Giá smartphone tăng cản trở phổ cập Internet di động

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Giá smartphone đang tăng theo nhu cầu bộ nhớ phục vụ trí tuệ nhân tạo, khiến mục tiêu đưa Internet di động đến 3,4 tỷ người chưa kết nối trở nên khó khăn hơn.
Thiếu chip nhớ kéo thị trường smartphone sụt giảm năm 2026 Top 5 điện thoại vừa túi tiền cho sinh viên mùa tựu trường 2026 Tâm lý đón nhận cái mới và sự dịch chuyển của thị trường di động

Theo báo cáo "Tình trạng kết nối Internet di động năm 2026" của GSMA, nỗ lực đưa trí tuệ nhân tạo đến với người dùng trên toàn cầu có nguy cơ làm gia tăng khoảng cách số. Chi phí bộ nhớ và chipset tăng cao đang làm gia tăng giá thành smartphone, qua đó có thể khiến thiết bị kết nối Internet trở nên khó tiếp cận hơn đối với hàng tỷ người tại các thị trường mới nổi.

Báo cáo dựa trên khảo sát trực tiếp hơn 16.200 người tại 14 quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, cùng Chỉ số kết nối di động (MCI), bộ chỉ số đánh giá 32 tiêu chí tại 174 quốc gia, chiếm 99% dân số thế giới.

Hơn 3 tỷ người có mạng nhưng chưa sử dụng Internet di động

Năm 2025, khoảng 4,8 tỷ người, tương đương 59% dân số thế giới, sử dụng Internet di động trên thiết bị của riêng mình. Tuy nhiên, tốc độ mở rộng kết nối đang chậm lại. Chỉ khoảng 160 triệu người bắt đầu sử dụng Internet trên điện thoại trong năm 2025, giảm từ 190 triệu người của năm 2024. Khoảng 90% số người dùng mới đến từ các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, nơi tập trung phần lớn dân số chưa được kết nối.

Hạ tầng viễn thông không còn là trở ngại lớn nhất đối với việc mở rộng Internet di động. Trong 3,4 tỷ người chưa sử dụng Internet di động, hơn 90% đang sống trong vùng phủ sóng băng rộng di động. GSMA xác định 3,1 tỷ người, tương đương 38% dân số thế giới, thuộc khoảng cách sử dụng, tức có mạng nhưng chưa sử dụng Internet di động. Trong khi đó, số người hoàn toàn nằm ngoài vùng phủ sóng chỉ còn 270 triệu, tương đương 3% dân số thế giới.

Kết nối Internet di động toàn cầu giai đoạn 2015 đến 2025. Tỷ lệ người dùng (màu đỏ) tăng từ 33% lên 59%, tương đương 4,85 tỷ người, trong khi khoảng cách sử dụng (màu cam) còn 38%, tương đương 3,1 tỷ người, và khoảng cách phủ sóng (màu xám) còn 3%, tương đương 270 triệu người. Nguồn GSMA Intelligence
Kết nối Internet di động toàn cầu giai đoạn 2015 đến 2025. Tỷ lệ người dùng (màu đỏ) tăng từ 33% lên 59%, tương đương 4,85 tỷ người, trong khi khoảng cách sử dụng (màu cam) còn 38%, tương đương 3,1 tỷ người, và khoảng cách phủ sóng (màu xám) còn 3%, tương đương 270 triệu người. Nguồn GSMA Intelligence

Mạng lưới tiếp tục mở rộng khi 5G phủ thêm 690 triệu người trong năm 2025, nâng tổng độ phủ lên 57% dân số thế giới, tương đương 4,7 tỷ người. Trong khi đó, 4G đã phủ tới 94% dân số toàn cầu. Tốc độ tải xuống trung bình trên toàn cầu tăng 22%, tương đương 14 Mbps. Tuy nhiên, người dùng tại các quốc gia thu nhập cao vẫn có tốc độ tải xuống cao gấp khoảng 3,5 lần so với người dùng tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình.

Chiếc điện thoại đang trở thành trở ngại chính trong việc mở rộng Internet di động. Khoảng 70% số người thuộc khoảng cách sử dụng không sở hữu thiết bị riêng. Trong đó, 2,2 tỷ người hoàn toàn không có điện thoại, còn 920 triệu người có điện thoại nhưng không thể hoặc không sử dụng thiết bị để truy cập Internet. Ngoài ra, 650 triệu người, tương đương 8% dân số thế giới, chỉ truy cập Internet bằng điện thoại mượn hoặc thiết bị dùng chung, giảm từ 690 triệu người vào năm 2024.

