Tăng trưởng kinh tế số giai đoạn 2021–2025: Đóng góp 14,02% GDP

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Kinh tế số chiếm 14,02% GDP, công nghiệp công nghệ số đạt doanh thu khoảng 198 tỷ USD, xuất khẩu sản phẩm công nghệ số khoảng 172 tỷ USD, thương mại điện tử đạt 36 tỷ USD và mạng 5G đã phủ khoảng 90% dân số. Những con số này cho thấy công nghệ đã trở thành một cấu phần quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, đồng thời lý giải vì sao năm 2026 chứng kiến hàng loạt thay đổi lớn về thể chế trong lĩnh vực chuyển đổi số, công nghệ cao, viễn thông và tần số vô tuyến điện.
Tăng trưởng Kinh tế số: Thành công và thách thức của doanh nghiệp Việt Nam Chuyển đổi số và công nghiệp 4.0 tạo đột phá Việt Nam khát vọng trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045

Kinh tế số đã vượt mốc 14% GDP

Một trong những chỉ dấu rõ nhất về sự chuyển dịch của nền kinh tế Việt Nam là tốc độ mở rộng của kinh tế số. Theo số liệu thống kê, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đã tăng từ 12,87% năm 2021 lên 14,02% năm 2025. Bình quân giai đoạn 2021-2025, kinh tế số đóng góp khoảng 13,2% GDP. Quy mô giá trị tăng thêm của kinh tế số năm 2025 ước khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Đằng sau mức tăng này là sự phát triển đồng thời của nhiều lĩnh vực.

Các ngành kinh tế số lõi đóng góp khoảng 8,13% GDP, trong khi quá trình số hóa các ngành kinh tế khác đóng góp khoảng 5,05%. Điều đó cho thấy kinh tế số không còn chỉ nằm trong phạm vi các doanh nghiệp công nghệ thông tin mà đã lan sang thương mại, dịch vụ, sản xuất, tài chính và hoạt động quản lý. Thành tựu dễ nhận thấy nhất là sự phát triển của thương mại điện tử. Năm 2025, quy mô thị trường thương mại điện tử Việt Nam ước đạt khoảng 36 tỷ USD, tăng khoảng 3 lần so với năm 2020. Thanh toán số cũng tăng mạnh, với giá trị thanh toán không dùng tiền mặt trong năm 2025 ước đạt khoảng 26 lần GDP và hơn 20 tỷ giao dịch.

Tăng trưởng kinh tế số giai đoạn 2021–2025: Đóng góp 14,02% GDP
Những con số cho thấy quá trình chuyển đổi số đã đi từ giai đoạn thử nghiệm sang giai đoạn hình thành các thị trường và phương thức kinh doanh mới.

Công nghiệp công nghệ số đạt doanh thu 198 tỷ USD

Nếu kinh tế số phản ánh mức độ số hóa của toàn nền kinh tế thì doanh thu ngành công nghiệp công nghệ số cho thấy quy mô của chính khu vực công nghệ.

Năm 2025, doanh thu toàn ngành công nghiệp công nghệ số ước đạt 198 tỷ USD, tăng gần 26% so với năm 2024 và vượt khoảng 16% kế hoạch năm. Giá trị đóng góp vào GDP đạt khoảng 1.075.120 tỷ đồng, tăng 10% so với năm trước. Lợi nhuận toàn ngành ước đạt hơn 371.000 tỷ đồng. Đây là một thành tựu đáng chú ý bởi công nghệ số đang tạo ra giá trị kinh tế không chỉ thông qua các dịch vụ phần mềm mà còn thông qua sản xuất phần cứng, thiết bị điện tử, viễn thông và các sản phẩm công nghệ.

