Giá smartphone tăng cản trở phổ cập Internet di động

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Giá smartphone đang tăng theo nhu cầu bộ nhớ phục vụ trí tuệ nhân tạo, khiến mục tiêu đưa Internet di động đến 3,4 tỷ người chưa kết nối trở nên khó khăn hơn.
Thiếu chip nhớ kéo thị trường smartphone sụt giảm năm 2026 Top 5 điện thoại vừa túi tiền cho sinh viên mùa tựu trường 2026 Tâm lý đón nhận cái mới và sự dịch chuyển của thị trường di động

Theo báo cáo "Tình trạng kết nối Internet di động năm 2026" của GSMA, nỗ lực đưa trí tuệ nhân tạo đến với người dùng trên toàn cầu có nguy cơ làm gia tăng khoảng cách số. Chi phí bộ nhớ và chipset tăng cao đang làm gia tăng giá thành smartphone, qua đó có thể khiến thiết bị kết nối Internet trở nên khó tiếp cận hơn đối với hàng tỷ người tại các thị trường mới nổi.

Báo cáo dựa trên khảo sát trực tiếp hơn 16.200 người tại 14 quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, cùng Chỉ số kết nối di động (MCI), bộ chỉ số đánh giá 32 tiêu chí tại 174 quốc gia, chiếm 99% dân số thế giới.

Hơn 3 tỷ người có mạng nhưng chưa sử dụng Internet di động

Năm 2025, khoảng 4,8 tỷ người, tương đương 59% dân số thế giới, sử dụng Internet di động trên thiết bị của riêng mình. Tuy nhiên, tốc độ mở rộng kết nối đang chậm lại. Chỉ khoảng 160 triệu người bắt đầu sử dụng Internet trên điện thoại trong năm 2025, giảm từ 190 triệu người của năm 2024. Khoảng 90% số người dùng mới đến từ các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, nơi tập trung phần lớn dân số chưa được kết nối.

Hạ tầng viễn thông không còn là trở ngại lớn nhất đối với việc mở rộng Internet di động. Trong 3,4 tỷ người chưa sử dụng Internet di động, hơn 90% đang sống trong vùng phủ sóng băng rộng di động. GSMA xác định 3,1 tỷ người, tương đương 38% dân số thế giới, thuộc khoảng cách sử dụng, tức có mạng nhưng chưa sử dụng Internet di động. Trong khi đó, số người hoàn toàn nằm ngoài vùng phủ sóng chỉ còn 270 triệu, tương đương 3% dân số thế giới.

Kết nối Internet di động toàn cầu giai đoạn 2015 đến 2025. Tỷ lệ người dùng (màu đỏ) tăng từ 33% lên 59%, tương đương 4,85 tỷ người, trong khi khoảng cách sử dụng (màu cam) còn 38%, tương đương 3,1 tỷ người, và khoảng cách phủ sóng (màu xám) còn 3%, tương đương 270 triệu người. Nguồn GSMA Intelligence
Kết nối Internet di động toàn cầu giai đoạn 2015 đến 2025. Tỷ lệ người dùng (màu đỏ) tăng từ 33% lên 59%, tương đương 4,85 tỷ người, trong khi khoảng cách sử dụng (màu cam) còn 38%, tương đương 3,1 tỷ người, và khoảng cách phủ sóng (màu xám) còn 3%, tương đương 270 triệu người. Nguồn GSMA Intelligence

Mạng lưới tiếp tục mở rộng khi 5G phủ thêm 690 triệu người trong năm 2025, nâng tổng độ phủ lên 57% dân số thế giới, tương đương 4,7 tỷ người. Trong khi đó, 4G đã phủ tới 94% dân số toàn cầu. Tốc độ tải xuống trung bình trên toàn cầu tăng 22%, tương đương 14 Mbps. Tuy nhiên, người dùng tại các quốc gia thu nhập cao vẫn có tốc độ tải xuống cao gấp khoảng 3,5 lần so với người dùng tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình.

Chiếc điện thoại đang trở thành trở ngại chính trong việc mở rộng Internet di động. Khoảng 70% số người thuộc khoảng cách sử dụng không sở hữu thiết bị riêng. Trong đó, 2,2 tỷ người hoàn toàn không có điện thoại, còn 920 triệu người có điện thoại nhưng không thể hoặc không sử dụng thiết bị để truy cập Internet. Ngoài ra, 650 triệu người, tương đương 8% dân số thế giới, chỉ truy cập Internet bằng điện thoại mượn hoặc thiết bị dùng chung, giảm từ 690 triệu người vào năm 2024.

Châu Á tập trung phần lớn số người chưa sử dụng Internet di động toàn cầu

Chỉ 20 quốc gia chiếm 68% số người thuộc khoảng cách sử dụng Internet di động trên toàn cầu, trong đó châu Á tập trung phần lớn. Ấn Độ có khoảng 710 triệu người sống trong vùng phủ sóng băng rộng di động nhưng chưa sử dụng Internet di động. Trung Quốc đứng tiếp theo với 200 triệu người, Pakistan 140 triệu người, Bangladesh 120 triệu người và Indonesia 110 triệu người.

Khoảng cách sử dụng Internet di động theo quốc gia năm 2025, tính bằng triệu người. Ấn Độ dẫn đầu với 710 triệu người, tiếp theo là Trung Quốc 200 triệu, Pakistan và Nigeria cùng 140 triệu, Bangladesh 120 triệu và Indonesia 110 triệu. 20 quốc gia (màu đỏ) chiếm 68% khoảng cách sử dụng toàn cầu. Nguồn GSMA Intelligence
Khoảng cách sử dụng Internet di động theo quốc gia năm 2025, tính bằng triệu người. Ấn Độ dẫn đầu với 710 triệu người, tiếp theo là Trung Quốc 200 triệu, Pakistan và Nigeria cùng 140 triệu, Bangladesh 120 triệu và Indonesia 110 triệu. 20 quốc gia (màu đỏ) chiếm 68% khoảng cách sử dụng toàn cầu. Nguồn GSMA Intelligence

Tại Đông Á và Thái Bình Dương, 79% dân số đã sử dụng Internet di động, trong khi khoảng cách sử dụng chiếm 20% và khoảng cách phủ sóng chiếm 1%. Tại Nam Á, tỷ lệ người sử dụng Internet di động mới đạt 46%, còn 51% dân số đã nằm trong vùng phủ sóng băng rộng di động nhưng chưa sử dụng Internet. Đông Nam Á từng có tốc độ tăng trưởng người dùng cao trong những năm trước, nhưng mức tăng đã giảm từ 6 điểm phần trăm năm 2024 xuống 2 điểm phần trăm năm 2025, bằng mức tăng của phần còn lại trên thế giới.

