Ngày Chuyển đổi số quốc gia 2026: Từ hạ tầng công nghệ đến giá trị cho người dân
Hạ tầng số tiếp tục mở rộng, doanh thu công nghiệp công nghệ số tăng trưởng mạnh, dữ liệu được trao đổi với quy mô hàng tỷ giao dịch. Thách thức đặt ra trong năm 2026 là chuyển những nguồn lực ấy thành hiệu quả quản trị, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và lợi ích thiết thực cho người dân.
Ngày 10/10 hằng năm được Thủ tướng Chính phủ chọn là Ngày Chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định số 505/QĐ-TTg ngày 22/4/2022. Năm 2026, chủ đề “Chuyển đổi số quốc gia: Từ kiến trúc, nền tảng, dữ liệu đến kết quả thực chất, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia” đặt ra yêu cầu rõ ràng cho giai đoạn phát triển tiếp theo: không dừng ở xây dựng hạ tầng hay đưa công nghệ vào hoạt động, mà phải chứng minh được những thay đổi cụ thể trong cách quản lý, sản xuất, kinh doanh và phục vụ người dân.
Thông điệp ấy gắn với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Khi công nghệ ngày càng trở thành một phần của năng lực cạnh tranh quốc gia, hiệu quả chuyển đổi số không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng nền tảng, phần mềm hay dự án được triển khai. Điều cần quan tâm hơn là những nguồn lực ấy đã giúp nâng cao năng suất, giảm chi phí, cải thiện chất lượng dịch vụ và tạo thêm giá trị cho nền kinh tế đến đâu.
Hạ tầng số mở rộng, yêu cầu về hiệu quả ngày càng rõ
Đến tháng 9/2026, mạng 5G đã phủ sóng 91,99% dân số, cáp quang đã đến 100% xã, phường. Cả nước có 81.600 doanh nghiệp công nghệ số. Đây là những điều kiện quan trọng để mở rộng dịch vụ trực tuyến, phát triển các mô hình kinh doanh mới và đưa công nghệ đến gần hơn với đời sống. Những số liệu được Bộ Khoa học và Công nghệ công bố tại chương trình chào mừng Ngày Chuyển đổi số quốc gia ngày 9/10/2026 cho thấy nền tảng công nghệ của Việt Nam tiếp tục được củng cố.
![]() |
| Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân và các đại biểu tham quan không gian triển lãm trong khuôn khổ Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026 - Ảnh: chinhphu.vn |
Tuy nhiên, độ phủ hạ tầng mới phản ánh khả năng tiếp cận công nghệ, chưa thể hiện đầy đủ mức độ khai thác công nghệ trong thực tế. Một địa phương có mạng viễn thông rộng khắp vẫn cần những dịch vụ số hữu ích, đội ngũ đủ năng lực vận hành và quy trình xử lý công việc phù hợp. Một doanh nghiệp có thể tiếp cận Internet tốc độ cao nhưng chưa chắc nâng được năng suất nếu hoạt động quản lý vẫn dựa chủ yếu vào thao tác thủ công, dữ liệu phân tán và cách làm thiếu liên kết.
Điều này cho thấy cần phân biệt rõ giữa điều kiện để chuyển đổi số và kết quả mà chuyển đổi số tạo ra. Hạ tầng tốt giúp mở rộng khả năng kết nối; nền tảng dùng chung tạo điều kiện liên thông; dữ liệu hỗ trợ quản lý và ra quyết định. Nhưng chỉ khi những thành phần ấy được sử dụng hiệu quả, chúng mới tạo ra giá trị kinh tế và xã hội.
Ngày 9/10, tại ễ chào mừng Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân đã chỉ ra năm thách thức lớn của chuyển đổi số, gồm dữ liệu, nền tảng số, hạ tầng, khả năng ứng dụng công nghệ của doanh nghiệp và nguồn nhân lực. Những vấn đề này cho thấy bài toán hiện nay không đơn thuần là đầu tư thêm công nghệ, mà còn là tháo gỡ các điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện, kết nối hệ thống và phát triển con người.
Kinh tế số tăng trưởng, nhưng cần nhìn sâu vào giá trị tạo ra
Theo thông tin của Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 14/8/2026, dẫn số liệu của Cục Thống kê, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026–2030 đặt mục tiêu phấn đấu đưa tỷ trọng này lên khoảng 30% vào năm 2030. Khoảng cách giữa mức 14,02% của năm 2025 và mục tiêu khoảng 30% vào năm 2030 cho thấy dư địa phát triển còn lớn, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng. Kinh tế số không thể chỉ dựa vào sự mở rộng của các hoạt động kinh doanh trên môi trường mạng hay quy mô doanh thu của ngành công nghệ. Giá trị cần được tạo ra trên phạm vi rộng hơn, từ sản xuất công nghiệp, thương mại, vận tải, nông nghiệp đến giáo dục, y tế và các dịch vụ thiết yếu.
