RAM, SSD tăng giá, người mua máy tính phải cân nhắc lại cấu hình

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Năm học mới cận kề, người mua máy tính đang phải tính toán kỹ hơn khi giá RAM và SSD tăng mạnh. Áp lực từ thị trường bộ nhớ quốc tế đã lan sang một số nhóm thiết bị tại Việt Nam, với mức tăng 15–20%, buộc nhà bán lẻ và người tiêu dùng phải cân nhắc lại giá bán, cấu hình và ngân sách trước khi ra quyết định.
Trí tuệ nhân tạo có thể khiến TV thế hệ tiếp theo đắt hơn Trí tuệ nhân tạo có thể khiến TV thế hệ tiếp theo đắt hơn
Thiếu hụt bộ nhớ RAM khiến doanh số PC toàn cầu giảm lần đầu sau hai năm Thiếu hụt bộ nhớ RAM khiến doanh số PC toàn cầu giảm lần đầu sau hai năm
Người Việt mua thiết bị điện tử dịp 30/4 ra sao và xu hướng nào dẫn dắt năm 2026? Người Việt mua thiết bị điện tử dịp 30/4 ra sao và xu hướng nào dẫn dắt năm 2026?

Năm 2026, giá RAMSSD tăng đang trở thành một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến thị trường máy tính. Theo nhận định từ các hệ thống bán lẻ, đợt tăng giá về bản chất vẫn mang tính chu kỳ, xuất phát từ tình trạng nguồn cung không theo kịp nhu cầu. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý nằm ở tốc độ tăng giá và khả năng chu kỳ này kéo dài hơn so với thông thường. Nhu cầu bộ nhớ phục vụ máy chủ, trung tâm dữ liệu và các hệ thống trí tuệ nhân tạo tăng mạnh khiến các nhà sản xuất ưu tiên công suất cho nhóm khách hàng này, qua đó làm gia tăng sức ép lên nguồn cung RAM và SSD dành cho laptop, PC và thị trường tiêu dùng.

Giá PC toàn cầu có thể tăng 17%

Theo các báo cáo từ thị trường bộ nhớ quốc tế được công bố, giá RAM trong quý I/2026 tăng khoảng 80–90% so với quý trước đó. Riêng RAM DDR4 dung lượng 8 GB dành cho laptop tăng khoảng 91% trong ba tháng đầu năm. Giá NAND, thành phần chính được sử dụng trong SSD, cũng được ghi nhận tăng tới 100% trong cùng giai đoạn. Sang quý II/2026, áp lực tiếp tục xuất hiện ở thị trường NAND Flash. Giá hợp đồng NAND Flash tăng khoảng 70–75% theo quý, trong khi SSD NVMe Gen4 512 GB dành cho người dùng cá nhân được ghi nhận tăng khoảng 54%. Diễn biến mới nhất cho thấy tốc độ tăng NAND đã có dấu hiệu chậm lại trong quý III, với mức tăng khoảng 10–15%, sau các mức tăng cao trong những quý trước. Điều này cho thấy giá bộ nhớ vẫn chịu áp lực nhưng diễn biến giá không đồng nhất qua từng giai đoạn.

Thị trường tiêu dùng Việt Nam cũng không nằm ngoài dư địa ảnh hưởng trước làn sóng tăng giá. Theo khảo sát và ghi nhận của phóng viên Tạp chí Điện tử và Ứng dụng, giá RAM đang tăng mạnh ở mức đáng chú ý tại nhiều hệ thống bán lẻ không chỉ riêng từ những thị trường lớn như thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội mà trên toàn quốc. Cùng với đó, một số nhóm thiết bị thuộc phân khúc tầm trung và các model sử dụng cấu hình bộ nhớ tăng cao tăng khoảng 15–20%. Thực tế, trên thị trường bán lẻ hiện có những mẫu laptop RAM 16 GB, SSD 512 GB nằm trong khoảng giá 15–20 triệu đồng, trong đó một số sản phẩm đang được niêm yết thấp hơn giá tham chiếu của nhà sản xuất. Điều này cho thấy giá bán thực tế còn phụ thuộc vào từng model, chương trình bán hàng và thời điểm nhập hàng. Vì vậy, tác động của giá RAM và SSD lên người tiêu dùng Việt Nam cần được nhìn theo từng nhóm sản phẩm thay vì áp dụng một tỷ lệ tăng giá chung cho toàn thị trường.

