài chính tạo điều kiện để nhà trường chủ động hơn trong quản lý nguồn lực, nhưng cũng đặt ra yêu cầu xây dựng cơ cấu thu bền vững. Nếu học phí tiếp tục là nguồn thu chi phối, rủi ro tài chính có thể chuyển trực tiếp sang sinh viên và gia đình.
![]() |
| Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương. |
Tự chủ và yêu cầu chất lượng tạo sức ép tăng học phí
Áp lực tài chính trở nên rõ hơn khi các trường phải đáp ứng yêu cầu bảo đảm chất lượng đào tạo. Theo TS Văn Hữu Quang Nhật, Viện trưởng Viện Phát triển khoa học ứng dụng, Trường Đại học Thái Bình Dương, quá trình nâng chuẩn chất lượng và tự chủ tài chính đang góp phần đẩy học phí lên những mặt bằng mới.
Để đáp ứng yêu cầu kiểm định, các trường phải đầu tư cơ sở vật chất, hệ thống công nghệ thông tin, phòng thực hành và đội ngũ giảng viên. Những khoản chi này cần được duy trì trong nhiều năm, không chỉ phát sinh ở thời điểm đầu tư ban đầu. Khi ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động thường xuyên bị giảm hoặc không còn, áp lực tìm nguồn bù đắp càng lớn. Quy mô tuyển sinh cũng tác động trực tiếp đến chi phí đào tạo. Khi số sinh viên giảm nhưng tiền thuê cơ sở vật chất, duy trì phòng thí nghiệm và trả lương cho đội ngũ vẫn ở mức cao, chi phí bình quân trên mỗi sinh viên có thể tăng. Nếu không có nguồn thu thay thế, trường sẽ phải cân nhắc điều chỉnh học phí, cắt giảm chi phí hoặc tái cơ cấu chương trình đào tạo.
Tuy nhiên, không thể mặc nhiên coi tăng học phí là giải pháp tất yếu cho mọi trường hợp. Khả năng điều chỉnh mức thu còn phụ thuộc vào quy định áp dụng, năng lực quản trị, cơ cấu chi tiêu, nguồn thu ngoài học phí và chính sách hỗ trợ người học. Bài toán tự chủ vì thế không chỉ nằm ở việc thu thêm bao nhiêu tiền, mà còn ở khả năng sử dụng nguồn lực hiệu quả và tạo ra những nguồn thu bền vững hơn. Với các trường tư thục, áp lực tài chính có đặc điểm khác. Theo phân tích của TS Văn Hữu Quang Nhật, nhà đầu tư còn phải tính đến hiệu quả sử dụng vốn và lợi nhuận. Khi chi phí vận hành tăng, việc điều chỉnh học phí có thể trở thành một trong những phương án duy trì hoạt động, qua đó làm tăng gánh nặng chi phí đối với gia đình có thu nhập trung bình.
Như vậy, cả trường công lập tự chủ và trường tư thục đều chịu sức ép cân đối tài chính, dù nguyên nhân và cơ chế vận hành khác nhau. Nếu chính sách học phí không đi cùng các biện pháp hỗ trợ phù hợp, người học có nguy cơ trở thành bên phải gánh phần lớn chi phí tăng thêm.
Mức học phí tăng mạnh sau khi tự chủ
Trường hợp Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam cho thấy tác động trực tiếp của việc chuyển sang cơ chế tự chủ đối với học phí. Theo số liệu trong bản thảo, từ năm học 2026–2027, học phí ngành Bác sĩ Y khoa tăng từ hơn 31 triệu đồng lên 58 triệu đồng mỗi sinh viên mỗi năm. Ngành Bác sĩ Y học cổ truyền tăng từ hơn 31 triệu đồng lên 56 triệu đồng.
Ngành Dược sĩ tăng từ 27,6 triệu đồng lên 56 triệu đồng mỗi năm, tức mức thu mới cao hơn gấp đôi năm trước. Ở bậc sau đại học, học phí các chương trình Thạc sĩ, Bác sĩ nội trú và Chuyên khoa I tăng từ 46,65 triệu đồng lên 87 triệu đồng mỗi năm. Với bậc Tiến sĩ và Chuyên khoa II, mức thu tăng từ 77,75 triệu đồng lên 145 triệu đồng. Mức tăng tại một cơ sở đào tạo không đủ để đại diện cho toàn bộ hệ thống đại học. Tuy vậy, trường hợp trên cho thấy thay đổi cơ chế tài chính có thể kéo theo biến động lớn về chi phí học tập trong thời gian ngắn. Với những ngành đào tạo kéo dài nhiều năm, sinh viên và gia đình còn phải tính đến khả năng học phí tiếp tục điều chỉnh trong toàn khóa học.
Đây cũng là lý do thông tin học phí cần được công bố rõ ràng, đầy đủ và đủ sớm để người học cân nhắc. Một quyết định chọn trường không chỉ dựa vào mức thu của năm đầu tiên, mà còn phụ thuộc tổng chi phí dự kiến, khả năng hỗ trợ tài chính và triển vọng việc làm sau tốt nghiệp.
Nguy cơ đại học trở thành cuộc đua về khả năng chi trả
Khi học phí tăng và yêu cầu bảo đảm chất lượng ngày càng cao, mối quan hệ giữa tự chủ tài chính, chỉ tiêu tuyển sinh và khả năng tiếp cận giáo dục trở nên phức tạp hơn. Một số trường có thể điều chỉnh cơ cấu tuyển sinh, tăng tỷ trọng các chương trình tiên tiến, chất lượng cao hoặc liên kết quốc tế có mức học phí cao để cải thiện nguồn thu. Về phía nhà trường, đây có thể là phương án cân đối tài chính. Nhưng nếu thiếu cơ chế bảo đảm cơ hội học tập bình đẳng, xu hướng này có thể khiến những chương trình đào tạo tốt tại các trường có uy tín ngày càng khó tiếp cận với học sinh có hoàn cảnh khó khăn.