Riêng kim ngạch xuất khẩu phần cứng và điện tử năm 2025 ước đạt 178 tỷ USD, tăng 35% so với năm 2024 và hoàn thành khoảng 112% kế hoạch năm. Một số liệu khác được công bố tại Diễn đàn quốc gia về phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam năm 2025 cho thấy kim ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghệ số đạt khoảng 172 tỷ USD, tăng 1,7 lần so với năm 2020. Doanh thu từ thị trường nước ngoài của các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đạt khoảng 15 tỷ USD, với hơn 2.100 doanh nghiệp đã có hoạt động trên thị trường quốc tế.

Đây là điểm đáng chú ý trong bức tranh công nghệ Việt Nam: doanh nghiệp trong nước không chỉ cung cấp sản phẩm cho thị trường nội địa mà đã bắt đầu đưa sản phẩm và dịch vụ công nghệ ra thị trường quốc tế.

2.100 doanh nghiệp công nghệ đã vươn ra thị trường quốc tế

Con số hơn 2.100 doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có hoạt động trên thị trường quốc tế cho thấy một bước chuyển quan trọng của hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ. Nếu trước đây lợi thế của Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ chủ yếu gắn với gia công, sản xuất phần cứng và thu hút các tập đoàn quốc tế, thì sự gia tăng của các doanh nghiệp Việt Nam có doanh thu từ thị trường nước ngoài đang mở ra một hướng phát triển khác: xây dựng sản phẩm, dịch vụ và thương hiệu công nghệ Việt Nam.

Mục tiêu mà Chính phủ đặt ra cho giai đoạn tới cũng cho thấy kỳ vọng năm 2030, Việt Nam phấn đấu có 5.000 doanh nghiệp công nghệ số phát sinh doanh thu từ thị trường quốc tế, doanh thu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số đạt tối thiểu 55 tỷ USD mỗi năm. Trong đó, mục tiêu có 60 doanh nghiệp đạt doanh thu từ thị trường nước ngoài từ 20 triệu USD/năm và 5 doanh nghiệp đạt tối thiểu 1 tỷ USD/năm.

Như vậy, thành tựu hiện tại đang được sử dụng làm nền tảng cho một bước đi lớn hơn: chuyển từ một nước ứng dụng và sản xuất công nghệ sang một quốc gia có doanh nghiệp công nghệ cạnh tranh ở thị trường quốc tế.

5G: Từ triển khai thương mại đến hạ tầng quốc gia

Một thành tựu khác có thể nhìn thấy trực tiếp trong đời sống là tốc độ phổ cập mạng di động thế hệ mới. Đến cuối năm 2025, mạng 5G đã phủ khoảng 90% dân số Việt Nam, đưa Việt Nam vào nhóm những quốc gia có tốc độ triển khai 5G đáng chú ý trong khu vực. Tốc độ Internet di động của Việt Nam trong năm 2025 cũng lọt top 20 thế giới. Đây không chỉ là câu chuyện về tốc độ truy cập Internet trên điện thoại.

Hạ tầng 5G tạo điều kiện cho những mô hình ứng dụng mới như nhà máy thông minh, Internet vạn vật, phương tiện kết nối, đô thị thông minh và các dịch vụ yêu cầu kết nối với độ trễ thấp. Khi vùng phủ 5G ngày càng rộng, câu chuyện quản lý tần số, chia sẻ hạ tầng và đầu tư mạng lưới cũng trở thành vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng mở rộng của nền kinh tế số.

Đó chính là một trong những lý do việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về viễn thông và tần số vô tuyến điện trong năm 2026 có ý nghĩa lớn hơn việc đơn thuần sửa đổi các quy định quản lý chuyên ngành.

Hà Nội, TP.HCM và các địa phương bắt đầu tạo ra những cực tăng trưởng số

Sự phát triển của kinh tế số tại Việt Nam đang không diễn ra theo một mô hình duy nhất. Các địa phương bắt đầu hình thành những cực tăng trưởng với lợi thế và cấu trúc khác nhau, trong đó có nơi nổi lên nhờ sản xuất điện tử, công nghệ cao; có nơi dựa trên dịch vụ số, tài chính, thương mại điện tử và hệ sinh thái doanh nghiệp; cũng có địa phương đang đẩy mạnh số hóa các ngành kinh tế truyền thống.