Giá RAM, SSD tăng: Người mua hạ cấu hình, nhà bán lẻ chịu sức ép lợi nhuận

Với PC lắp ráp, tác động từ giá linh kiện thường thể hiện nhanh hơn do giá bán được cập nhật theo từng lô hàng. Trong khi đó, laptop có độ trễ nhất định bởi thị trường vẫn còn lượng hàng được nhập từ trước với mức giá đầu vào thấp hơn. Khi các lô hàng mới có chi phí cao hơn được đưa ra thị trường, áp lực tăng giá mới thể hiện rõ hơn trên giá bán. Trước áp lực chi phí linh kiện, các hãng có xu hướng tính toán lại cấu hình theo từng phân khúc nhằm duy trì mức giá phù hợp với khả năng chi trả của người dùng. Các phiên bản RAM 8 GB hoặc SSD 256 GB có thể được sử dụng nhiều hơn ở nhóm sản phẩm phổ thông, trong khi RAM 16 GB và SSD 512 GB được định vị ở những phân khúc cao hơn. Tuy nhiên, thực tế thị trường Việt Nam cho thấy các lựa chọn này vẫn cùng tồn tại ở nhiều khoảng giá, từ máy RAM 8 GB, SSD 512 GB đến RAM 16 GB, SSD 512 GB. Điều đó cho thấy thị trường chưa chuyển dịch hoàn toàn sang các cấu hình thấp hơn mà đang duy trì nhiều lựa chọn để đáp ứng những nhu cầu và mức ngân sách khác nhau.

Trao đổi với phóng viên Điện tử và Ứng dụng, ông Trần Khánh Hưng, đại diện Công ty Cổ phần Thương mại máy tính An Phát, cho biết: “Giá tăng không đồng nghĩa người tiêu dùng dừng mua máy tính. Học sinh, sinh viên, người đi làm và doanh nghiệp vẫn có nhu cầu sử dụng thiết bị. Thay đổi chủ yếu nằm ở cách lựa chọn. Với cùng một ngân sách, khách hàng có thể phải lựa chọn cấu hình thấp hơn hoặc giảm số lượng thiết bị mua. Chẳng hạn, người từng dự kiến mua một bộ PC Core i5 với ngân sách 20 triệu đồng có thể chuyển sang Core i3 hoặc giảm một số thành phần cấu hình. Doanh nghiệp dự kiến mua 15 máy cũng có thể điều chỉnh số lượng, chia thành nhiều đợt hoặc kéo dài thời gian thay thế”.

RAM, SSD tăng giá, người mua máy tính phải cân nhắc lại cấu hình

Giá tăng không đồng nghiã với người dùng dừng mua máy tính.

Trong khi người tiêu dùng phải cân nhắc giữa cấu hình, số lượng và thời điểm mua, nhà bán lẻ lại chịu sức ép trực tiếp lên lợi nhuận khi chi phí đầu vào tăng. Khi giá nhập linh kiện liên tục đi lên, lợi nhuận trên mỗi sản phẩm sẽ bị thu hẹp nếu doanh nghiệp không điều chỉnh giá bán. Nhà bán lẻ có thể chấp nhận giảm một phần lợi nhuận ở một số mặt hàng trong từng giai đoạn để duy trì sức mua và khả năng cạnh tranh, nhưng khả năng hấp thụ chi phí không phải là vô hạn. Bên cạnh giá nhập, doanh nghiệp vẫn phải duy trì các khoản chi cho vận hành, nhân sự, logistics, bảo hành và dịch vụ sau bán hàng. Nếu giá linh kiện tiếp tục tăng trong thời gian dài, dư địa để doanh nghiệp giữ giá sẽ ngày càng thu hẹp, qua đó tạo thêm áp lực lên giá bán đến tay người tiêu dùng.

Để hạn chế tác động này, An Phát Computer phối hợp với các hãng và nhà phân phối, tập trung vào những cấu hình có mức giá dễ tiếp cận hơn, đồng thời kết hợp các chính sách như trả góp, quà tặng và gói dịch vụ nhằm gia tăng giá trị cho khách hàng. Tuy nhiên, trong bối cảnh giá RAM và SSD tăng, việc giữ nguyên cấu hình mà không điều chỉnh giá bán sẽ ngày càng khó khăn. Điều này cũng buộc các hãng phải tính toán lại cách xây dựng cấu hình theo từng phân khúc, nhằm cân bằng giữa chi phí linh kiện, mức giá mục tiêu và nhu cầu thực tế của người dùng.

