Bộ Y tế đề xuất 8 địa phương phát triển du lịch y tế
Bộ Y tế đề xuất phát triển các điểm đến du lịch y tế tại 8 địa phương, hướng tới xây dựng hệ sinh thái dịch vụ chất lượng cao, minh bạch chi phí và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong phục vụ người bệnh quốc tế.
| Bộ Y tế đề xuất bác sĩ nội trú thi đánh giá năng lực sau năm đầu Hướng dẫn đổi nơi khám, chữa bệnh BHYT Bệnh viện Đa khoa Thọ Xuân nâng cao chất lượng khám chữa bệnh |
Hình thành các điểm đến du lịch y tế có sức cạnh tranh
Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên vừa ký văn bản gửi các bộ, ngành xin ý kiến về dự thảo Quyết định phê duyệt Đề án “Phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030”. Đề án hướng tới hình thành chuỗi dịch vụ du lịch y tế chuyên nghiệp, an toàn, chất lượng cao, từng bước xây dựng thương hiệu Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Theo dự thảo, việc phát triển du lịch y tế nhằm cụ thể hóa các Nghị quyết 72/NQ-TW, 26/NQ-TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 282/NQ-CP của Chính phủ. Đây được xác định là hướng đi góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, thu hút nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội và giảm nhu cầu ra nước ngoài điều trị của người dân.
Đáng chú ý, Bộ Y tế đề xuất ưu tiên lựa chọn 8 địa phương để phát triển các điểm đến du lịch y tế trọng điểm, gồm Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Huế, Khánh Hòa và An Giang (Phú Quốc).
Việc lựa chọn địa bàn và điểm đến cụ thể sẽ căn cứ vào năng lực cung ứng dịch vụ y tế, chất lượng chuyên môn, cơ sở vật chất, tài nguyên du lịch, điều kiện giao thông, lưu trú và nhu cầu thị trường. Cách tiếp cận này hướng tới kết nối năng lực khám chữa bệnh với hệ thống dịch vụ du lịch, tạo điều kiện để người bệnh tiếp cận dịch vụ thuận lợi hơn.
Đến năm 2030, Đề án đặt mục tiêu phấn đấu có tối thiểu 20 bệnh viện đạt chứng nhận chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, trong đó ít nhất 5 bệnh viện công lập. Đây là một trong những yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của dịch vụ y tế Việt Nam, đồng thời củng cố niềm tin của người bệnh trong nước và quốc tế.
![]() |
| Với định hướng đến năm 2030, du lịch y tế được kỳ vọng tạo thêm động lực cho ngành y tế và du lịch Việt Nam. Nguồn ảnh: Bệnh viện Đại học Phenikaa. |
Công nghệ số hỗ trợ toàn bộ hành trình khám chữa bệnh
Dự thảo Đề án xác định 5 nhóm sản phẩm, dịch vụ du lịch y tế cốt lõi, gồm khám sức khỏe tầm soát và phát hiện sớm bệnh; nha khoa và hỗ trợ sinh sản; khám chữa bệnh chuyên sâu; y học cổ truyền và phục hồi chức năng; chăm sóc nâng cao sức khỏe, nghỉ dưỡng và chăm sóc người cao tuổi.
Để các nhóm dịch vụ này vận hành hiệu quả, Bộ Y tế định hướng xây dựng quy trình phục vụ người bệnh quốc tế xuyên suốt, từ tư vấn, đặt lịch, tiếp nhận, điều trị đến thanh toán và theo dõi sau điều trị. Thông tin về chất lượng và chi phí dịch vụ phải được công khai, minh bạch, cung cấp bằng nhiều ngôn ngữ.
Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với quá trình ứng dụng công nghệ số trong hoạt động khám chữa bệnh. Khi thông tin dịch vụ được chuẩn hóa và cung cấp thuận tiện, người bệnh có thêm cơ sở để tìm hiểu, so sánh và lựa chọn cơ sở y tế phù hợp trước khi đến Việt Nam.
Việc kết nối các khâu tư vấn, đăng ký khám, quản lý quá trình điều trị và chăm sóc sau điều trị cũng mở ra hướng nâng cao hiệu quả phối hợp giữa bệnh viện, doanh nghiệp du lịch và các đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của quy trình, khả năng liên thông thông tin và việc bảo đảm an toàn dữ liệu người bệnh.
Theo định hướng của Đề án, các cơ sở tham gia mạng lưới du lịch y tế cần nâng cao năng lực chuyên môn, quản trị chất lượng, ngoại ngữ, giao tiếp và chăm sóc khách hàng. Việc áp dụng các tiêu chuẩn, mô hình quản lý chất lượng được quốc tế thừa nhận cũng được khuyến khích, phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Hoàn thiện chính sách, tạo thuận lợi cho người bệnh quốc tế
Bên cạnh phát triển sản phẩm và địa bàn, dự thảo đề xuất 5 nhóm giải pháp chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, chính sách và cơ chế điều phối; tạo thuận lợi về thị thực, nhập cảnh, lưu trú; hướng dẫn giá dịch vụ; hỗ trợ thanh toán, bảo hiểm quốc tế và thu hút đầu tư xã hội hóa.
Trong đó, Bộ Y tế đề xuất nghiên cứu, hoàn thiện chính sách về thị thực, nhập cảnh, lưu trú và đi lại đối với người bệnh nước ngoài cùng người chăm sóc đi kèm. Các quy định liên quan đến giá dịch vụ khám chữa bệnh phục vụ du lịch y tế cũng cần được rà soát, hướng dẫn để bảo đảm minh bạch và thuận tiện trong quá trình sử dụng dịch vụ.
Đề án đồng thời hướng tới tạo điều kiện cho thanh toán quốc tế, bảo lãnh viện phí và kết nối giữa cơ sở y tế với doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, quốc tế theo quy định pháp luật; khuyến khích phát triển các sản phẩm bảo hiểm phù hợp với nhu cầu của khách du lịch y tế.
Nguồn nhân lực cũng là yếu tố cần được quan tâm. Các cơ sở y tế tham gia mạng lưới phải nâng cao năng lực ngoại ngữ chuyên ngành, phiên dịch y khoa, quản lý chất lượng và chăm sóc khách hàng. Đây là những điều kiện cần thiết để bảo đảm người bệnh quốc tế hiểu rõ thông tin điều trị, chi phí và quy trình sử dụng dịch vụ.
Theo lộ trình dự kiến, giai đoạn 2026-2027 sẽ tập trung thiết lập các điều kiện cần thiết, lựa chọn sản phẩm và địa bàn. Năm 2028, Đề án dự kiến được triển khai tại các địa phương được lựa chọn, đồng thời tổ chức sơ kết, đánh giá. Giai đoạn 2029-2030 sẽ hoàn thiện và nhân rộng có chọn lọc các mô hình hiệu quả.
Bộ Y tế nhấn mạnh, phát triển du lịch y tế phải đặt an toàn người bệnh lên hàng đầu, không làm ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân trong nước. Đây cũng là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình phát triển các dịch vụ y tế gắn với công nghệ số, bảo đảm nâng cao chất lượng phục vụ nhưng không làm giảm trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám chữa bệnh.
Với định hướng đến năm 2030, du lịch y tế được kỳ vọng tạo thêm động lực cho ngành y tế và du lịch Việt Nam. Để đạt mục tiêu, bên cạnh lợi thế về chuyên môn và chi phí, các địa phương và cơ sở y tế cần chú trọng chất lượng điều trị, tính minh bạch, khả năng phục vụ xuyên suốt và mức độ an toàn trong toàn bộ hành trình của người bệnh.
Quỳnh Anh