Kết nối Internet di động theo khu vực giai đoạn 2023 đến 2025. Năm 2025, Đông Á và Thái Bình Dương có 79% dân số dùng Internet di động, khoảng cách sử dụng 20% và khoảng cách phủ sóng 1%. Nam Á chỉ đạt 46% người dùng, trong khi khoảng cách sử dụng lên tới 51%. Nguồn GSMA Intelligence
Kết nối Internet di động theo khu vực giai đoạn 2023 đến 2025. Năm 2025, Đông Á và Thái Bình Dương có 79% dân số dùng Internet di động, khoảng cách sử dụng 20% và khoảng cách phủ sóng 1%. Nam Á chỉ đạt 46% người dùng, trong khi khoảng cách sử dụng lên tới 51%. Nguồn GSMA Intelligence

Khoảng cách sử dụng Internet di động giữa thành thị và nông thôn không còn giảm trong năm 2025. Năm 2025, người trưởng thành ở nông thôn tại các nước thu nhập thấp và trung bình có khả năng dùng Internet di động thấp hơn 28% so với người ở thành thị, tăng 1 điểm phần trăm so với năm trước đó. Nam Á chứng kiến khoảng cách nới rộng mạnh nhất, khi con số ở Ấn Độ tăng từ 13% lên 21% và ở Bangladesh từ 32% lên 41%, bởi người dùng thành thị tăng nhanh hơn hẳn người dùng nông thôn.

Chênh lệch nông thôn và thành thị trong việc dùng Internet di động tại các nước thu nhập thấp và trung bình, giai đoạn 2017 đến 2025. Toàn nhóm nước tăng từ 27% năm 2024 lên 28% năm 2025, còn Nam Á nới rộng từ 16% lên 23%. Nguồn GSMA Intelligence
Chênh lệch nông thôn và thành thị trong việc dùng Internet di động tại các nước thu nhập thấp và trung bình, giai đoạn 2017 đến 2025. Toàn nhóm nước tăng từ 27% năm 2024 lên 28% năm 2025, còn Nam Á nới rộng từ 16% lên 23%. Nguồn GSMA Intelligence

Phụ nữ và người thu nhập thấp chịu ảnh hưởng lớn trong khoảng cách số

Tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, phụ nữ có khả năng sử dụng Internet di động thấp hơn nam giới 12%, tương đương chênh lệch khoảng 200 triệu người dùng. Trong số 810 triệu phụ nữ tại các quốc gia này chưa sử dụng Internet, hơn 2/3 sống ở châu Phi cận Sahara và Nam Á. Phụ nữ chiếm 58% số người trưởng thành thuộc khoảng cách sử dụng, và tỷ lệ này cao hơn nam giới tại tất cả các khu vực trên thế giới.

Phân bổ khoảng cách sử dụng ở người trưởng thành theo giới năm 2025. Phụ nữ (màu đỏ sẫm) chiếm 58% trong toàn nhóm nước thu nhập thấp và trung bình, và chiếm 60% ở Nam Á cũng như Đông Á và Thái Bình Dương. Nguồn GSMA Intelligence
Phân bổ khoảng cách sử dụng ở người trưởng thành theo giới năm 2025. Phụ nữ (màu đỏ sẫm) chiếm 58% trong toàn nhóm nước thu nhập thấp và trung bình, và chiếm 60% ở Nam Á cũng như Đông Á và Thái Bình Dương. Nguồn GSMA Intelligence

Tại Nam Á, 59% người trưởng thành sử dụng Internet di động trên thiết bị riêng. Tuy nhiên, 23% phụ nữ trưởng thành chưa sử dụng Internet di động dù có vùng phủ sóng, cao hơn mức 15% ở nam giới. Tính chung, phụ nữ chiếm 60% số người trưởng thành thuộc khoảng cách sử dụng của khu vực. Chi phí thiết bị cũng tạo ra khác biệt rõ rệt giữa hai giới. Tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, một chiếc điện thoại có kết nối Internet rẻ nhất tương đương 19,7% thu nhập bình quân tháng của phụ nữ, so với 11,9% của nam giới.

Kết nối Internet di động của người trưởng thành tại các nước thu nhập thấp và trung bình năm 2025, tách khoảng cách sử dụng theo giới. Ở Nam Á, 59% người trưởng thành dùng Internet di động, khoảng cách sử dụng của phụ nữ là 23% và của nam giới là 15%. Nguồn GSMA Intelligence
Kết nối Internet di động của người trưởng thành tại các nước thu nhập thấp và trung bình năm 2025, tách khoảng cách sử dụng theo giới. Ở Nam Á, 59% người trưởng thành dùng Internet di động, khoảng cách sử dụng của phụ nữ là 23% và của nam giới là 15%. Nguồn GSMA Intelligence

GSMA liên hệ nguy cơ giảm khả năng chi trả với nhu cầu bộ nhớ tăng nhanh từ hạ tầng AI và các trung tâm dữ liệu. Theo phân tích của GSMA dựa trên dữ liệu Counterpoint Research, giá bộ nhớ đã tăng hơn gấp đôi từ quý III/2025 đến quý I/2026, sau đó tăng thêm 80 đến 90% trong quý II/2026. Trong cùng thời gian, các nhà sản xuất dần rút khỏi những dòng bộ nhớ cũ như DDR4, loại vẫn được sử dụng trong nhiều mẫu điện thoại phổ thông.