Số liệu năm 2025 cho thấy sự khác biệt này khá rõ. Bắc Ninh có tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP lên tới 46,3%, Thái Nguyên 29,53%, Hải Phòng 22,28% và Phú Thọ 22,71%. Trong khi đó, Hà Nội đạt 17,34% và TP.HCM đạt 13,43%. Thoạt nhìn, khoảng cách giữa Bắc Ninh và hai đô thị lớn có thể dẫn tới cách hiểu rằng Bắc Ninh đang “số hóa” mạnh hơn Hà Nội hay TP.HCM. Tuy nhiên, tỷ trọng kinh tế số trong GRDP cần được nhìn cùng với cấu trúc nền kinh tế của từng địa phương.

Với Bắc Ninh, tỷ trọng 46,3% trước hết phản ánh mức độ tập trung rất cao của hoạt động sản xuất công nghiệp điện tử, công nghệ cao và các chuỗi cung ứng liên quan đến công nghệ trong cơ cấu kinh tế. Khi một địa phương có nhiều nhà máy điện tử, sản xuất linh kiện, thiết bị công nghệ và các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, giá trị tạo ra từ những ngành này sẽ chiếm tỷ trọng rất lớn trong GRDP. Điều đó tạo nên một mô hình tăng trưởng số khác với Hà Nội hay TP.HCM. Ở Bắc Ninh, công nghệ đi sâu vào khu vực sản xuất, từ nhà máy, dây chuyền, thiết bị, tự động hóa đến chuỗi cung ứng. Vì vậy, kinh tế số không nhất thiết phải biểu hiện bằng số lượng nền tảng trực tuyến hay doanh nghiệp phần mềm mà có thể nằm ngay trong giá trị của những sản phẩm điện tử được sản xuất và xuất khẩu.

Thái Nguyên cũng có đặc điểm tương tự khi kinh tế số chiếm 29,53% GRDP. Tỷ trọng cao cho thấy công nghiệp điện tử và các hoạt động sản xuất có hàm lượng công nghệ đang giữ vai trò đáng kể trong nền kinh tế địa phương. Đây là một trong những ví dụ cho thấy kinh tế số ở Việt Nam đang gắn chặt với quá trình tái cấu trúc công nghiệp, chứ không chỉ là câu chuyện của các doanh nghiệp công nghệ thông tin.

Tăng trưởng kinh tế số giai đoạn 2021–2025: Đóng góp 14,02% GDP
Sự phát triển của kinh tế số tại Việt Nam đang không diễn ra theo một mô hình duy nhất. Các địa phương bắt đầu hình thành những cực tăng trưởng với lợi thế và cấu trúc khác nhau.

Hải Phòng và Phú Thọ, với tỷ trọng lần lượt 22,28% và 22,71%, cho thấy một xu hướng khác đáng chú ý: công nghệ đang ngày càng gắn với các trung tâm sản xuất, logistics, công nghiệp và chuỗi cung ứng. Khi hoạt động sản xuất và lưu chuyển hàng hóa được số hóa, giá trị của công nghệ không chỉ nằm trong phần mềm mà còn nằm trong năng lực quản lý dữ liệu, tự động hóa, kết nối thiết bị và tối ưu hóa chuỗi cung ứng.

Ở chiều ngược lại, Hà Nội có tỷ trọng kinh tế số 17,34% GRDP, thấp hơn đáng kể so với Bắc Ninh nhưng không nên vì thế kết luận rằng quy mô kinh tế số của Thủ đô nhỏ hơn. Hà Nội có một cơ cấu kinh tế đa dạng hơn, với sự hiện diện đồng thời của thương mại, dịch vụ, tài chính, bất động sản, giáo dục, y tế, du lịch, công nghiệp và khu vực hành chính. Khi mẫu số là một nền kinh tế đa ngành như vậy, ngay cả khi các hoạt động số phát triển mạnh, tỷ trọng kinh tế số vẫn có thể thấp hơn những địa phương có cơ cấu tập trung cao vào điện tử và công nghệ cao.