Một chỉ dấu khác là quy mô công nghiệp công nghệ số. Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ được Cổng Thông tin điện tử Chính phủ công bố ngày 30/9/2026, doanh thu công nghiệp công nghệ số trong chín tháng đầu năm ước đạt hơn 5,387 triệu tỷ đồng, tăng 32,1% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng tháng 9, doanh thu ước đạt khoảng 770.766 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ. Doanh thu công nghiệp công nghệ số không đồng nghĩa với tỷ trọng đóng góp của kinh tế số vào GDP. Doanh thu phản ánh quy mô hoạt động kinh doanh, trong khi tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP phản ánh phần giá trị được tạo ra trong nền kinh tế theo phương pháp thống kê tương ứng. Hai chỉ tiêu bổ sung cho nhau nhưng không thể dùng thay thế nhau.
Từ những con số trên, có thể thấy hoạt động công nghiệp công nghệ số đang mở rộng với tốc độ cao. Vấn đề tiếp theo là làm sao để năng lực công nghệ ấy lan tỏa sâu hơn vào các ngành kinh tế, giúp doanh nghiệp tăng năng suất, giảm chi phí và nâng cao sức cạnh tranh. Nếu công nghệ chỉ tập trung ở một số doanh nghiệp lớn, trong khi phần đông doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thiếu nguồn lực, kỹ năng và khả năng lựa chọn giải pháp phù hợp, tác động của chuyển đổi số đối với toàn nền kinh tế sẽ chưa tương xứng với tiềm năng.
Bởi vậy, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số cần bắt đầu từ nhu cầu thực tế. Một cơ sở sản xuất cần biết công nghệ có thể giúp giảm thời gian ngừng máy, kiểm soát chất lượng hay quản lý nguyên liệu ra sao. Một doanh nghiệp bán lẻ cần xác định công cụ số có thể cải thiện quản lý hàng hóa, chăm sóc khách hàng và dự báo nhu cầu đến mức nào. Khi hiệu quả được đo bằng những thay đổi cụ thể trong hoạt động, quyết định đầu tư sẽ có cơ sở vững chắc hơn.
Dữ liệu hàng tỷ giao dịch và bài toán liên thông
Nếu hạ tầng là điều kiện kết nối, dữ liệu là nguồn lực quan trọng để đổi mới quản trị. Theo thông tin Bộ Khoa học và Công nghệ công bố tại họp báo thường kỳ tháng 9/2026, tổng số giao dịch thông qua Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP) từ năm 2020 đến ngày 15/9/2026 đạt 4,86 tỷ giao dịch. Đến tháng 9/2026, số chứng thư chữ ký số đã cấp đạt 34,575 triệu, tương ứng 49,96% dân số trưởng thành trong độ tuổi 15–65 có chữ ký số.
Quy mô 4,86 tỷ giao dịch cho thấy hoạt động trao đổi dữ liệu giữa các hệ thống đã đạt mức lớn. Tuy nhiên, tổng số giao dịch tích lũy không tự nó phản ánh đầy đủ chất lượng dữ liệu, số lượng người được hưởng lợi hay mức tiết kiệm chi phí mà việc chia sẻ dữ liệu mang lại. Muốn đánh giá hiệu quả, cần biết dữ liệu được sử dụng trong những quy trình nào, giúp rút ngắn bao nhiêu thời gian xử lý, giảm bao nhiêu khâu trung gian và hỗ trợ cơ quan quản lý ra quyết định tốt hơn ra sao.
Đây chính là điểm cần được đặt vào trọng tâm của chủ đề năm 2026. Dữ liệu không nên chỉ được nhìn như những bản ghi lưu trữ trong các hệ thống, mà phải trở thành căn cứ phục vụ công việc. Nếu các cơ quan đã có thông tin nhưng vẫn yêu cầu người dân khai lại do hệ thống chưa kết nối, nguồn lực số chưa được khai thác hiệu quả. Nếu dữ liệu không được cập nhật hoặc thiếu thống nhất, việc sử dụng dữ liệu để phân tích và điều hành có thể dẫn đến những nhận định sai lệch.
Do đó, xây dựng cơ sở dữ liệu cần đi cùng chuẩn hóa, cập nhật, xác định trách nhiệm quản lý và quy định rõ việc chia sẻ, sử dụng. Dữ liệu cá nhân phải được bảo vệ; quyền truy cập cần phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quy định pháp luật. Mở rộng khả năng kết nối không có nghĩa là mọi dữ liệu đều được phép truy cập tự do, mà là thông tin được chia sẻ đúng thẩm quyền, đúng mục đích và an toàn.