Châu Á tập trung phần lớn số người chưa sử dụng Internet di động toàn cầu

Chỉ 20 quốc gia chiếm 68% số người thuộc khoảng cách sử dụng Internet di động trên toàn cầu, trong đó châu Á tập trung phần lớn. Ấn Độ có khoảng 710 triệu người sống trong vùng phủ sóng băng rộng di động nhưng chưa sử dụng Internet di động. Trung Quốc đứng tiếp theo với 200 triệu người, Pakistan 140 triệu người, Bangladesh 120 triệu người và Indonesia 110 triệu người.

Khoảng cách sử dụng Internet di động theo quốc gia năm 2025, tính bằng triệu người. Ấn Độ dẫn đầu với 710 triệu người, tiếp theo là Trung Quốc 200 triệu, Pakistan và Nigeria cùng 140 triệu, Bangladesh 120 triệu và Indonesia 110 triệu. 20 quốc gia (màu đỏ) chiếm 68% khoảng cách sử dụng toàn cầu. Nguồn GSMA Intelligence
Khoảng cách sử dụng Internet di động theo quốc gia năm 2025, tính bằng triệu người. Ấn Độ dẫn đầu với 710 triệu người, tiếp theo là Trung Quốc 200 triệu, Pakistan và Nigeria cùng 140 triệu, Bangladesh 120 triệu và Indonesia 110 triệu. 20 quốc gia (màu đỏ) chiếm 68% khoảng cách sử dụng toàn cầu. Nguồn GSMA Intelligence

Tại Đông Á và Thái Bình Dương, 79% dân số đã sử dụng Internet di động, trong khi khoảng cách sử dụng chiếm 20% và khoảng cách phủ sóng chiếm 1%. Tại Nam Á, tỷ lệ người sử dụng Internet di động mới đạt 46%, còn 51% dân số đã nằm trong vùng phủ sóng băng rộng di động nhưng chưa sử dụng Internet. Đông Nam Á từng có tốc độ tăng trưởng người dùng cao trong những năm trước, nhưng mức tăng đã giảm từ 6 điểm phần trăm năm 2024 xuống 2 điểm phần trăm năm 2025, bằng mức tăng của phần còn lại trên thế giới.

Kết nối Internet di động theo khu vực giai đoạn 2023 đến 2025. Năm 2025, Đông Á và Thái Bình Dương có 79% dân số dùng Internet di động, khoảng cách sử dụng 20% và khoảng cách phủ sóng 1%. Nam Á chỉ đạt 46% người dùng, trong khi khoảng cách sử dụng lên tới 51%. Nguồn GSMA Intelligence
Kết nối Internet di động theo khu vực giai đoạn 2023 đến 2025. Năm 2025, Đông Á và Thái Bình Dương có 79% dân số dùng Internet di động, khoảng cách sử dụng 20% và khoảng cách phủ sóng 1%. Nam Á chỉ đạt 46% người dùng, trong khi khoảng cách sử dụng lên tới 51%. Nguồn GSMA Intelligence

Khoảng cách sử dụng Internet di động giữa thành thị và nông thôn không còn giảm trong năm 2025. Năm 2025, người trưởng thành ở nông thôn tại các nước thu nhập thấp và trung bình có khả năng dùng Internet di động thấp hơn 28% so với người ở thành thị, tăng 1 điểm phần trăm so với năm trước đó. Nam Á chứng kiến khoảng cách nới rộng mạnh nhất, khi con số ở Ấn Độ tăng từ 13% lên 21% và ở Bangladesh từ 32% lên 41%, bởi người dùng thành thị tăng nhanh hơn hẳn người dùng nông thôn.

