Tiền của Kosy đã đi đâu sau sáu tháng đầu năm 2026?
Kosy thu 722,6 tỷ đồng và báo lãi trong sáu tháng đầu năm 2026, nhưng đến cuối kỳ toàn tập đoàn chỉ còn 12,6 tỷ đồng tiền mặt.
Công ty cổ phần Kosy (HoSE: KOS) đã công bố báo cáo tài chính riêng và hợp nhất quý II/2026, do Chủ tịch Hội đồng quản trị Nguyễn Việt Cường ký ngày 29/7/2026. Doanh thu hợp nhất sáu tháng đạt 722,66 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 14,75 tỷ đồng, đều cao hơn cùng kỳ năm trước.
Nhưng bức tranh tiền lại kể một câu chuyện khác. Tại ngày 30/6/2026, tiền và tương đương tiền hợp nhất của Kosy chỉ 12.621.890.272 đồng, bằng 0,25% tổng tài sản 5.079.160.721.045 đồng. Ở công ty mẹ, con số còn 4.961.429.337 đồng, trong đó tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn vỏn vẹn 746.661.193 đồng.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất cho thấy hoạt động kinh doanh mang về 93.658.595.082 đồng trong sáu tháng. Số tiền chảy ra ngay sau đó, với 21.446.339.420 đồng cho hoạt động đầu tư và 61.018.899.956 đồng cho hoạt động tài chính, nên lưu chuyển tiền thuần cả kỳ chỉ còn 11.193.355.706 đồng.
Riêng vòng quay vốn vay, Kosy thu về 767.926.109.763 đồng tiền đi vay nhưng phải trả 828.945.009.719 đồng nợ gốc. Phần tiền còn lại của kỳ tiếp tục nằm trong tồn kho, trong khoản trả trước cho người bán và trong nghĩa vụ thuế chưa hoàn thành.
![]() |
| Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước của Kosy tại ngày 30/6/2026 ở mức 200,9 tỷ đồng, tăng 83,7% so với đầu năm. Ảnh chụp báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2026. |
Nghĩa vụ thuế tăng 83,7% và hơn 5 tỷ đồng tiền chậm nộp
Tại ngày 30/6/2026, chỉ tiêu thuế và các khoản phải nộp Nhà nước trên bảng cân đối hợp nhất ở mức 200.946.476.463 đồng, so với 109.370.075.413 đồng hồi đầu năm. Mức tăng tuyệt đối 91,58 tỷ đồng, tương đương 83,7% chỉ sau sáu tháng.
Thuyết minh số 15 cho thấy phần lớn nghĩa vụ của Kosy nằm ở thuế nhà đất và tiền thuê đất với 159.792.065.098 đồng còn phải nộp, kế đến là thuế thu nhập doanh nghiệp 18.598.698.571 đồng và thuế giá trị gia tăng 18.501.324.333 đồng.
Số phải nộp phát sinh trong sáu tháng là 279.771.822.925 đồng nhưng số đã thực nộp chỉ 188.195.421.875 đồng. Phần chênh lệch hơn 91 tỷ đồng ở lại bảng cân đối kế toán dưới dạng nghĩa vụ chưa hoàn thành với ngân sách.
Hệ quả xuất hiện ngay tại thuyết minh số 25. Chi phí khác quý II hợp nhất 5.387.418.896 đồng, được Kosy ghi rõ là các khoản bị phạt và chậm nộp. Báo cáo riêng tách chi tiết hơn với 80.000.000 đồng tiền phạt và 5.096.362.675 đồng tiền chậm nộp thuế.
Lũy kế sáu tháng, chi phí khác hợp nhất lên 5.460.965.620 đồng, cao hơn 32% so với cùng kỳ. Riêng khoản Kosy chi vì chậm nộp trong quý II đã lớn hơn toàn bộ chi phí bán hàng 3.651.031.757 đồng và bằng 44,9% lợi nhuận sau thuế hợp nhất của chính quý.
Nghĩa vụ 200,9 tỷ đồng với ngân sách vì vậy gấp gần 16 lần lượng tiền Kosy đang nắm giữ.
![]() |
| Báo cáo tài chính riêng quý II/2026 ghi nhận 5,09 tỷ đồng tiền chậm nộp thuế và 80 triệu đồng tiền phạt trong chi phí khác. Ảnh chụp Báo cáo tài chính riêng quý II/2026 |
Đăng ký hàng loạt ngành viễn thông, công nghệ nhưng chưa ghi nhận doanh thu
Thuyết minh số 1 của cả hai báo cáo liệt kê nhiều ngành nghề thuộc lĩnh vực điện tử, viễn thông mà Kosy đã đăng ký, gồm lắp đặt sửa chữa và cho thuê công trình viễn thông, bán buôn máy vi tính, thiết bị ngoại vi và phần mềm, bán buôn thiết bị cùng linh kiện điện tử, bán lẻ máy vi tính và thiết bị viễn thông trong cửa hàng chuyên doanh.
Trong khi đó, thuyết minh số 19 về doanh thu quý II/2026 chỉ có ba dòng, gồm bán hàng hóa 221.814.390.314 đồng, kinh doanh bất động sản 203.018.474.484 đồng và dịch vụ 40.861.700.721 đồng. Không dòng nào phản ánh nguồn thu của Kosy từ thiết bị điện tử, phần mềm hay dịch vụ viễn thông.
Dấu vết đầu tư cho công nghệ cũng rất mờ trên bảng tài sản. Bảng cân đối hợp nhất chỉ có tài sản cố định hữu hình 988.191.076.437 đồng và không có mục tài sản cố định vô hình, tức chưa ghi nhận phần mềm, bản quyền hay nền tảng dữ liệu nào thành tài sản.