Quan trọng hơn, Hà Nội đang hình thành một cực tăng trưởng số dựa trên dịch vụ và tri thức. Đây là nơi tập trung nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp, tổ chức tài chính và các cơ quan quản lý nhà nước. Những yếu tố này tạo ra nhu cầu lớn đối với phần mềm, dữ liệu, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, dịch vụ số và các nền tảng phục vụ quản trị. Do đó, nếu Bắc Ninh cho thấy công nghệ có thể trở thành động lực của sản xuất, thì Hà Nội cho thấy công nghệ có thể trở thành hạ tầng của nền kinh tế dịch vụ và kinh tế tri thức.

TP.HCM cũng đang đi theo hướng tương tự nhưng với quy mô và đặc điểm riêng. Tỷ trọng kinh tế số năm 2025 đạt 13,43% GRDP, thấp hơn Hà Nội và thấp hơn nhiều so với các địa phương có thế mạnh sản xuất điện tử. Tuy nhiên, TP.HCM sở hữu một hệ sinh thái doanh nghiệp lớn, thị trường tiêu dùng rộng, trung tâm tài chính, thương mại, logistics và số lượng lớn doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp công nghệ.

Vì vậy, tỷ trọng kinh tế số của TP.HCM cần được nhìn trong tương quan với quy mô và tính đa dạng của nền kinh tế đô thị. Thành phố có điều kiện để phát triển những lĩnh vực mà các trung tâm sản xuất công nghiệp khó thay thế, chẳng hạn dịch vụ tài chính số, thương mại điện tử, công nghệ tài chính, phần mềm, nền tảng số, logistics số và các dịch vụ kinh doanh dựa trên dữ liệu.

Thành tựu công nghệ đang kéo theo thay đổi về thể chế

Những con số trên giúp lý giải vì sao năm 2026 trở thành một năm đặc biệt về chính sách công nghệ. Từ 1/7/2026, Luật Chuyển đổi số năm 2025 và Luật Công nghệ cao năm 2025 cùng có hiệu lực. Trong khi đó, các quy định về viễn thông và tần số vô tuyến điện tiếp tục được hoàn thiện trong tháng 8/2026.

Nếu nhìn riêng từng đạo luật, đây có thể chỉ là những thay đổi về mặt pháp lý. Nhưng đặt trong bối cảnh kinh tế số đã đạt 14,02% GDP, công nghiệp công nghệ số đạt 198 tỷ USD, xuất khẩu sản phẩm công nghệ số khoảng 172 tỷ USD và thương mại điện tử đạt 36 tỷ USD, có thể thấy đây là bước điều chỉnh thể chế để đáp ứng một nền kinh tế đã thay đổi về quy mô. Luật Chuyển đổi số tạo cơ sở pháp lý cho quá trình số hóa trên phạm vi toàn nền kinh tế.

Tăng trưởng kinh tế số giai đoạn 2021–2025: Đóng góp 14,02% GDP
Phó Chủ tịch tỉnh Nguyễn Huy Ngọc cùng lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ thăm quan các gian trưng bày giới thiệu thành tựu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nổi bật tỉnh Phú Thọ.

Luật Công nghệ cao đặt trọng tâm vào nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và làm chủ công nghệ, phù hợp với yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng trong chuỗi sản xuất công nghệ. Còn pháp luật về viễn thông và tần số tạo hành lang cho việc phát triển hạ tầng kết nối, một yếu tố không thể thiếu khi các dịch vụ số ngày càng mở rộng.