Lượng smartphone xuất xưởng toàn cầu theo khu vực, tính bằng triệu chiếc. Con số giảm từ 1.255 triệu chiếc năm 2025 xuống 1.080 triệu chiếc năm 2026 theo ước tính, tức giảm 14%, mức giảm theo năm lớn nhất trong lịch sử ngành. Nguồn Counterpoint Research
Lượng smartphone xuất xưởng toàn cầu theo khu vực, tính bằng triệu chiếc. Con số giảm từ 1.255 triệu chiếc năm 2025 xuống 1.080 triệu chiếc năm 2026 theo ước tính, tức giảm 14%, mức giảm theo năm lớn nhất trong lịch sử ngành. Ảnh chụp báo cáo

Biến động giá bộ nhớ đang làm thay đổi cơ cấu chi phí linh kiện của smartphone. Với các mẫu smartphone bình dân có giá bán buôn dưới 200 USD, bộ nhớ chiếm 19% tổng chi phí linh kiện trong quý I/2025, gồm 12% DRAM và 7% NAND. Đến quý II/2026, tỷ lệ này tăng lên 45%, tương đương gần một nửa chi phí linh kiện. Ở phân khúc tầm trung có giá từ 400 đến 600 USD, bộ nhớ hiện chiếm gần 30% chi phí linh kiện.

Người tiêu dùng tại châu Á đã phải trả nhiều tiền hơn cho một số mẫu smartphone phổ thông. Xiaomi ra mắt Redmi A7 vào tháng 4/2026 với giá khoảng 110 USD, cao hơn 40% so với Redmi A5 khi lên kệ vào tháng 4/2025, dù hai mẫu có cấu hình phần cứng gần như tương đồng. Tại Ấn Độ, Realme C71 ra mắt tháng 6/2025 với giá 7.699 rupee, tương đương khoảng 80 USD, bằng mức giá của mẫu C61 trước đó. Hiện C71 được bán với giá 12.999 rupee, khoảng 135 USD, tăng gần 70%.

Giá smartphone tăng cùng chi phí linh kiện đang tác động tới dự báo thị trường năm 2026. Lượng smartphone xuất xưởng toàn cầu dự kiến giảm 14%, từ 1.255 triệu chiếc xuống 1.080 triệu chiếc, tương đương giảm 174 triệu chiếc và là mức giảm theo năm lớn nhất được ghi nhận trong lịch sử ngành. Phân khúc smartphone dưới 100 USD được dự báo giảm 36%, tương đương khoảng 90 triệu chiếc. Các thị trường mới nổi được dự báo chịu tác động rõ nhất. Riêng châu Phi cận Sahara có thể nhận ít hơn 16 triệu smartphone trong năm 2026, giảm hơn 1/4 so với năm 2025.

Ông Vivek Badrinath, Tổng giám đốc GSMA, cho rằng trí tuệ nhân tạo có tiềm năng cải thiện cuộc sống ở quy mô chưa từng có, nhưng những lợi ích này sẽ khó đến được với người dân nếu họ chưa thể tiếp cận Internet. Theo ông, vấn đề lớn hơn không nằm ở khoảng cách về AI giữa các quốc gia, mà ở sự khác biệt giữa những người có đủ điều kiện tham gia nền kinh tế số và những người không có khả năng này.

Chiếc điện thoại rẻ nhất có giá gần nửa tháng thu nhập của người nghèo

Tính đến cuối năm 2025, một chiếc điện thoại có kết nối Internet thuộc nhóm rẻ nhất tương đương khoảng 15% thu nhập bình quân tháng của người dân tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình. Với 20% người có thu nhập thấp nhất, tỷ lệ này lên tới 44%, tăng lên 47% tại Nam Á và 76% tại châu Phi cận Sahara. Nếu tính theo giá trung bình của 3 mẫu điện thoại rẻ nhất tại mỗi thị trường, chi phí tương đương 24% thu nhập tháng, trong khi tỷ lệ này lên tới 71,9% đối với nhóm 20% có thu nhập thấp nhất.

Chi phí chiếc điện thoại có kết nối Internet rẻ nhất tính theo phần trăm thu nhập bình quân tháng năm 2025. Với nhóm 20% nghèo nhất (cột xám đậm), tỷ lệ là 43,8% ở toàn nhóm nước thu nhập thấp và trung bình, 47% ở Nam Á và 76% ở châu Phi cận Sahara. Phụ nữ phải bỏ ra 19,7% thu nhập, nam giới là 11,9%. Nguồn GSMA Intelligence, dữ liệu giá từ Tarifica
Chi phí chiếc điện thoại có kết nối Internet rẻ nhất tính theo phần trăm thu nhập bình quân tháng năm 2025. Với nhóm 20% nghèo nhất (cột xám đậm), tỷ lệ là 43,8% ở toàn nhóm nước thu nhập thấp và trung bình, 47% ở Nam Á và 76% ở châu Phi cận Sahara. Phụ nữ phải bỏ ra 19,7% thu nhập, nam giới là 11,9%. Ảnh chụp báo cáo

GSMA ước tính nếu giá điện thoại phổ thông giảm xuống 30 USD, gần 1,6 tỷ người có thể đủ khả năng mua thiết bị. Với mức giá 20 USD, khoảng 2,2 tỷ người đang sống trong vùng phủ sóng băng rộng di động có thể mua được điện thoại, nhưng vẫn còn 850 triệu người không đủ khả năng chi trả. Năm 2025, GSMA hợp tác với 6 nhà mạng lớn tại châu Phi để đưa smartphone 4G giá 40 USD ra thị trường. Tuy nhiên, chi phí bộ nhớ tăng mạnh đang làm thay đổi điều kiện sản xuất dòng điện thoại này. Riêng một chip nhớ dành cho điện thoại phổ thông hiện đã có giá cao hơn 40 USD, khiến mục tiêu đưa smartphone xuống mức giá dễ tiếp cận trở nên khó thực hiện hơn.