Chênh lệch nông thôn và thành thị trong việc dùng Internet di động tại các nước thu nhập thấp và trung bình, giai đoạn 2017 đến 2025. Toàn nhóm nước tăng từ 27% năm 2024 lên 28% năm 2025, còn Nam Á nới rộng từ 16% lên 23%. Nguồn GSMA Intelligence
Chênh lệch nông thôn và thành thị trong việc dùng Internet di động tại các nước thu nhập thấp và trung bình, giai đoạn 2017 đến 2025. Toàn nhóm nước tăng từ 27% năm 2024 lên 28% năm 2025, còn Nam Á nới rộng từ 16% lên 23%. Nguồn GSMA Intelligence

Phụ nữ và người thu nhập thấp chịu ảnh hưởng lớn trong khoảng cách số

Tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, phụ nữ có khả năng sử dụng Internet di động thấp hơn nam giới 12%, tương đương chênh lệch khoảng 200 triệu người dùng. Trong số 810 triệu phụ nữ tại các quốc gia này chưa sử dụng Internet, hơn 2/3 sống ở châu Phi cận Sahara và Nam Á. Phụ nữ chiếm 58% số người trưởng thành thuộc khoảng cách sử dụng, và tỷ lệ này cao hơn nam giới tại tất cả các khu vực trên thế giới.

Phân bổ khoảng cách sử dụng ở người trưởng thành theo giới năm 2025. Phụ nữ (màu đỏ sẫm) chiếm 58% trong toàn nhóm nước thu nhập thấp và trung bình, và chiếm 60% ở Nam Á cũng như Đông Á và Thái Bình Dương. Nguồn GSMA Intelligence
Phân bổ khoảng cách sử dụng ở người trưởng thành theo giới năm 2025. Phụ nữ (màu đỏ sẫm) chiếm 58% trong toàn nhóm nước thu nhập thấp và trung bình, và chiếm 60% ở Nam Á cũng như Đông Á và Thái Bình Dương. Nguồn GSMA Intelligence

Tại Nam Á, 59% người trưởng thành sử dụng Internet di động trên thiết bị riêng. Tuy nhiên, 23% phụ nữ trưởng thành chưa sử dụng Internet di động dù có vùng phủ sóng, cao hơn mức 15% ở nam giới. Tính chung, phụ nữ chiếm 60% số người trưởng thành thuộc khoảng cách sử dụng của khu vực. Chi phí thiết bị cũng tạo ra khác biệt rõ rệt giữa hai giới. Tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, một chiếc điện thoại có kết nối Internet rẻ nhất tương đương 19,7% thu nhập bình quân tháng của phụ nữ, so với 11,9% của nam giới.

Kết nối Internet di động của người trưởng thành tại các nước thu nhập thấp và trung bình năm 2025, tách khoảng cách sử dụng theo giới. Ở Nam Á, 59% người trưởng thành dùng Internet di động, khoảng cách sử dụng của phụ nữ là 23% và của nam giới là 15%. Nguồn GSMA Intelligence
Kết nối Internet di động của người trưởng thành tại các nước thu nhập thấp và trung bình năm 2025, tách khoảng cách sử dụng theo giới. Ở Nam Á, 59% người trưởng thành dùng Internet di động, khoảng cách sử dụng của phụ nữ là 23% và của nam giới là 15%. Nguồn GSMA Intelligence

GSMA liên hệ nguy cơ giảm khả năng chi trả với nhu cầu bộ nhớ tăng nhanh từ hạ tầng AI và các trung tâm dữ liệu. Theo phân tích của GSMA dựa trên dữ liệu Counterpoint Research, giá bộ nhớ đã tăng hơn gấp đôi từ quý III/2025 đến quý I/2026, sau đó tăng thêm 80 đến 90% trong quý II/2026. Trong cùng thời gian, các nhà sản xuất dần rút khỏi những dòng bộ nhớ cũ như DDR4, loại vẫn được sử dụng trong nhiều mẫu điện thoại phổ thông.

Lượng smartphone xuất xưởng toàn cầu theo khu vực, tính bằng triệu chiếc. Con số giảm từ 1.255 triệu chiếc năm 2025 xuống 1.080 triệu chiếc năm 2026 theo ước tính, tức giảm 14%, mức giảm theo năm lớn nhất trong lịch sử ngành. Nguồn Counterpoint Research
Lượng smartphone xuất xưởng toàn cầu theo khu vực, tính bằng triệu chiếc. Con số giảm từ 1.255 triệu chiếc năm 2025 xuống 1.080 triệu chiếc năm 2026 theo ước tính, tức giảm 14%, mức giảm theo năm lớn nhất trong lịch sử ngành. Ảnh chụp báo cáo

Biến động giá bộ nhớ đang làm thay đổi cơ cấu chi phí linh kiện của smartphone. Với các mẫu smartphone bình dân có giá bán buôn dưới 200 USD, bộ nhớ chiếm 19% tổng chi phí linh kiện trong quý I/2025, gồm 12% DRAM và 7% NAND. Đến quý II/2026, tỷ lệ này tăng lên 45%, tương đương gần một nửa chi phí linh kiện. Ở phân khúc tầm trung có giá từ 400 đến 600 USD, bộ nhớ hiện chiếm gần 30% chi phí linh kiện.