Nhóm thiết bị, dụng cụ quản lý, nơi hạch toán máy tính và thiết bị văn phòng của Kosy, có nguyên giá 717.170.254 đồng và giá trị còn lại chỉ 57.441.111 đồng tại ngày 30/6/2026. Cột mua sắm trong kỳ của nhóm để trống.
Toàn bộ 36.906.546.162 đồng tiền Kosy chi mua sắm tài sản cố định trong kỳ chảy vào tài sản dở dang, chủ yếu ở văn phòng Rox Tower tăng từ 9.226.636.539 đồng lên 46.133.182.701 đồng. Hai dự án năng lượng gồm điện mặt trời Sơn Mỹ 259.259.259 đồng và thủy điện tích năng Di Linh 843.055.556 đồng giữ nguyên suốt kỳ.
Về con người, thuyết minh số 1 ghi nhận công ty mẹ Kosy có 44 cán bộ nhân viên, toàn tập đoàn 79 người, đang vận hành khối tài sản hơn 5.079 tỷ đồng trải trên tám dự án bất động sản và một công ty con sản xuất điện tại Lai Châu.
![]() |
| Dù đăng ký hàng loạt ngành viễn thông, phần mềm và thiết bị điện tử, cơ cấu doanh thu quý II/2026 của Kosy chỉ có ba dòng bán hàng hóa, bất động sản và dịch vụ. Ảnh chụp báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2026. |
Tồn kho nuốt thêm 195,9 tỷ đồng, lãi vay treo lại ngày càng nhiều
Hàng tồn kho hợp nhất của Kosy 2.778.487.142.103 đồng, tương đương 54,7% tổng tài sản và toàn bộ là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, tăng thêm 195.887.700.719 đồng so với đầu năm.
Thuyết minh số 9 cho thấy tồn kho nằm ở tám dự án, lớn nhất là Kosy Hà Nam 892.127.059.762 đồng và Kosy Gia Sàng 11 với 499.622.559.955 đồng.
Vốn vay hợp nhất của Kosy gồm 878.313.644.038 đồng ngắn hạn và 1.119.424.064.061 đồng dài hạn, cộng lại 1.997.737.708.099 đồng, gấp hơn 158 lần lượng tiền mặt cuối kỳ. Lãi vay quý II là 26.918.107.296 đồng, ăn 40,4% lợi nhuận gộp.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất ghi chi phí lãi vay sáu tháng 27.547.226.116 đồng nhưng tiền lãi vay thực trả chỉ 12.626.758.175 đồng. Cùng lúc, chi phí lãi vay phải trả cuối kỳ tăng từ 1.878.140.382 đồng lên 16.750.711.461 đồng, gấp gần 8,9 lần chỉ sau nửa năm.
Trên báo cáo riêng của Kosy, hai dòng chi phí lãi vay và tiền lãi vay đã trả sáu tháng đầu năm 2026 đều bỏ trống, trong khi cùng kỳ ghi 19.700.010.609 đồng và 24.134.995.008 đồng.
Khoản Kosy trả trước cho người bán 413.530.329.834 đồng có nhiều số dư gần như bất động suốt sáu tháng, gồm 111.753.518.574 đồng tại Kscons, 75.000.000.000 đồng tại Xây dựng và Hạ tầng Ninh Bình và 66.471.747.648 đồng tại Đầu tư và Xây dựng Hà Nam.
Phải thu ngắn hạn khác 125.124.821.350 đồng chứa hai khoản treo lâu năm, gồm 84.382.651.273 đồng với ông Nguyễn Đức Trang là chi phí giải phóng mặt bằng đã chi cho các hộ dân, và 31.416.921.000 đồng với Công ty TNHH Thông Ngân theo hợp đồng ký ngày 6/11/2020. Cột dự phòng để trống.
Chi phí phải trả ngắn hạn 207.050.639.095 đồng, riêng khoản trích trước tạm tính giá vốn bất động sản đã bán chiếm 187.997.472.710 đồng, tăng từ 145.661.708.776 đồng đầu năm. Đó là phần giá vốn Kosy tự ước tính chứ chưa phải chi phí thực tế.
Khoảng cách giữa hai báo cáo của Kosy cũng rất lớn. Công ty mẹ lãi sau thuế 23.351.306.278 đồng trong quý II và 26.189.275.786 đồng sau sáu tháng, còn số hợp nhất chỉ 12.009.414.794 đồng và 14.748.816.272 đồng.
Lãi cơ bản trên cổ phiếu sáu tháng đạt 68,39 đồng, trên mệnh giá 10.000 đồng. Với vốn góp 2.164.813.350.000 đồng, lợi nhuận nửa năm bằng 0,68% số vốn cổ đông bỏ ra.
Một chi tiết khác cần đối chiếu nằm trong báo cáo riêng của Kosy. Bảng biến động vốn chủ sở hữu ghi lãi trong kỳ 27.731.095.822 đồng, còn báo cáo kết quả kinh doanh ghi lãi lũy kế 26.189.275.786 đồng, lệch nhau 1.541.820.036 đồng.
Cả hai báo cáo do Kosy tự lập, chưa qua kiểm toán hay soát xét. Thuyết minh số 28 nêu rõ số liệu so sánh quý II/2025 cũng do công ty tự lập, còn báo cáo năm 2025 đã được Công ty TNHH kiểm toán và tư vấn UHY kiểm toán.
Đình Tưởng