Giá smartphone toàn cầu tăng 15% trong năm 2026
Giá smartphone toàn cầu tăng 15% trong năm 2026

Giá dữ liệu nhìn chung dễ tiếp cận hơn. Chi phí cho 1 GB dữ liệu giảm xuống 1,1% thu nhập bình quân tháng trong năm 2025, mức thấp nhất trong 5 năm. Trong khi đó, chi phí của gói 5 GB giữ nguyên ở mức 1,8% và gói 20 GB cũng không thay đổi so với năm trước. Dù vậy, 47/133 quốc gia thu nhập thấp và trung bình có dữ liệu, tương đương 35%, vẫn chưa đạt mục tiêu của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) là đưa giá 1 GB xuống dưới 2% thu nhập tháng.

Khảo sát của GSMA cho thấy với những người biết đến Internet di động nhưng chưa sử dụng, khả năng chi trả, chủ yếu liên quan đến chi phí mua thiết bị, cùng trình độ đọc viết và kỹ năng số là những trở ngại được nhắc đến nhiều nhất. Với những người đã sử dụng Internet di động, các mối quan tâm phổ biến hơn là an toàn và an ninh, chi phí dữ liệu và chất lượng kết nối. Trung bình 83% người dùng Internet di động tại các quốc gia được khảo sát truy cập Internet mỗi ngày, nhưng nhiều người chỉ sử dụng cho 1 hoặc 2 hoạt động.

Ông Badrinath cảnh báo nếu khả năng chi trả đối với smartphone phổ thông không được duy trì, hàng tỷ người có thể khó tiếp cận các dịch vụ số thế hệ mới ngay cả khi đã có điều kiện sử dụng Internet. Theo ông, giá bộ nhớ tăng đang làm gia tăng nguy cơ này.

Tác động của việc hạ giá máy tới khoảng cách sử dụng. Khi giá máy về 30 USD, thêm khoảng 1.550 triệu người đủ khả năng mua, ở mức 20 USD con số là khoảng 2.220 triệu người, và ở mức 10 USD là khoảng 2.730 triệu người. Nguồn GSMA Intelligence
Tác động của việc hạ giá máy tới khoảng cách sử dụng. Khi giá máy về 30 USD, thêm khoảng 1.550 triệu người đủ khả năng mua, ở mức 20 USD con số là khoảng 2.220 triệu người, và ở mức 10 USD là khoảng 2.730 triệu người. Nguồn GSMA Intelligence

GSMA kêu gọi các nhà sản xuất chipset và bộ nhớ, nhà mạng, hãng điện thoại, cơ quan hoạch định chính sách và tổ chức tài chính phối hợp để cải thiện nguồn cung linh kiện và thiết bị giá rẻ. Tổ chức này cũng đề nghị chính phủ các nước áp dụng các biện pháp về sản xuất, phân phối và thuế, trong đó có việc bãi bỏ thuế hoặc phí đối với điện thoại phổ thông, đồng thời mở rộng các hình thức tài chính trả góp khi mua thiết bị để giảm chi phí mua smartphone.

Việc mở rộng Internet di động có thể tạo ra giá trị kinh tế rất lớn khi ngày càng nhiều người có điều kiện tham gia vào nền kinh tế số. Theo phân tích của GSMA, nếu xóa bỏ chênh lệch sử dụng Internet di động, GDP toàn cầu có thể tăng thêm 3.500 tỷ USD trong giai đoạn 2023 đến 2030, trong đó hơn 90%, tương đương 3.200 tỷ USD, đến từ các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, còn riêng việc thu hẹp chênh lệch giới tại nhóm quốc gia này có thể đóng góp hơn 1.300 tỷ USD.

Những con số này cho thấy khả năng chi trả cho smartphone có liên quan trực tiếp đến tốc độ mở rộng Internet di động, bởi hàng tỷ người dù đã nằm trong vùng phủ sóng vẫn chưa sử dụng dịch vụ do chưa có thiết bị phù hợp hoặc chưa đủ khả năng mua thiết bị. Khi AI ngày càng được tích hợp vào smartphone và các dịch vụ số, việc kiểm soát chi phí thiết bị sẽ tiếp tục quyết định khả năng tiếp cận công nghệ của một bộ phận lớn người dùng tại các thị trường thu nhập thấp và trung bình.

Có thể bạn quan tâm

Vì sao Ấn Độ cần

Vì sao Ấn Độ cần 'luật chơi' riêng cho AI trong viễn thông?

Viễn thông - Internet
Khi AI trong viễn thông ngày càng thấm sâu vào mạng lưới và dịch vụ, Ấn Độ chọn cách đặt ra luật chơi riêng, với bản dự thảo quy định do Cơ quan Quản lý Viễn thông Ấn Độ (TRAI) soạn thảo nhằm buộc nhà mạng kiểm soát rủi ro trước khi sự cố kịp xảy ra.
Thái Lan, Malaysia đổi chiến lược hút vốn vào trung tâm dữ liệu

Thái Lan, Malaysia đổi chiến lược hút vốn vào trung tâm dữ liệu

Viễn thông - Internet
Hai nền kinh tế Đông Nam Á cùng đổi chiến lược hút vốn vào trung tâm dữ liệu, khi Thái Lan siết tiêu chí xét duyệt sau 42 dự án vốn 750 tỷ baht (khoảng 568.000 tỷ đồng), còn Malaysia muốn chuyển 385,7 tỷ ringgit (khoảng 2,45 triệu tỷ đồng) đã đổ vào thành năng lực cho doanh nghiệp và người lao động trong nước.
Viettel nâng cấp hệ thống tính cước cho 100 triệu thuê bao

Viettel nâng cấp hệ thống tính cước cho 100 triệu thuê bao

Viễn thông - Internet
Chỉ trong ba tháng, Viettel đã chuyển hơn 100 triệu thuê bao di động cùng khoảng 5.000 gói cước sang hệ thống tính cước vOCS 4.0 ngay trên mạng lưới đang vận hành, trong khi người dùng vẫn gọi điện, nhắn tin và truy cập internet như mọi ngày.
Vì sao Mỹ siết quyền tự đăng ký đầu số với doanh nghiệp rủi ro an ninh?

Vì sao Mỹ siết quyền tự đăng ký đầu số với doanh nghiệp rủi ro an ninh?