Xu hướng điều chỉnh cấu hình đã bắt đầu xuất hiện

Trước áp lực chi phí linh kiện, các hãng có xu hướng tính toán lại cấu hình theo từng phân khúc nhằm duy trì mức giá phù hợp với khả năng chi trả của người dùng. Các phiên bản RAM 8 GB hoặc SSD 256 GB có thể được sử dụng nhiều hơn ở nhóm sản phẩm phổ thông, trong khi RAM 16 GB và SSD 512 GB được định vị ở những phân khúc cao hơn. Tuy nhiên, thực tế thị trường Việt Nam cho thấy các lựa chọn này vẫn cùng tồn tại ở nhiều khoảng giá, từ máy RAM 8 GB, SSD 512 GB đến RAM 16 GB, SSD 512 GB. Điều đó cho thấy thị trường chưa chuyển dịch hoàn toàn sang các cấu hình thấp hơn mà đang duy trì nhiều lựa chọn để đáp ứng những nhu cầu và mức ngân sách khác nhau.

Theo nhận định của nhiều doanh nghiệp bán lẻ, RAM 8 GB và SSD 256 GB hiện gần như đã trở thành ngưỡng thấp đối với laptop mới. Vì vậy, việc tiếp tục cắt giảm thông số để giữ giá có thể ảnh hưởng đến trải nghiệm sử dụng, trong khi khả năng tiết giảm đã không còn nhiều. Thay vào đó, người mua có thể ưu tiên những mẫu máy hỗ trợ nâng cấp RAM hoặc bộ nhớ lưu trữ, qua đó lựa chọn mức cấu hình phù hợp với ngân sách hiện tại và nâng cấp khi nhu cầu tăng lên.

RAM, SSD tăng giá, người mua máy tính phải cân nhắc lại cấu hình
Dù thuộc phân khúc phổ thông Acer Aspire Lite 14 AL14-52M-52UU là mẫu laptop văn phòng hướng tới người dùng học tập, văn phòng và làm việc di động với mức giá cực kỳ dễ tiếp cận, chỉ khoảng 18 triệu đồng.

Với những người đã có nhu cầu rõ ràng phục vụ học tập hoặc công việc, việc trì hoãn mua máy chỉ để chờ giá RAM và SSD giảm chưa chắc mang lại lợi ích, bởi hiện chưa thể xác định thời điểm giá có thể hạ nhiệt. Thay vì chạy theo những cấu hình cao, người mua có thể ưu tiên thiết bị đáp ứng đúng nhu cầu và phù hợp với ngân sách, đồng thời kiểm tra kỹ nguồn gốc, hóa đơn, chính sách bảo hành và khả năng nâng cấp về sau. Đối với doanh nghiệp, trường học hoặc các đơn hàng dự án, yêu cầu về nguồn gốc và chất lượng sản phẩm càng cần được chú trọng. Các giấy tờ như CO, CQ cùng hồ sơ chứng minh nguồn gốc, chất lượng thiết bị là những yếu tố cần được kiểm tra trước khi đưa ra quyết định mua sắm.

Trong bối cảnh này, các chương trình ưu đãi cũng cần hướng đến giá trị thực tế thay vì chỉ tập trung vào mức giảm niêm yết. Những chính sách như trợ giá theo từng mẫu máy, trả góp, hỗ trợ nâng cấp RAM hoặc SSD và các gói bảo hành có thể giúp giảm áp lực chi phí ban đầu, đặc biệt với nhóm khách hàng đã xác định rõ nhu cầu mua. Tuy nhiên, các giải pháp này chủ yếu hỗ trợ quyết định mua sắm đã hình thành, khó tạo ra nhu cầu mới khi ngân sách của người tiêu dùng đang chịu sức ép.

Hệ thống lớn có lợi thế về nguồn hàng

Giá linh kiện tăng tạo lợi thế nhất định cho những hệ thống có quy mô đặt hàng lớn, nguồn vốn tốt và khả năng phối hợp chặt chẽ với hãng, nhà phân phối. Việc chủ động nhập hàng khi mặt bằng giá còn thuận lợi có thể giúp doanh nghiệp bảo đảm nguồn cung và duy trì giá bán ổn định trong thời gian dài khi thị trường biến động.