Từ “có công nghệ” đến “làm chủ công nghệ”

Điểm đáng chú ý nhất trong bức tranh công nghệ Việt Nam hiện nay không nằm ở một con số riêng lẻ mà ở những tín hiệu cho thấy công nghệ đang trở thành động lực tăng trưởng mới. 72,1 tỷ USD là quy mô giá trị tăng thêm của kinh tế số năm 2025; 198 tỷ USD là doanh thu ngành công nghiệp công nghệ số; 172 tỷ USD là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghệ số; 36 tỷ USD là quy mô thương mại điện tử; hơn 2.100 doanh nghiệp công nghệ đã có hoạt động trên thị trường quốc tế; và khoảng 90% dân số đã được phủ sóng 5G.

Đằng sau những con số đó là những thành tựu cụ thể: thương mại điện tử mở rộng nhanh, thanh toán không dùng tiền mặt trở thành phương thức phổ biến, mạng 5G được triển khai trên diện rộng, doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ, trong khi các địa phương hình thành những trung tâm sản xuất và kinh tế số có tỷ trọng rất cao. Đây là nền tảng để Việt Nam bước sang giai đoạn tiếp theo.

Nếu giai đoạn trước tập trung nhiều vào đưa công nghệ vào đời sống, thì giai đoạn mới đòi hỏi Việt Nam phải tạo ra công nghệ, làm chủ công nghệ và đưa công nghệ Việt Nam ra thế giới. Việc Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 có 5.000 doanh nghiệp công nghệ số có doanh thu từ thị trường quốc tế, xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số tối thiểu 55 tỷ USD mỗi năm, đồng thời hình thành 5 doanh nghiệp có doanh thu quốc tế từ 1 tỷ USD/năm cho thấy hướng đi này đã được lượng hóa thành những mục tiêu cụ thể.

Sau 81 năm Quốc khánh, bức tranh công nghệ Việt Nam vì thế không chỉ được đo bằng số lượng thiết bị, đường truyền hay doanh nghiệp công nghệ. Thành tựu quan trọng hơn nằm ở việc công nghệ đang tạo ra giá trị kinh tế ngày càng lớn, hình thành những phương thức kinh doanh mới và bắt đầu tạo ra các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Những đạo luật mới trong năm 2026, xét cho cùng, chính là bước hoàn thiện thể chế để theo kịp sự thay đổi đó và tạo không gian cho một giai đoạn phát triển mới: từ ứng dụng công nghệ sang sáng tạo, làm chủ và xuất khẩu công nghệ.

Có thể bạn quan tâm

Nhận định chứng khoán 08/9: VN-Index kiểm định vùng 1.800-1.820 điểm

Nhận định chứng khoán 08/9: VN-Index kiểm định vùng 1.800-1.820 điểm

Thị trường
Sau phiên giảm 31,44 điểm, VN-Index có thể tiếp tục rung lắc ngày 08/9; vùng 1.800-1.820 điểm là khu vực cần theo dõi.
Chứng khoán 07/9: VN-Index mất 31 điểm, áp lực bán lan rộng

Chứng khoán 07/9: VN-Index mất 31 điểm, áp lực bán lan rộng

Thị trường
VN-Index đảo chiều mạnh, mất 31,44 điểm trong phiên 07/9 khi nhóm trụ, ngân hàng và bất động sản đồng loạt chịu áp lực bán.
Bosch Rexroth Việt Nam ghi nhận hơn 30 sản phẩm không chính hãng

Bosch Rexroth Việt Nam ghi nhận hơn 30 sản phẩm không chính hãng

Thị trường
Cụ thể các linh kiện giả được ghi nhận trong lĩnh vực thủy lực, truyền động và tự động hóa ngày càng được làm tinh vi, khiến việc phân biệt bằng quan sát trực quan trở nên khó khăn hơn.
Thanh tra chỉ ra thiếu sót trong một số hồ sơ tín dụng tại BIDV Kon Tum