Viễn thông - Internet
Mỹ muốn siết quyền tự đăng ký đầu số của các doanh nghiệp tiềm ẩn rủi ro an ninh, bởi nước này coi kho số điện thoại là một phần trong hệ thống phòng thủ quốc gia. Những kẽ hở trong quy trình cấp phép có thể tạo điều kiện cho các đối tượng xấu lợi dụng để thực hiện hành vi gian lận và tấn công.
Ericsson gộp thị trường Đông Bắc Á và Đông Nam Á thành APAC

Ericsson gộp thị trường Đông Bắc Á và Đông Nam Á thành APAC

Viễn thông - Internet
Ericsson quyết định hợp nhất khu vực thị trường Đông Bắc Á với khu vực Đông Nam Á, châu Đại Dương và Ấn Độ thành khu vực châu Á Thái Bình Dương (APAC) từ ngày 1/1/2027, đặt dưới sự dẫn dắt của ông Patrick Johansson, người đang phụ trách thị trường châu Âu, Trung Đông và châu Phi.
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Khánh Hòa
Nghệ An
Phan Thiết
Quảng Bình
Thừa Thiên Huế
Hà Giang
Hải Phòng
Hà Nội

28°C

Cảm giác: 31°C
mây cụm
Thứ sáu, 06/11/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 06/11/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 06/11/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 06/11/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 06/11/2026 12:00
27°C
Thứ sáu, 06/11/2026 15:00
26°C
Thứ sáu, 06/11/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 06/11/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 07/11/2026 00:00
24°C
Thứ bảy, 07/11/2026 03:00
28°C
Thứ bảy, 07/11/2026 06:00
29°C
Thứ bảy, 07/11/2026 09:00
29°C
Thứ bảy, 07/11/2026 12:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 15:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 18:00
24°C
Thứ bảy, 07/11/2026 21:00
23°C
Chủ nhật, 08/11/2026 00:00
23°C
Chủ nhật, 08/11/2026 03:00
28°C
Chủ nhật, 08/11/2026 06:00
29°C
Chủ nhật, 08/11/2026 09:00
26°C
Chủ nhật, 08/11/2026 12:00
26°C
Chủ nhật, 08/11/2026 15:00
24°C
Chủ nhật, 08/11/2026 18:00
23°C
Chủ nhật, 08/11/2026 21:00
22°C
Thứ hai, 09/11/2026 00:00
22°C
Thứ hai, 09/11/2026 03:00
20°C
Thứ hai, 09/11/2026 06:00
22°C
Thứ hai, 09/11/2026 09:00
20°C
Thứ hai, 09/11/2026 12:00
19°C
Thứ hai, 09/11/2026 15:00
19°C
Thứ hai, 09/11/2026 18:00
18°C
Thứ hai, 09/11/2026 21:00
18°C
Thứ ba, 10/11/2026 00:00
18°C
Thứ ba, 10/11/2026 03:00
18°C
Thứ ba, 10/11/2026 06:00
20°C
Thứ ba, 10/11/2026 09:00
21°C
TP Hồ Chí Minh

28°C

Cảm giác: 31°C
mây cụm
Thứ sáu, 06/11/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 06/11/2026 03:00
31°C
Thứ sáu, 06/11/2026 06:00
34°C
Thứ sáu, 06/11/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 06/11/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 06/11/2026 15:00
26°C
Thứ sáu, 06/11/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 06/11/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 07/11/2026 00:00
26°C
Thứ bảy, 07/11/2026 03:00
31°C
Thứ bảy, 07/11/2026 06:00
34°C
Thứ bảy, 07/11/2026 09:00
31°C
Thứ bảy, 07/11/2026 12:00
27°C
Thứ bảy, 07/11/2026 15:00
26°C
Thứ bảy, 07/11/2026 18:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 21:00
24°C
Chủ nhật, 08/11/2026 00:00
25°C
Chủ nhật, 08/11/2026 03:00
31°C
Chủ nhật, 08/11/2026 06:00
33°C
Chủ nhật, 08/11/2026 09:00
30°C
Chủ nhật, 08/11/2026 12:00
27°C
Chủ nhật, 08/11/2026 15:00
26°C
Chủ nhật, 08/11/2026 18:00
25°C
Chủ nhật, 08/11/2026 21:00
24°C
Thứ hai, 09/11/2026 00:00
25°C
Thứ hai, 09/11/2026 03:00
30°C
Thứ hai, 09/11/2026 06:00
32°C
Thứ hai, 09/11/2026 09:00
31°C
Thứ hai, 09/11/2026 12:00
27°C
Thứ hai, 09/11/2026 15:00
26°C
Thứ hai, 09/11/2026 18:00
25°C
Thứ hai, 09/11/2026 21:00
24°C
Thứ ba, 10/11/2026 00:00
24°C
Thứ ba, 10/11/2026 03:00
30°C
Thứ ba, 10/11/2026 06:00
32°C
Thứ ba, 10/11/2026 09:00
29°C
Đà Nẵng

28°C

Cảm giác: 33°C
mây thưa
Thứ sáu, 06/11/2026 00:00
27°C
Thứ sáu, 06/11/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 06/11/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 06/11/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 06/11/2026 12:00
27°C
Thứ sáu, 06/11/2026 15:00
26°C
Thứ sáu, 06/11/2026 18:00
26°C
Thứ sáu, 06/11/2026 21:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 00:00
27°C
Thứ bảy, 07/11/2026 03:00
26°C
Thứ bảy, 07/11/2026 06:00
28°C
Thứ bảy, 07/11/2026 09:00
27°C
Thứ bảy, 07/11/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 07/11/2026 15:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 18:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 21:00
24°C
Chủ nhật, 08/11/2026 00:00
25°C
Chủ nhật, 08/11/2026 03:00
27°C
Chủ nhật, 08/11/2026 06:00
27°C
Chủ nhật, 08/11/2026 09:00
27°C
Chủ nhật, 08/11/2026 12:00
27°C
Chủ nhật, 08/11/2026 15:00
26°C
Chủ nhật, 08/11/2026 18:00
25°C
Chủ nhật, 08/11/2026 21:00
25°C
Thứ hai, 09/11/2026 00:00
26°C
Thứ hai, 09/11/2026 03:00
27°C
Thứ hai, 09/11/2026 06:00
26°C
Thứ hai, 09/11/2026 09:00
26°C
Thứ hai, 09/11/2026 12:00
26°C
Thứ hai, 09/11/2026 15:00
26°C
Thứ hai, 09/11/2026 18:00
26°C
Thứ hai, 09/11/2026 21:00
25°C
Thứ ba, 10/11/2026 00:00
25°C
Thứ ba, 10/11/2026 03:00
25°C
Thứ ba, 10/11/2026 06:00
25°C
Thứ ba, 10/11/2026 09:00
25°C
Khánh Hòa