Tuy nhiên, tồn kho lớn chỉ trở thành lợi thế nếu doanh nghiệp dự báo đúng nhu cầu và lựa chọn đúng sản phẩm. Nếu lượng hàng tập trung vào các mẫu cũ hoặc cấu hình khó bán, vốn sẽ bị đọng trong kho và tạo thêm áp lực lên dòng tiền. Ngược lại, giảm nhập quá mạnh để hạn chế rủi ro cũng có thể khiến doanh nghiệp thiếu những sản phẩm bán tốt khi bước vào mùa mua sắm cao điểm.

Với các đơn vị quy mô nhỏ, lượng nhập hạn chế và khả năng đàm phán giá thấp hơn khiến áp lực chi phí lớn hơn, thay vì cạnh tranh trực tiếp bằng giá, các cửa hàng cần tăng cường hợp tác với các hãng và nhà phân phối chính thức, đồng thời tập trung vào những sản phẩm, dịch vụ có thế mạnh để duy trì sức cạnh tranh.

Theo một số nhận định chuyên gia kinh tế, rủi ro lớn đối với nhà bán lẻ trong những tháng cuối năm không nằm riêng ở giá linh kiện tăng, nguồn cung thiếu hay sức mua suy yếu, mà ở khả năng các yếu tố này xuất hiện đồng thời. Nếu tiếp tục nhập hàng, doanh nghiệp có thể phải mua với giá cao trong khi tốc độ bán chậm lại. Nhưng nếu giảm nhập quá mạnh, doanh nghiệp lại có nguy cơ thiếu những mẫu máy bán tốt khi nhu cầu tăng vào mùa mua sắm cuối năm.

Không những vậy, rủi ro còn nằm ở cơ cấu tồn kho. Doanh nghiệp có thể tồn nhiều mẫu máy cũ hoặc cấu hình khó bán trong khi những sản phẩm có mức giá và cấu hình phù hợp với nhu cầu thực tế lại thiếu hàng. Vì vậy, bài toán quan trọng trong giai đoạn này không chỉ là nhập được hàng với giá tốt mà còn phải kiểm soát chặt cơ cấu sản phẩm, vòng quay tồn kho và dòng tiền. Một quyết định nhập hàng không phù hợp có thể khiến doanh nghiệp vừa chịu chi phí đầu vào cao, vừa phải kéo dài thời gian bán hàng hoặc tăng mức giảm giá để giải phóng tồn kho. Trong bối cảnh đó, khả năng quản trị hàng hóa và dòng tiền sẽ trở thành yếu tố quyết định việc nhà bán lẻ có thể duy trì giá bán cạnh tranh mà không phải hy sinh quá nhiều lợi nhuận hay không.

Có thể bạn quan tâm

Nhận định chứng khoán tuần 7-11/9: VN-Index thử thách vùng 1.860-1.900 điểm

Nhận định chứng khoán tuần 7-11/9: VN-Index thử thách vùng 1.860-1.900 điểm

Thị trường
VN-Index bước vào tuần 7-11/9 từ mức 1.853,08 điểm, cách vùng đỉnh lịch sử quanh 1.900 điểm chưa tới 50 điểm, trong khi thanh khoản HoSE phiên gần nhất giảm 4,38%.
Vingroup đưa vốn hóa doanh nghiệp Việt vượt 2 triệu tỷ đồng

Vingroup đưa vốn hóa doanh nghiệp Việt vượt 2 triệu tỷ đồng

Thị trường
Cổ phiếu VIC chạm 260.000 đồng trong sáng 4/9, đưa vốn hóa Vingroup lần đầu vượt 2 triệu tỷ đồng. Cột mốc mới cho thấy sức ảnh hưởng lớn của một cổ phiếu trụ, nhưng không đồng nghĩa doanh nghiệp có 2 triệu tỷ đồng tiền mặt.
Chứng khoán 04/9: VN-Index vượt 1.850 điểm, cổ phiếu vẫn phân hóa

Chứng khoán 04/9: VN-Index vượt 1.850 điểm, cổ phiếu vẫn phân hóa

Thị trường
VN-Index tăng 25,36 điểm lên 1.853,08 điểm nhờ nhóm vốn hóa lớn, nhưng độ rộng HoSE vẫn nghiêng về phía giảm và thanh khoản suy yếu.
Chứng khoán tuần 3-4/9: VN-Index lên 1.853 điểm, dòng tiền dồn vào nhóm Vingroup