Thanh tra chỉ ra thiếu sót trong một số hồ sơ tín dụng tại BIDV Kon Tum

Fintech
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước ghi nhận một số hồ sơ tín dụng tại BIDV Kon Tum còn hạn chế trong thẩm định, giám sát vốn vay và định giá tài sản bảo đảm.
RAM, SSD tăng giá, người mua máy tính phải cân nhắc lại cấu hình

RAM, SSD tăng giá, người mua máy tính phải cân nhắc lại cấu hình

Thị trường
Năm học mới cận kề, người mua máy tính đang phải tính toán kỹ hơn khi giá RAM và SSD tăng mạnh. Áp lực từ thị trường bộ nhớ quốc tế đã lan sang một số nhóm thiết bị tại Việt Nam, với mức tăng 15–20%, buộc nhà bán lẻ và người tiêu dùng phải cân nhắc lại giá bán, cấu hình và ngân sách trước khi ra quyết định.
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Hà Giang
Hải Phòng
Khánh Hòa
Nghệ An
Phan Thiết
Quảng Bình
Thừa Thiên Huế
Hà Nội

35°C

Cảm giác: 42°C
mây thưa
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
29°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
33°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
33°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
34°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
28°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
28°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
28°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
28°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
31°C
Thứ bảy, 12/09/2026 09:00
31°C
Thứ bảy, 12/09/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 12/09/2026 15:00
24°C
Thứ bảy, 12/09/2026 18:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 21:00
23°C
Chủ nhật, 13/09/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 13/09/2026 03:00
30°C
Chủ nhật, 13/09/2026 06:00
29°C
Chủ nhật, 13/09/2026 09:00
27°C
TP Hồ Chí Minh

32°C

Cảm giác: 39°C
mây đen u ám
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
28°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
32°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
32°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
30°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
31°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
26°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
24°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
27°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
27°C
Thứ bảy, 12/09/2026 09:00
25°C
Thứ bảy, 12/09/2026 12:00
25°C
Thứ bảy, 12/09/2026 15:00
24°C
Thứ bảy, 12/09/2026 18:00
24°C
Thứ bảy, 12/09/2026 21:00
24°C
Chủ nhật, 13/09/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 13/09/2026 03:00
24°C
Chủ nhật, 13/09/2026 06:00
24°C
Chủ nhật, 13/09/2026 09:00
24°C
Đà Nẵng

27°C

Cảm giác: 31°C
mây cụm
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
30°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
29°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
29°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
28°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
28°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
28°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
26°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
27°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
28°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
28°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
28°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
27°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
27°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
27°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
27°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
27°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
28°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
27°C
Thứ bảy, 12/09/2026 09:00
25°C
Thứ bảy, 12/09/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 12/09/2026 15:00
27°C
Thứ bảy, 12/09/2026 18:00
26°C
Thứ bảy, 12/09/2026 21:00
26°C
Chủ nhật, 13/09/2026 00:00
27°C
Chủ nhật, 13/09/2026 03:00
27°C
Chủ nhật, 13/09/2026 06:00
27°C
Chủ nhật, 13/09/2026 09:00
28°C
Hà Giang

33°C

Cảm giác: 38°C
mây thưa
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
24°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
33°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
36°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
32°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
25°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
24°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
23°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
28°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
31°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
28°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
23°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
22°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
22°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
21°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
32°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
20°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
19°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
21°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
30°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
34°C
Thứ bảy, 12/09/2026 09:00
33°C
Thứ bảy, 12/09/2026 12:00
24°C
Thứ bảy, 12/09/2026 15:00
22°C
Thứ bảy, 12/09/2026 18:00
21°C
Thứ bảy, 12/09/2026 21:00
20°C
Chủ nhật, 13/09/2026 00:00
22°C
Chủ nhật, 13/09/2026 03:00
30°C
Chủ nhật, 13/09/2026 06:00
34°C
Chủ nhật, 13/09/2026 09:00
33°C
Hải Phòng