27°C

Cảm giác: 31°C
mây cụm
Thứ sáu, 06/11/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 06/11/2026 03:00
31°C
Thứ sáu, 06/11/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 06/11/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 06/11/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 06/11/2026 15:00
23°C
Thứ sáu, 06/11/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 06/11/2026 21:00
23°C
Thứ bảy, 07/11/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 03:00
32°C
Thứ bảy, 07/11/2026 06:00
30°C
Thứ bảy, 07/11/2026 09:00
27°C
Thứ bảy, 07/11/2026 12:00
24°C
Thứ bảy, 07/11/2026 15:00
23°C
Thứ bảy, 07/11/2026 18:00
23°C
Thứ bảy, 07/11/2026 21:00
22°C
Chủ nhật, 08/11/2026 00:00
23°C
Chủ nhật, 08/11/2026 03:00
24°C
Chủ nhật, 08/11/2026 06:00
25°C
Chủ nhật, 08/11/2026 09:00
25°C
Chủ nhật, 08/11/2026 12:00
23°C
Chủ nhật, 08/11/2026 15:00
22°C
Chủ nhật, 08/11/2026 18:00
23°C
Chủ nhật, 08/11/2026 21:00
22°C
Thứ hai, 09/11/2026 00:00
24°C
Thứ hai, 09/11/2026 03:00
29°C
Thứ hai, 09/11/2026 06:00
31°C
Thứ hai, 09/11/2026 09:00
27°C
Thứ hai, 09/11/2026 12:00
23°C
Thứ hai, 09/11/2026 15:00
22°C
Thứ hai, 09/11/2026 18:00
22°C
Thứ hai, 09/11/2026 21:00
22°C
Thứ ba, 10/11/2026 00:00
23°C
Thứ ba, 10/11/2026 03:00
24°C
Thứ ba, 10/11/2026 06:00
25°C
Thứ ba, 10/11/2026 09:00
25°C
Nghệ An

23°C

Cảm giác: 24°C
mây cụm
Thứ sáu, 06/11/2026 00:00
22°C
Thứ sáu, 06/11/2026 03:00
26°C
Thứ sáu, 06/11/2026 06:00
25°C
Thứ sáu, 06/11/2026 09:00
24°C
Thứ sáu, 06/11/2026 12:00
22°C
Thứ sáu, 06/11/2026 15:00
21°C
Thứ sáu, 06/11/2026 18:00
20°C
Thứ sáu, 06/11/2026 21:00
20°C
Thứ bảy, 07/11/2026 00:00
21°C
Thứ bảy, 07/11/2026 03:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 06:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 09:00
23°C
Thứ bảy, 07/11/2026 12:00
21°C
Thứ bảy, 07/11/2026 15:00
20°C
Thứ bảy, 07/11/2026 18:00
20°C
Thứ bảy, 07/11/2026 21:00
19°C
Chủ nhật, 08/11/2026 00:00
20°C
Chủ nhật, 08/11/2026 03:00
27°C
Chủ nhật, 08/11/2026 06:00
26°C
Chủ nhật, 08/11/2026 09:00
24°C
Chủ nhật, 08/11/2026 12:00
21°C
Chủ nhật, 08/11/2026 15:00
20°C
Chủ nhật, 08/11/2026 18:00
19°C
Chủ nhật, 08/11/2026 21:00
20°C
Thứ hai, 09/11/2026 00:00
20°C
Thứ hai, 09/11/2026 03:00
21°C
Thứ hai, 09/11/2026 06:00
21°C
Thứ hai, 09/11/2026 09:00
20°C
Thứ hai, 09/11/2026 12:00
18°C
Thứ hai, 09/11/2026 15:00
17°C
Thứ hai, 09/11/2026 18:00
17°C
Thứ hai, 09/11/2026 21:00
16°C
Thứ ba, 10/11/2026 00:00
16°C
Thứ ba, 10/11/2026 03:00
16°C
Thứ ba, 10/11/2026 06:00
17°C
Thứ ba, 10/11/2026 09:00
17°C
Phan Thiết

28°C

Cảm giác: 32°C
mây cụm
Thứ sáu, 06/11/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 06/11/2026 03:00
29°C
Thứ sáu, 06/11/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 06/11/2026 09:00
28°C
Thứ sáu, 06/11/2026 12:00
27°C
Thứ sáu, 06/11/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 06/11/2026 18:00
24°C
Thứ sáu, 06/11/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 07/11/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 07/11/2026 06:00
30°C
Thứ bảy, 07/11/2026 09:00
28°C
Thứ bảy, 07/11/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 07/11/2026 15:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 18:00
24°C
Thứ bảy, 07/11/2026 21:00
24°C
Chủ nhật, 08/11/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 08/11/2026 03:00
26°C
Chủ nhật, 08/11/2026 06:00
28°C
Chủ nhật, 08/11/2026 09:00
27°C
Chủ nhật, 08/11/2026 12:00
26°C
Chủ nhật, 08/11/2026 15:00
25°C
Chủ nhật, 08/11/2026 18:00
24°C
Chủ nhật, 08/11/2026 21:00
23°C
Thứ hai, 09/11/2026 00:00
24°C
Thứ hai, 09/11/2026 03:00
28°C
Thứ hai, 09/11/2026 06:00
30°C
Thứ hai, 09/11/2026 09:00
28°C
Thứ hai, 09/11/2026 12:00
26°C
Thứ hai, 09/11/2026 15:00
25°C
Thứ hai, 09/11/2026 18:00
24°C
Thứ hai, 09/11/2026 21:00
23°C
Thứ ba, 10/11/2026 00:00
24°C
Thứ ba, 10/11/2026 03:00
28°C
Thứ ba, 10/11/2026 06:00
30°C
Thứ ba, 10/11/2026 09:00
28°C
Quảng Bình