Người tiêu dùng tại châu Á đã phải trả nhiều tiền hơn cho một số mẫu smartphone phổ thông. Xiaomi ra mắt Redmi A7 vào tháng 4/2026 với giá khoảng 110 USD, cao hơn 40% so với Redmi A5 khi lên kệ vào tháng 4/2025, dù hai mẫu có cấu hình phần cứng gần như tương đồng. Tại Ấn Độ, Realme C71 ra mắt tháng 6/2025 với giá 7.699 rupee, tương đương khoảng 80 USD, bằng mức giá của mẫu C61 trước đó. Hiện C71 được bán với giá 12.999 rupee, khoảng 135 USD, tăng gần 70%.

Giá smartphone tăng cùng chi phí linh kiện đang tác động tới dự báo thị trường năm 2026. Lượng smartphone xuất xưởng toàn cầu dự kiến giảm 14%, từ 1.255 triệu chiếc xuống 1.080 triệu chiếc, tương đương giảm 174 triệu chiếc và là mức giảm theo năm lớn nhất được ghi nhận trong lịch sử ngành. Phân khúc smartphone dưới 100 USD được dự báo giảm 36%, tương đương khoảng 90 triệu chiếc. Các thị trường mới nổi được dự báo chịu tác động rõ nhất. Riêng châu Phi cận Sahara có thể nhận ít hơn 16 triệu smartphone trong năm 2026, giảm hơn 1/4 so với năm 2025.

Ông Vivek Badrinath, Tổng giám đốc GSMA, cho rằng trí tuệ nhân tạo có tiềm năng cải thiện cuộc sống ở quy mô chưa từng có, nhưng những lợi ích này sẽ khó đến được với người dân nếu họ chưa thể tiếp cận Internet. Theo ông, vấn đề lớn hơn không nằm ở khoảng cách về AI giữa các quốc gia, mà ở sự khác biệt giữa những người có đủ điều kiện tham gia nền kinh tế số và những người không có khả năng này.

Chiếc điện thoại rẻ nhất có giá gần nửa tháng thu nhập của người nghèo

Tính đến cuối năm 2025, một chiếc điện thoại có kết nối Internet thuộc nhóm rẻ nhất tương đương khoảng 15% thu nhập bình quân tháng của người dân tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình. Với 20% người có thu nhập thấp nhất, tỷ lệ này lên tới 44%, tăng lên 47% tại Nam Á và 76% tại châu Phi cận Sahara. Nếu tính theo giá trung bình của 3 mẫu điện thoại rẻ nhất tại mỗi thị trường, chi phí tương đương 24% thu nhập tháng, trong khi tỷ lệ này lên tới 71,9% đối với nhóm 20% có thu nhập thấp nhất.

Chi phí chiếc điện thoại có kết nối Internet rẻ nhất tính theo phần trăm thu nhập bình quân tháng năm 2025. Với nhóm 20% nghèo nhất (cột xám đậm), tỷ lệ là 43,8% ở toàn nhóm nước thu nhập thấp và trung bình, 47% ở Nam Á và 76% ở châu Phi cận Sahara. Phụ nữ phải bỏ ra 19,7% thu nhập, nam giới là 11,9%. Nguồn GSMA Intelligence, dữ liệu giá từ Tarifica
Chi phí chiếc điện thoại có kết nối Internet rẻ nhất tính theo phần trăm thu nhập bình quân tháng năm 2025. Với nhóm 20% nghèo nhất (cột xám đậm), tỷ lệ là 43,8% ở toàn nhóm nước thu nhập thấp và trung bình, 47% ở Nam Á và 76% ở châu Phi cận Sahara. Phụ nữ phải bỏ ra 19,7% thu nhập, nam giới là 11,9%. Ảnh chụp báo cáo

GSMA ước tính nếu giá điện thoại phổ thông giảm xuống 30 USD, gần 1,6 tỷ người có thể đủ khả năng mua thiết bị. Với mức giá 20 USD, khoảng 2,2 tỷ người đang sống trong vùng phủ sóng băng rộng di động có thể mua được điện thoại, nhưng vẫn còn 850 triệu người không đủ khả năng chi trả. Năm 2025, GSMA hợp tác với 6 nhà mạng lớn tại châu Phi để đưa smartphone 4G giá 40 USD ra thị trường. Tuy nhiên, chi phí bộ nhớ tăng mạnh đang làm thay đổi điều kiện sản xuất dòng điện thoại này. Riêng một chip nhớ dành cho điện thoại phổ thông hiện đã có giá cao hơn 40 USD, khiến mục tiêu đưa smartphone xuống mức giá dễ tiếp cận trở nên khó thực hiện hơn.