Số liệu về chữ ký số cũng đặt ra một vấn đề cần quan tâm. Tỷ lệ 49,96% dân số trưởng thành trong nhóm tuổi 15–65 có chữ ký số cho thấy công cụ xác thực điện tử đã có độ phủ đáng kể, nhưng vẫn còn dư địa để mở rộng. Dù vậy, số chứng thư đã cấp không đồng nghĩa với số người sử dụng thường xuyên hoặc số giao dịch điện tử hoàn tất. Bước tiếp theo là tạo ra những dịch vụ đủ thuận tiện, dễ sử dụng và đáng tin cậy để người dân có động lực sử dụng chữ ký số trong các nhu cầu thực tế.
Chuyển đổi số phải thay đổi cách phục vụ người dân
Đối với người dân, thành quả của chuyển đổi số không được đo bằng số lượng ứng dụng mà cơ quan nhà nước đưa ra, mà bằng khả năng giải quyết công việc thuận tiện hơn. Một thủ tục trực tuyến chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân có thể tìm hiểu yêu cầu, nộp hồ sơ, theo dõi tiến độ và nhận kết quả mà không phải thực hiện thêm những bước không cần thiết.
Để làm được điều đó, cơ quan quản lý cần thay đổi cách tổ chức dịch vụ từ góc nhìn của người sử dụng. Quy trình phải được rà soát trước khi đưa lên môi trường số; các khâu trung gian không cần thiết cần được loại bỏ; dữ liệu đã có phải được tái sử dụng theo đúng quy định. Người dân cần biết hồ sơ đang được xử lý ở đâu, khi nào có kết quả và liên hệ với ai nếu phát sinh vướng mắc.
![]() |
| Công bố kết quả Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2026 - Ảnh: chinhphu.vn |
Đánh giá hiệu quả dịch vụ công cũng cần vượt ra ngoài số lượng hồ sơ được tiếp nhận trực tuyến. Những chỉ số như thời gian giải quyết thực tế, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, số lần người dân phải bổ sung thông tin, chi phí đi lại được tiết kiệm và mức độ hài lòng sẽ phản ánh rõ hơn chất lượng phục vụ. Đây là những chỉ số cần được theo dõi và công bố theo từng lĩnh vực, từng cơ quan để xác định nơi làm tốt và những khâu còn bất cập.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số phải bảo đảm khả năng tiếp cận của các nhóm dân cư khác nhau. Người cao tuổi, người khuyết tật, người chưa thành thạo công nghệ hoặc người sống ở nơi điều kiện kết nối còn hạn chế có thể gặp khó khăn khi sử dụng dịch vụ trực tuyến. Vì vậy, phổ cập kỹ năng số và duy trì hình thức hỗ trợ phù hợp cần được xem là một phần của quá trình chuyển đổi, thay vì chỉ tập trung vào việc đưa dịch vụ lên mạng.
Một dịch vụ số tốt không chỉ giúp cơ quan nhà nước xử lý công việc nhanh hơn, mà còn phải giúp người dân hiểu rõ quy trình, giảm chi phí và cảm thấy thuận tiện khi sử dụng. Khi chất lượng phục vụ được đặt ở vị trí trung tâm, chuyển đổi số mới thực sự tạo ra thay đổi trong quan hệ giữa cơ quan công quyền và người dân.
Nguồn nhân lực quyết định khả năng khai thác công nghệ
Công nghệ có thể được đầu tư trong thời gian ngắn, nhưng năng lực sử dụng công nghệ cần được hình thành qua quá trình đào tạo, thực hành và thay đổi phương thức làm việc. Đây là một trong những thách thức được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ ra tại chương trình chào mừng Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026, đặc biệt đối với đội ngũ phụ trách chuyển đổi số ở các bộ, ngành, địa phương và cấp cơ sở.
Nếu cán bộ thiếu kỹ năng khai thác dữ liệu, không hiểu quy trình số hoặc chưa được trang bị đủ kiến thức để xử lý sự cố, hệ thống hiện đại vẫn có thể hoạt động kém hiệu quả. Tương tự, doanh nghiệp đầu tư phần mềm nhưng không đào tạo người lao động, không thay đổi cách phân công công việc và không xác định rõ trách nhiệm cập nhật dữ liệu sẽ khó thu được lợi ích tương xứng.
![]() |
| Cán bộ quản lý cần biết sử dụng dữ liệu để theo dõi và đánh giá kết quả. |
Vì vậy, đào tạo nhân lực số cần gắn với từng vị trí và nhiệm vụ cụ thể. Cán bộ quản lý cần biết sử dụng dữ liệu để theo dõi và đánh giá kết quả. Người trực tiếp giải quyết hồ sơ cần thành thạo quy trình điện tử và có khả năng hỗ trợ người dân. Doanh nghiệp cần đội ngũ hiểu cả nghiệp vụ lẫn công nghệ để lựa chọn, vận hành và đánh giá giải pháp.