32°C

Cảm giác: 39°C
mây cụm
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
28°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
32°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
33°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
32°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
28°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
28°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
31°C
Thứ bảy, 12/09/2026 09:00
30°C
Thứ bảy, 12/09/2026 12:00
25°C
Thứ bảy, 12/09/2026 15:00
25°C
Thứ bảy, 12/09/2026 18:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 21:00
22°C
Chủ nhật, 13/09/2026 00:00
23°C
Chủ nhật, 13/09/2026 03:00
25°C
Chủ nhật, 13/09/2026 06:00
27°C
Chủ nhật, 13/09/2026 09:00
26°C
Khánh Hòa

32°C

Cảm giác: 38°C
mây cụm
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
30°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
31°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
34°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
32°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
29°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
32°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
29°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
24°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
25°C
Thứ bảy, 12/09/2026 09:00
24°C
Thứ bảy, 12/09/2026 12:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 15:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 18:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 21:00
22°C
Chủ nhật, 13/09/2026 00:00
23°C
Chủ nhật, 13/09/2026 03:00
24°C
Chủ nhật, 13/09/2026 06:00
25°C
Chủ nhật, 13/09/2026 09:00
25°C
Nghệ An

27°C

Cảm giác: 33°C
mưa nhẹ
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
29°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
30°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
23°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
22°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
22°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
22°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
23°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
23°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
21°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
20°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
19°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
19°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
21°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
20°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
20°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
19°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
18°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
20°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
28°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
30°C
Thứ bảy, 12/09/2026 09:00
29°C
Thứ bảy, 12/09/2026 12:00
22°C
Thứ bảy, 12/09/2026 15:00
20°C
Thứ bảy, 12/09/2026 18:00
19°C
Thứ bảy, 12/09/2026 21:00
19°C
Chủ nhật, 13/09/2026 00:00
20°C
Chủ nhật, 13/09/2026 03:00
29°C
Chủ nhật, 13/09/2026 06:00
27°C
Chủ nhật, 13/09/2026 09:00
23°C
Phan Thiết

32°C

Cảm giác: 36°C
mây cụm
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
32°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
32°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
31°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
28°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
28°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
29°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
26°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
25°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
25°C
Thứ bảy, 12/09/2026 09:00
25°C
Thứ bảy, 12/09/2026 12:00
24°C
Thứ bảy, 12/09/2026 15:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 18:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 21:00
24°C
Chủ nhật, 13/09/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 13/09/2026 03:00
25°C
Chủ nhật, 13/09/2026 06:00
24°C
Chủ nhật, 13/09/2026 09:00
24°C
Quảng Bình

27°C

Cảm giác: 27°C
mây đen u ám
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
28°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
25°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
22°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
22°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
21°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
21°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
21°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
21°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
20°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
20°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
21°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
21°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
21°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
21°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
21°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
21°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 09:00
22°C
Thứ bảy, 12/09/2026 12:00
21°C
Thứ bảy, 12/09/2026 15:00
20°C
Thứ bảy, 12/09/2026 18:00
20°C
Thứ bảy, 12/09/2026 21:00
20°C
Chủ nhật, 13/09/2026 00:00
21°C
Chủ nhật, 13/09/2026 03:00
19°C
Chủ nhật, 13/09/2026 06:00
20°C
Chủ nhật, 13/09/2026 09:00
21°C
Thừa Thiên Huế

27°C

Cảm giác: 27°C
mây đen u ám
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
24°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
29°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
28°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
24°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
23°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
23°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
23°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
22°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
21°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
24°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
26°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
26°C
Thứ bảy, 12/09/2026 09:00
24°C
Thứ bảy, 12/09/2026 12:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 15:00
24°C
Thứ bảy, 12/09/2026 18:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 21:00
24°C
Chủ nhật, 13/09/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 13/09/2026 03:00
24°C
Chủ nhật, 13/09/2026 06:00
24°C
Chủ nhật, 13/09/2026 09:00
25°C