Chứng khoán tuần 3-4/9: VN-Index lên 1.853 điểm, dòng tiền dồn vào nhóm Vingroup

Thị trường
Tuần giao dịch chỉ có hai phiên khép lại với VN-Index tại 1.853,08 điểm, tăng 20,96 điểm so với tuần trước, trong khi phiên cuối tuần vẫn có 176 mã giảm giá trên sàn HoSE.
Nhận định chứng khoán 4/9: VN-Index giữ SMA 100 ngày sau nến rút chân

Nhận định chứng khoán 4/9: VN-Index giữ SMA 100 ngày sau nến rút chân

Thị trường
Nhận định chứng khoán 4/9 đặt trên một nền kỹ thuật hai mặt, VN-Index trụ được trên SMA 100 ngày nhờ nến rút chân dài, song Stochastic Oscillator suy yếu trong vùng quá mua và khối ngoại quay đầu bán ròng 1.562 tỷ đồng.
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Hà Giang
Hải Phòng
Khánh Hòa
Nghệ An
Phan Thiết
Quảng Bình
Hà Nội

34°C

Cảm giác: 39°C
bầu trời quang đãng
Thứ ba, 08/09/2026 00:00
27°C
Thứ ba, 08/09/2026 03:00
32°C
Thứ ba, 08/09/2026 06:00
35°C
Thứ ba, 08/09/2026 09:00
35°C
Thứ ba, 08/09/2026 12:00
29°C
Thứ ba, 08/09/2026 15:00
27°C
Thứ ba, 08/09/2026 18:00
26°C
Thứ ba, 08/09/2026 21:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
32°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
34°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
33°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
28°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
31°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
30°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
28°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
31°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
31°C
TP Hồ Chí Minh

36°C

Cảm giác: 43°C
mây đen u ám
Thứ ba, 08/09/2026 00:00
27°C
Thứ ba, 08/09/2026 03:00
33°C
Thứ ba, 08/09/2026 06:00
33°C
Thứ ba, 08/09/2026 09:00
33°C
Thứ ba, 08/09/2026 12:00
31°C
Thứ ba, 08/09/2026 15:00
29°C
Thứ ba, 08/09/2026 18:00
27°C
Thứ ba, 08/09/2026 21:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
33°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
33°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
32°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
31°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
28°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
29°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
33°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
27°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
26°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
26°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
25°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
27°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
28°C
Đà Nẵng

30°C

Cảm giác: 36°C
mây đen u ám
Thứ ba, 08/09/2026 00:00
28°C
Thứ ba, 08/09/2026 03:00
30°C
Thứ ba, 08/09/2026 06:00
30°C
Thứ ba, 08/09/2026 09:00
30°C
Thứ ba, 08/09/2026 12:00
28°C
Thứ ba, 08/09/2026 15:00
26°C
Thứ ba, 08/09/2026 18:00
26°C
Thứ ba, 08/09/2026 21:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
30°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
30°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
30°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
28°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
28°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
28°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
27°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
26°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
27°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
28°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
27°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
27°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
27°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
26°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
27°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
28°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
29°C
Thừa Thiên Huế

30°C

Cảm giác: 34°C
mưa nhẹ
Thứ ba, 08/09/2026 00:00
25°C
Thứ ba, 08/09/2026 03:00
32°C
Thứ ba, 08/09/2026 06:00
33°C
Thứ ba, 08/09/2026 09:00
28°C
Thứ ba, 08/09/2026 12:00
25°C
Thứ ba, 08/09/2026 15:00
24°C
Thứ ba, 08/09/2026 18:00
23°C
Thứ ba, 08/09/2026 21:00
23°C
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
25°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
32°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
28°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
24°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
23°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
23°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
29°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
23°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
22°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
22°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
21°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
26°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
26°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
26°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
27°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
30°C
Hà Giang

35°C

Cảm giác: 38°C
mây rải rác
Thứ ba, 08/09/2026 00:00
25°C
Thứ ba, 08/09/2026 03:00
32°C
Thứ ba, 08/09/2026 06:00
36°C
Thứ ba, 08/09/2026 09:00
35°C
Thứ ba, 08/09/2026 12:00
28°C
Thứ ba, 08/09/2026 15:00
25°C
Thứ ba, 08/09/2026 18:00
24°C
Thứ ba, 08/09/2026 21:00
24°C
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
24°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
31°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
33°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
29°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
25°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
25°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
24°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
23°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
29°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
31°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
30°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
22°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
22°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
29°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
32°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
21°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
21°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
20°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
22°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
33°C
Hải Phòng