Với trí tuệ nhân tạo, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết. Các công cụ có thể hỗ trợ tổng hợp thông tin, phân tích dữ liệu và xử lý công việc lặp lại, nhưng kết quả vẫn cần được kiểm tra. Dữ liệu đầu vào thiếu chính xác hoặc việc sử dụng công nghệ không đúng mục đích có thể dẫn đến sai sót. Vì vậy, ứng dụng trí tuệ nhân tạo phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, có tiêu chí đánh giá hiệu quả và xác định rõ trách nhiệm của người sử dụng. Con người không bị đặt ra ngoài quá trình chuyển đổi khi công nghệ phát triển; ngược lại, năng lực của con người quyết định công nghệ được sử dụng đến đâu và tạo ra giá trị gì. Đầu tư cho kỹ năng số vì thế phải đi cùng đầu tư cho hạ tầng, dữ liệu và nền tảng.
Đo hiệu quả bằng kết quả, không phải số lượng dự án
Chủ đề Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026 đặt ra yêu cầu thay đổi cách đánh giá các chương trình, dự án công nghệ. Một dự án không nên chỉ được xem là hoàn thành khi phần mềm được bàn giao hoặc hệ thống chính thức vận hành. Giá trị của dự án phải được kiểm chứng qua mức độ sử dụng, chất lượng xử lý công việc, chi phí vận hành và tác động thực tế đối với người dùng.
Trước khi đầu tư, mỗi chương trình cần xác định rõ vấn đề cần giải quyết, kết quả dự kiến và chỉ số đánh giá. Sau khi triển khai, cần theo dõi định kỳ để biết hệ thống có đáp ứng nhu cầu hay không, dữ liệu có được cập nhật đầy đủ không, người sử dụng có khai thác thường xuyên không và chi phí có tương xứng với lợi ích mang lại không.
Cách tiếp cận này đặc biệt quan trọng khi nguồn lực đầu tư có giới hạn. Phát triển nhiều hệ thống riêng biệt có thể làm tăng chi phí xây dựng, bảo trì và đào tạo, trong khi khả năng kết nối vẫn hạn chế. Ưu tiên dùng chung, kế thừa và tích hợp những hệ thống phù hợp sẽ giúp giảm đầu tư trùng lặp, đồng thời tạo điều kiện để dữ liệu được khai thác hiệu quả hơn.
Trách nhiệm của người đứng đầu cũng cần được gắn với kết quả thực hiện. Chuyển đổi số liên quan đến nhiều đơn vị và nhiều quy trình, nên không thể chỉ giao nhiệm vụ cho bộ phận công nghệ thông tin. Lãnh đạo cơ quan cần trực tiếp tháo gỡ vướng mắc, xác định trách nhiệm phối hợp và sử dụng kết quả chuyển đổi số làm căn cứ đánh giá chất lượng thực hiện nhiệm vụ.
Cùng với đó, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân phải được tính đến ngay từ khâu thiết kế hệ thống. Niềm tin số chỉ được duy trì khi người dân, doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ trong môi trường an toàn, minh bạch và có cơ chế bảo vệ quyền lợi khi phát sinh sự cố. Phát triển nhanh phải đi cùng khả năng kiểm soát rủi ro, bởi một hệ thống số chỉ có giá trị bền vững khi hoạt động ổn định và đáng tin cậy.
Ngày Chuyển đổi số quốc gia 10/10/2026 vì thế không chỉ là dịp lan tỏa nhận thức về công nghệ, mà còn là thời điểm nhìn lại hiệu quả của những việc đã làm. Những con số về độ phủ 5G, doanh thu công nghiệp công nghệ số, giao dịch chia sẻ dữ liệu và tỷ lệ người trưởng thành có chữ ký số cho thấy nền tảng số đang tiếp tục được mở rộng. Nhưng bước phát triển tiếp theo cần được đo bằng những thay đổi rõ ràng hơn trong năng suất, chi phí, chất lượng quản trị và khả năng phục vụ người dân.
Từ kiến trúc, nền tảng và dữ liệu đến kết quả thực chất là quá trình chuyển nguồn lực công nghệ thành năng lực phát triển. Khi mỗi khoản đầu tư có mục tiêu cụ thể, mỗi hệ thống có khả năng kết nối, mỗi dữ liệu được quản lý và khai thác đúng cách, mỗi cán bộ và doanh nghiệp có đủ năng lực sử dụng công nghệ, chuyển đổi số mới tạo ra giá trị bền vững. Thước đo cuối cùng không phải là có bao nhiêu công nghệ mới được đưa vào sử dụng, mà là công việc được giải quyết tốt hơn đến đâu, doanh nghiệp có thêm sức cạnh tranh ra sao và người dân nhận được lợi ích cụ thể.
Lê Nhi