23°C

Cảm giác: 24°C
mây đen u ám
Thứ sáu, 06/11/2026 00:00
22°C
Thứ sáu, 06/11/2026 03:00
26°C
Thứ sáu, 06/11/2026 06:00
27°C
Thứ sáu, 06/11/2026 09:00
25°C
Thứ sáu, 06/11/2026 12:00
21°C
Thứ sáu, 06/11/2026 15:00
21°C
Thứ sáu, 06/11/2026 18:00
21°C
Thứ sáu, 06/11/2026 21:00
20°C
Thứ bảy, 07/11/2026 00:00
22°C
Thứ bảy, 07/11/2026 03:00
26°C
Thứ bảy, 07/11/2026 06:00
27°C
Thứ bảy, 07/11/2026 09:00
24°C
Thứ bảy, 07/11/2026 12:00
21°C
Thứ bảy, 07/11/2026 15:00
21°C
Thứ bảy, 07/11/2026 18:00
20°C
Thứ bảy, 07/11/2026 21:00
20°C
Chủ nhật, 08/11/2026 00:00
21°C
Chủ nhật, 08/11/2026 03:00
23°C
Chủ nhật, 08/11/2026 06:00
23°C
Chủ nhật, 08/11/2026 09:00
22°C
Chủ nhật, 08/11/2026 12:00
21°C
Chủ nhật, 08/11/2026 15:00
21°C
Chủ nhật, 08/11/2026 18:00
21°C
Chủ nhật, 08/11/2026 21:00
20°C
Thứ hai, 09/11/2026 00:00
20°C
Thứ hai, 09/11/2026 03:00
21°C
Thứ hai, 09/11/2026 06:00
23°C
Thứ hai, 09/11/2026 09:00
21°C
Thứ hai, 09/11/2026 12:00
20°C
Thứ hai, 09/11/2026 15:00
20°C
Thứ hai, 09/11/2026 18:00
19°C
Thứ hai, 09/11/2026 21:00
18°C
Thứ ba, 10/11/2026 00:00
16°C
Thứ ba, 10/11/2026 03:00
15°C
Thứ ba, 10/11/2026 06:00
15°C
Thứ ba, 10/11/2026 09:00
14°C
Thừa Thiên Huế

27°C

Cảm giác: 31°C
mưa nhẹ
Thứ sáu, 06/11/2026 00:00
27°C
Thứ sáu, 06/11/2026 03:00
31°C
Thứ sáu, 06/11/2026 06:00
33°C
Thứ sáu, 06/11/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 06/11/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 06/11/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 06/11/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 06/11/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 07/11/2026 00:00
27°C
Thứ bảy, 07/11/2026 03:00
28°C
Thứ bảy, 07/11/2026 06:00
29°C
Thứ bảy, 07/11/2026 09:00
26°C
Thứ bảy, 07/11/2026 12:00
23°C
Thứ bảy, 07/11/2026 15:00
22°C
Thứ bảy, 07/11/2026 18:00
22°C
Thứ bảy, 07/11/2026 21:00
21°C
Chủ nhật, 08/11/2026 00:00
22°C
Chủ nhật, 08/11/2026 03:00
28°C
Chủ nhật, 08/11/2026 06:00
27°C
Chủ nhật, 08/11/2026 09:00
26°C
Chủ nhật, 08/11/2026 12:00
22°C
Chủ nhật, 08/11/2026 15:00
21°C
Chủ nhật, 08/11/2026 18:00
21°C
Chủ nhật, 08/11/2026 21:00
20°C
Thứ hai, 09/11/2026 00:00
22°C
Thứ hai, 09/11/2026 03:00
23°C
Thứ hai, 09/11/2026 06:00
24°C
Thứ hai, 09/11/2026 09:00
23°C
Thứ hai, 09/11/2026 12:00
22°C
Thứ hai, 09/11/2026 15:00
23°C
Thứ hai, 09/11/2026 18:00
22°C
Thứ hai, 09/11/2026 21:00
22°C
Thứ ba, 10/11/2026 00:00
22°C
Thứ ba, 10/11/2026 03:00
22°C
Thứ ba, 10/11/2026 06:00
22°C
Thứ ba, 10/11/2026 09:00
22°C
Hà Giang

24°C

Cảm giác: 25°C
mưa nhẹ
Thứ sáu, 06/11/2026 00:00
23°C
Thứ sáu, 06/11/2026 03:00
26°C
Thứ sáu, 06/11/2026 06:00
28°C
Thứ sáu, 06/11/2026 09:00
27°C
Thứ sáu, 06/11/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 06/11/2026 15:00
23°C
Thứ sáu, 06/11/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 06/11/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 07/11/2026 00:00
22°C
Thứ bảy, 07/11/2026 03:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 06:00
26°C
Thứ bảy, 07/11/2026 09:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 12:00
22°C
Thứ bảy, 07/11/2026 15:00
22°C
Thứ bảy, 07/11/2026 18:00
22°C
Thứ bảy, 07/11/2026 21:00
21°C
Chủ nhật, 08/11/2026 00:00
22°C
Chủ nhật, 08/11/2026 03:00
25°C
Chủ nhật, 08/11/2026 06:00
26°C
Chủ nhật, 08/11/2026 09:00
25°C
Chủ nhật, 08/11/2026 12:00
22°C
Chủ nhật, 08/11/2026 15:00
21°C
Chủ nhật, 08/11/2026 18:00
21°C
Chủ nhật, 08/11/2026 21:00
21°C
Thứ hai, 09/11/2026 00:00
21°C
Thứ hai, 09/11/2026 03:00
19°C
Thứ hai, 09/11/2026 06:00
17°C
Thứ hai, 09/11/2026 09:00
16°C
Thứ hai, 09/11/2026 12:00
15°C
Thứ hai, 09/11/2026 15:00
15°C
Thứ hai, 09/11/2026 18:00
15°C
Thứ hai, 09/11/2026 21:00
15°C
Thứ ba, 10/11/2026 00:00
15°C
Thứ ba, 10/11/2026 03:00
18°C
Thứ ba, 10/11/2026 06:00
19°C
Thứ ba, 10/11/2026 09:00
18°C
Hải Phòng