31°C

Cảm giác: 35°C
mây đen u ám
Thứ ba, 08/09/2026 00:00
27°C
Thứ ba, 08/09/2026 03:00
32°C
Thứ ba, 08/09/2026 06:00
34°C
Thứ ba, 08/09/2026 09:00
30°C
Thứ ba, 08/09/2026 12:00
27°C
Thứ ba, 08/09/2026 15:00
27°C
Thứ ba, 08/09/2026 18:00
26°C
Thứ ba, 08/09/2026 21:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
31°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
33°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
31°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
29°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
27°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
23°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
28°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
31°C
Khánh Hòa

33°C

Cảm giác: 37°C
mây đen u ám
Thứ ba, 08/09/2026 00:00
29°C
Thứ ba, 08/09/2026 03:00
35°C
Thứ ba, 08/09/2026 06:00
35°C
Thứ ba, 08/09/2026 09:00
29°C
Thứ ba, 08/09/2026 12:00
26°C
Thứ ba, 08/09/2026 15:00
28°C
Thứ ba, 08/09/2026 18:00
26°C
Thứ ba, 08/09/2026 21:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
29°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
34°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
34°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
24°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
24°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
24°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
32°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
33°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
25°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
33°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
29°C
Nghệ An

29°C

Cảm giác: 32°C
mưa nhẹ
Thứ ba, 08/09/2026 00:00
23°C
Thứ ba, 08/09/2026 03:00
29°C
Thứ ba, 08/09/2026 06:00
29°C
Thứ ba, 08/09/2026 09:00
27°C
Thứ ba, 08/09/2026 12:00
24°C
Thứ ba, 08/09/2026 15:00
23°C
Thứ ba, 08/09/2026 18:00
22°C
Thứ ba, 08/09/2026 21:00
22°C
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
29°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
31°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
23°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
23°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
22°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
22°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
23°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
28°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
29°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
22°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
21°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
20°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
20°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
21°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
26°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
20°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
19°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
19°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
18°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
20°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
27°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
30°C
Phan Thiết

34°C

Cảm giác: 39°C
mây rải rác
Thứ ba, 08/09/2026 00:00
28°C
Thứ ba, 08/09/2026 03:00
32°C
Thứ ba, 08/09/2026 06:00
34°C
Thứ ba, 08/09/2026 09:00
32°C
Thứ ba, 08/09/2026 12:00
28°C
Thứ ba, 08/09/2026 15:00
27°C
Thứ ba, 08/09/2026 18:00
26°C
Thứ ba, 08/09/2026 21:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
32°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
34°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
32°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
28°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
28°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
29°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
28°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
28°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
28°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
27°C
Quảng Bình

28°C

Cảm giác: 31°C
mưa nhẹ
Thứ ba, 08/09/2026 00:00
23°C
Thứ ba, 08/09/2026 03:00
29°C
Thứ ba, 08/09/2026 06:00
28°C
Thứ ba, 08/09/2026 09:00
26°C
Thứ ba, 08/09/2026 12:00
23°C
Thứ ba, 08/09/2026 15:00
22°C
Thứ ba, 08/09/2026 18:00
22°C
Thứ ba, 08/09/2026 21:00
21°C
Thứ tư, 09/09/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 09/09/2026 03:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 06:00
26°C
Thứ tư, 09/09/2026 09:00
25°C
Thứ tư, 09/09/2026 12:00
23°C
Thứ tư, 09/09/2026 15:00
22°C
Thứ tư, 09/09/2026 18:00
21°C
Thứ tư, 09/09/2026 21:00
21°C
Thứ năm, 10/09/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 10/09/2026 03:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 06:00
25°C
Thứ năm, 10/09/2026 09:00
24°C
Thứ năm, 10/09/2026 12:00
21°C
Thứ năm, 10/09/2026 15:00
21°C
Thứ năm, 10/09/2026 18:00
21°C
Thứ năm, 10/09/2026 21:00
20°C
Thứ sáu, 11/09/2026 00:00
21°C
Thứ sáu, 11/09/2026 03:00
24°C
Thứ sáu, 11/09/2026 06:00
23°C
Thứ sáu, 11/09/2026 09:00
22°C
Thứ sáu, 11/09/2026 12:00
21°C
Thứ sáu, 11/09/2026 15:00
21°C
Thứ sáu, 11/09/2026 18:00
21°C
Thứ sáu, 11/09/2026 21:00
21°C
Thứ bảy, 12/09/2026 00:00
21°C
Thứ bảy, 12/09/2026 03:00
21°C
Thứ bảy, 12/09/2026 06:00
21°C