Giá vàngTỷ giá

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 ▲200K 146,600 ▲200K
Hà Nội - PNJ 143,200 ▲200K 146,600 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 143,200 ▲200K 146,600 ▲200K
Miền Tây - PNJ 143,200 ▲200K 146,600 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 143,200 ▲200K 146,600 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 ▲200K 146,600 ▲200K
Cập nhật: 08/09/2026 16:45
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 ▲10K 14,660 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 14,360 ▲10K 14,660 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 14,360 ▲10K 14,660 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 ▼40K 14,660 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 ▼40K 14,660 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 ▼40K 14,660 ▼40K
NL 99.99 13,650 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550 ▲200K
Trang sức 99.9 13,970 ▼40K 14,570 ▼40K
Trang sức 99.99 13,980 ▼40K 14,580 ▼40K
Cập nhật: 08/09/2026 16:45
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 ▲1K 14,662 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 ▲1K 14,663 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▲1288K 1,461 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▲1288K 1,462 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 ▲1K 1,451 ▲1306K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 ▲99K 143,663 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 ▲75K 108,986 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 ▲80132K 98,828 ▲88952K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 ▼70922K 8,867 ▼79742K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 ▲59K 84,752 ▲59K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 ▲42K 60,663 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Cập nhật: 08/09/2026 16:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18191 18466 19042
CAD 18283 18559 19176
CHF 31346 31725 32365
CNY 0 3827 3924
EUR 29522 29743 30826
GBP 34320 34711 35646
HKD 0 3181 3384
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14863 15448
SGD 19969 20252 20823
THB 704 767 820
USD (1,2) 25709 0 0
USD (5,10,20) 25748 0 0
USD (50,100) 25776 25790 26160
Cập nhật: 08/09/2026 16:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,780 25,780 26,160
USD(1-2-5) 24,749 - -
USD(10-20) 24,749 - -
EUR 29,556 29,580 30,985
JPY 163.9 164.2 174.14
GBP 34,487 34,580 35,777
AUD 18,376 18,442 19,141
CAD 18,460 18,519 19,201
CHF 31,587 31,685 32,619
SGD 20,081 20,143 20,934
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 751.43 760.71 814.53
NZD 14,837 14,975 15,420
SEK - 2,654 2,748
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,755 2,856
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,972.09 - 6,745.09
TWD 743.37 - 900.65
SAR - 6,796.45 7,159.27
KWD - 82,408 87,691
Cập nhật: 08/09/2026 16:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,632 29,751 30,944
GBP 34,534 34,673 35,704
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 31,559 31,686 32,611
JPY 164.77 165.43 173.41
AUD 18,387 18,461 19,058
SGD 20,172 20,253 20,850
THB 769 772 809
CAD 18,495 18,569 19,165
NZD 14,973 15,516
KRW 18.46 20.40
Cập nhật: 08/09/2026 16:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26150
AUD 18372 18472 19398
CAD 18464 18564 19580
CHF 31588 31618 33200
CNY 3809.6 3834.6 3970
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29705 29735 31460
GBP 34623 34673 36431
HKD 0 3330 0
JPY 165.02 165.52 176.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14972 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20126 20256 20979
THB 0 732.7 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14720000
SBJ 13000000 13000000 14720000
Cập nhật: 08/09/2026 16:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,764 25,794 26,150
USD20 25,744 25,794 26,150
USD1 25,694 25,794 26,150
AUD 18,415 18,515 19,624
EUR 29,499 29,599 31,258
CAD 18,419 18,519 19,824
SGD 20,199 20,349 21,050
JPY 165.65 167.15 172.74
GBP 34,524 34,674 36,173
XAU 14,348,000 0 14,652,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/09/2026 16:45