Vấn đề không nằm ở việc mọi chương trình phải có mức học phí như nhau. Các chương trình có điều kiện đào tạo, đội ngũ giảng viên và chi phí vận hành khác nhau có thể cần mức thu khác nhau. Điều quan trọng là cơ hội tiếp cận giáo dục không nên phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng tài chính của gia đình. TS Văn Hữu Quang Nhật cảnh báo, nếu học phí tiếp tục tăng mà thiếu cơ chế hỗ trợ tương ứng, giáo dục đại học có nguy cơ phân hóa sâu sắc. Ông đề xuất mở rộng tín dụng ưu đãi cho sinh viên, tăng cường cơ chế Nhà nước đặt hàng đào tạo ở những ngành then chốt và yêu cầu các trường dành nguồn lực lớn hơn cho học bổng, hỗ trợ trực tiếp người học có hoàn cảnh khó khăn.
Những giải pháp này cần được xem xét đồng thời với yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo. Tín dụng sinh viên có thể giúp gia đình giãn thời gian chi trả, nhưng khoản vay vẫn cần được hoàn trả. Học bổng giúp giảm gánh nặng trước mắt, song hiệu quả phụ thuộc vào quy mô quỹ và đối tượng thụ hưởng. Trong khi đó, cơ chế Nhà nước đặt hàng đào tạo có thể chia sẻ chi phí ở những ngành xã hội cần nhân lực nhưng khó bảo đảm nguồn thu từ học phí. Vì vậy, chính sách hỗ trợ cần gắn với cả khả năng chi trả của người học và nhu cầu nhân lực của nền kinh tế, thay vì chỉ xử lý hệ quả sau mỗi đợt tăng học phí.
Tự chủ đại học cần gắn với trách nhiệm xã hội
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Quỳnh Liên cho biết, một gia đình có thể phải đầu tư 400–500 triệu đồng cho quá trình học đại học của một sinh viên. Tuy nhiên, nếu chưa xác định rõ nhu cầu lao động đối với ngành đào tạo, sinh viên và gia đình sẽ khó đánh giá cơ hội việc làm, khả năng thu hồi khoản đầu tư và trả nợ sau khi tốt nghiệp.
Nhận định này đặt ra một vấn đề rộng hơn việc học phí tăng bao nhiêu mỗi năm. Giá trị của giáo dục đại học không thể chỉ được đo bằng nguồn thu của cơ sở đào tạo, mà còn phải thể hiện ở chất lượng nhân lực, khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội và cơ hội phát triển của người học. Theo đại biểu Nguyễn Quỳnh Liên, chủ trương tự chủ đang được đẩy mạnh tại các trường đại học công lập để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập. Tuy nhiên, nếu đặt quá nặng yêu cầu tự bảo đảm tài chính, tuyển sinh có thể trở thành áp lực lớn. Khi không tuyển đủ sinh viên, trường sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì nguồn thu, nhất là với những ngành có chi phí đào tạo cao.
Trong hoàn cảnh đó, nguy cơ xuất hiện sự lệch pha giữa mục tiêu đào tạo và mục tiêu tài chính cần được tính đến. Một ngành học có học phí cao chưa chắc bảo đảm cơ hội việc làm tốt sau tốt nghiệp. Ngược lại, những ngành cần thiết đối với xã hội nhưng khó thu hút người học do chi phí lớn có thể gặp bất lợi nếu nhà trường phải dựa chủ yếu vào học phí để duy trì hoạt động. Đại biểu Nguyễn Quỳnh Liên cho rằng các trường đại học công lập cần phát huy vai trò dẫn dắt trong đào tạo và cung ứng nhân lực phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, thay vì chạy theo cơ chế thị trường và cạnh tranh trực tiếp với khu vực tư nhân.
Để thực hiện vai trò đó, tự chủ đại học cần đi cùng trách nhiệm giải trình về chất lượng, chi phí và hiệu quả đào tạo. Các trường cần minh bạch cơ cấu thu, chi, giải thích căn cứ điều chỉnh học phí và chủ động phát triển nguồn thu từ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, hợp tác với doanh nghiệp. Đây là những hướng đi có thể giúp giảm sự phụ thuộc vào học phí, dù hiệu quả còn tùy thuộc năng lực của từng trường và điều kiện triển khai.
Về phía Nhà nước, chính sách tài chính giáo dục cần phân biệt rõ những ngành có khả năng tạo nguồn thu với những ngành cần được ưu tiên vì lợi ích xã hội. Cùng với đó, các cơ chế tín dụng, học bổng và đặt hàng đào tạo cần đủ sức hỗ trợ người học có năng lực nhưng hạn chế về điều kiện kinh tế. Tự chủ đại học không nên được đánh giá đơn thuần bằng khả năng cân đối thu, chi của từng trường. Thước đo quan trọng hơn là nhà trường có duy trì được chất lượng đào tạo, cung cấp nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội và bảo đảm cơ hội học tập cho người đủ năng lực hay không. Nếu học phí trở thành nguồn thu gần như quyết định sự tồn tại của cơ sở đào tạo, còn chính sách hỗ trợ người học chưa theo kịp, chi phí của quá trình tự chủ có thể được chuyển sang những gia đình ít khả năng chi trả nhất.
Thuỳ Dương