Giá vàngTỷ giá

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▼600K 146,900 ▼700K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▼600K 146,900 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▼600K 146,900 ▼700K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▼600K 146,900 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▼600K 146,900 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▼600K 146,900 ▼700K
Cập nhật: 07/09/2026 14:00
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▼60K 14,700 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▼60K 14,700 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▼60K 14,700 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▼60K 14,750 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▼60K 14,750 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▼60K 14,750 ▼60K
NL 99.99 13,500 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▼100K
Trang sức 99.9 14,060 ▼60K 14,660 ▼60K
Trang sức 99.99 14,070 ▼60K 14,670 ▼60K
Cập nhật: 07/09/2026 14:00
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1302K 147 ▼1329K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1302K 14,702 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1302K 14,703 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▼6K 1,465 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▼6K 1,466 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1275K 1,455 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,059 ▼594K 144,059 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,486 ▼450K 109,286 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 893 ▼88815K 991 ▼98517K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,114 ▲71166K 88,914 ▲79986K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,185 ▼350K 84,985 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,103 ▼25K 6,083 ▼25K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1302K 147 ▼1329K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1302K 147 ▼1329K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1302K 147 ▼1329K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1302K 147 ▼1329K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1302K 147 ▼1329K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1302K 147 ▼1329K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1302K 147 ▼1329K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1302K 147 ▼1329K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1302K 147 ▼1329K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1302K 147 ▼1329K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1302K 147 ▼1329K
Cập nhật: 07/09/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18231 18506 19079
CAD 18293 18569 19186
CHF 31487 31867 32509
CNY 0 3838 3934
EUR 29611 29832 30910
GBP 34390 34781 35715
HKD 0 3192 3394
JPY 160 163 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14989 15579
SGD 20007 20290 20866
THB 707 770 824
USD (1,2) 25786 0 0
USD (5,10,20) 25825 0 0
USD (50,100) 25853 25867 26232
Cập nhật: 07/09/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,675 29,699 31,107
JPY 162.54 162.83 172.68
GBP 34,586 34,680 35,881
AUD 18,429 18,496 19,194
CAD 18,486 18,545 19,230
CHF 31,776 31,875 32,816
SGD 20,144 20,207 20,998
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,256 3,266 3,403
KRW 17.97 18.74 20.38
THB 755.66 764.99 818.58
NZD 14,976 15,115 15,566
SEK - 2,675 2,769
DKK - 3,981 4,121
NOK - 2,753 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,017.36 - 6,796.77
TWD 743.89 - 901.23
SAR - 6,820.9 7,185.05
KWD - 82,642 87,935
Cập nhật: 07/09/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,717 29,836 31,030
GBP 34,607 34,746 35,778
HKD 3,256 3,269 3,385
CHF 31,641 31,768 32,693
JPY 163.05 163.70 171.66
AUD 18,435 18,509 19,106
SGD 20,216 20,297 20,894
THB 772 775 812
CAD 18,501 18,575 19,169
NZD 15,073 15,618
KRW 18.64 20.61
Cập nhật: 07/09/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25860 25860 26220
AUD 18390 18490 19421
CAD 18463 18563 19574
CHF 31707 31737 33323
CNY 3818.8 3843.8 3979.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29781 29811 31534
GBP 34671 34721 36481
HKD 0 3330 0
JPY 163.22 163.72 174.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.5 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15074 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20157 20287 21009
THB 0 735.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Cập nhật: 07/09/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,841 25,871 26,850
USD20 25,821 25,871 26,850
USD1 25,771 25,871 26,850
AUD 18,457 18,557 19,665
EUR 29,584 29,684 31,122
CAD 18,417 18,517 19,825
SGD 20,244 20,394 21,678
JPY 163.78 165.28 170.83
GBP 34,579 34,729 35,795
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,730 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/09/2026 14:00