27°C

Cảm giác: 31°C
mây rải rác
Thứ sáu, 06/11/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 06/11/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 06/11/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 06/11/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 06/11/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 06/11/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 06/11/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 06/11/2026 21:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 03:00
28°C
Thứ bảy, 07/11/2026 06:00
29°C
Thứ bảy, 07/11/2026 09:00
27°C
Thứ bảy, 07/11/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 07/11/2026 15:00
25°C
Thứ bảy, 07/11/2026 18:00
24°C
Thứ bảy, 07/11/2026 21:00
24°C
Chủ nhật, 08/11/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 08/11/2026 03:00
28°C
Chủ nhật, 08/11/2026 06:00
28°C
Chủ nhật, 08/11/2026 09:00
27°C
Chủ nhật, 08/11/2026 12:00
25°C
Chủ nhật, 08/11/2026 15:00
25°C
Chủ nhật, 08/11/2026 18:00
24°C
Chủ nhật, 08/11/2026 21:00
23°C
Thứ hai, 09/11/2026 00:00
23°C
Thứ hai, 09/11/2026 03:00
26°C
Thứ hai, 09/11/2026 06:00
26°C
Thứ hai, 09/11/2026 09:00
22°C
Thứ hai, 09/11/2026 12:00
19°C
Thứ hai, 09/11/2026 15:00
18°C
Thứ hai, 09/11/2026 18:00
17°C
Thứ hai, 09/11/2026 21:00
17°C
Thứ ba, 10/11/2026 00:00
17°C
Thứ ba, 10/11/2026 03:00
20°C
Thứ ba, 10/11/2026 06:00
24°C
Thứ ba, 10/11/2026 09:00
24°C

Giá vàngTỷ giá

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 ▲1400K 142,000 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 138,000 ▲1400K 142,000 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 138,000 ▲1400K 142,000 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 138,000 ▲1400K 142,000 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 138,000 ▲1400K 142,000 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 ▲1400K 142,000 ▲1400K
Cập nhật: 05/11/2026 18:00
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,850 ▲170K 14,250 ▲170K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,850 ▲170K 14,250 ▲170K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,850 ▲170K 14,250 ▲170K
Trang sức 99.9 13,530 ▲170K 14,130 ▲170K
Trang sức 99.99 13,540 ▲170K 14,140 ▲170K
Vàng 99.9 12,850 ▲200K
Vàng 99.99 13,000 ▲200K
Cập nhật: 05/11/2026 18:00
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,395 ▲1K 14,252 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,395 ▲1K 14,253 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 138 ▼1227K 142 ▼1263K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 138 ▼1227K 1,421 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 136 ▼1209K 141 ▼1254K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,604 ▲1485K 139,604 ▲1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,111 ▲1126K 105,911 ▲1126K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,624 ▼76595K 9,604 ▼85415K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,369 ▲915K 86,169 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,561 ▲874K 82,361 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,153 ▲626K 58,953 ▲626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Cập nhật: 05/11/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17417 17689 18273
CAD 17829 18103 18722
CHF 30731 31108 31762
CNY 0 3798 3894
EUR 28162 28377 29463
GBP 33708 34096 35029
HKD 0 3134 3336
JPY 155 158 165
KRW 0 18 20
NZD 0 14128 14720
SGD 19524 19804 20385
THB 682 745 798
USD (1,2) 25353 0 0
USD (5,10,20) 25389 0 0
USD (50,100) 25417 25430 25800
Cập nhật: 05/11/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,470 25,470 25,850
USD(1-2-5) 24,452 - -
USD(10-20) 24,452 - -
EUR 28,288 28,311 29,658
JPY 157.79 158.07 167.64
GBP 33,966 34,058 35,238
AUD 17,668 17,732 18,408
CAD 18,047 18,105 18,775
CHF 31,054 31,151 32,079
SGD 19,686 19,747 20,524
CNY - 3,772 3,918
HKD 3,204 3,214 3,350
KRW 17.64 18.4 20.03
THB 732.18 741.22 793.32
NZD 14,153 14,284 14,710
SEK - 2,586 2,678
DKK - 3,794 3,929
NOK - 2,715 2,813
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,924.32 - 6,684.93
TWD 703.53 - 852.49
SAR - 6,718.12 7,078.39
KWD - 81,100 86,314
AED - 6,733 7,256
Cập nhật: 05/11/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,440 25,470 25,850
EUR 28,252 28,394 29,621
GBP 33,920 34,090 35,126
HKD 3,197 3,216 3,334
CHF 30,859 31,014 31,959
JPY 157.38 158.97 166.95
AUD 17,618 17,742 18,338
SGD 19,655 19,833 20,430
THB 736 751 789
CAD 17,999 18,126 18,724
NZD 14,214 14,766
KRW 18.46 20.44
Cập nhật: 05/11/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25440 25440 25800
AUD 17612 17712 18637
CAD 18004 18104 19118
CHF 30947 30977 32559
CNY 3781.5 3806.5 3941.8
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28324 28354 30076
GBP 33990 34040 35797
HKD 0 3300 0
JPY 158.31 158.81 169.33
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14234 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19687 19817 20539
THB 0 711.6 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 05/11/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,367 25,487 25,840
USD20 25,337 25,487 25,840
USD1 25,317 25,487 25,840
AUD 17,583 17,733 18,899
EUR 28,194 28,294 29,951
CAD 17,984 18,084 19,390
SGD 19,799 19,949 20,507
JPY 159.12 160.62 166.16
GBP 33,963 34,113 35,186
XAU 13,948,000 0 14,252,000
CNY 0 766 0
THB 0 749 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/11/2026 18:00