Giá smartphone toàn cầu tăng 15% trong năm 2026
Giá smartphone toàn cầu tăng 15% trong năm 2026

Giá dữ liệu nhìn chung dễ tiếp cận hơn. Chi phí cho 1 GB dữ liệu giảm xuống 1,1% thu nhập bình quân tháng trong năm 2025, mức thấp nhất trong 5 năm. Trong khi đó, chi phí của gói 5 GB giữ nguyên ở mức 1,8% và gói 20 GB cũng không thay đổi so với năm trước. Dù vậy, 47/133 quốc gia thu nhập thấp và trung bình có dữ liệu, tương đương 35%, vẫn chưa đạt mục tiêu của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) là đưa giá 1 GB xuống dưới 2% thu nhập tháng.

Khảo sát của GSMA cho thấy với những người biết đến Internet di động nhưng chưa sử dụng, khả năng chi trả, chủ yếu liên quan đến chi phí mua thiết bị, cùng trình độ đọc viết và kỹ năng số là những trở ngại được nhắc đến nhiều nhất. Với những người đã sử dụng Internet di động, các mối quan tâm phổ biến hơn là an toàn và an ninh, chi phí dữ liệu và chất lượng kết nối. Trung bình 83% người dùng Internet di động tại các quốc gia được khảo sát truy cập Internet mỗi ngày, nhưng nhiều người chỉ sử dụng cho 1 hoặc 2 hoạt động.

Ông Badrinath cảnh báo nếu khả năng chi trả đối với smartphone phổ thông không được duy trì, hàng tỷ người có thể khó tiếp cận các dịch vụ số thế hệ mới ngay cả khi đã có điều kiện sử dụng Internet. Theo ông, giá bộ nhớ tăng đang làm gia tăng nguy cơ này.

Tác động của việc hạ giá máy tới khoảng cách sử dụng. Khi giá máy về 30 USD, thêm khoảng 1.550 triệu người đủ khả năng mua, ở mức 20 USD con số là khoảng 2.220 triệu người, và ở mức 10 USD là khoảng 2.730 triệu người. Nguồn GSMA Intelligence
Tác động của việc hạ giá máy tới khoảng cách sử dụng. Khi giá máy về 30 USD, thêm khoảng 1.550 triệu người đủ khả năng mua, ở mức 20 USD con số là khoảng 2.220 triệu người, và ở mức 10 USD là khoảng 2.730 triệu người. Nguồn GSMA Intelligence

GSMA kêu gọi các nhà sản xuất chipset và bộ nhớ, nhà mạng, hãng điện thoại, cơ quan hoạch định chính sách và tổ chức tài chính phối hợp để cải thiện nguồn cung linh kiện và thiết bị giá rẻ. Tổ chức này cũng đề nghị chính phủ các nước áp dụng các biện pháp về sản xuất, phân phối và thuế, trong đó có việc bãi bỏ thuế hoặc phí đối với điện thoại phổ thông, đồng thời mở rộng các hình thức tài chính trả góp khi mua thiết bị để giảm chi phí mua smartphone.

Việc mở rộng Internet di động có thể tạo ra giá trị kinh tế rất lớn khi ngày càng nhiều người có điều kiện tham gia vào nền kinh tế số. Theo phân tích của GSMA, nếu xóa bỏ chênh lệch sử dụng Internet di động, GDP toàn cầu có thể tăng thêm 3.500 tỷ USD trong giai đoạn 2023 đến 2030, trong đó hơn 90%, tương đương 3.200 tỷ USD, đến từ các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, còn riêng việc thu hẹp chênh lệch giới tại nhóm quốc gia này có thể đóng góp hơn 1.300 tỷ USD.

Những con số này cho thấy khả năng chi trả cho smartphone có liên quan trực tiếp đến tốc độ mở rộng Internet di động, bởi hàng tỷ người dù đã nằm trong vùng phủ sóng vẫn chưa sử dụng dịch vụ do chưa có thiết bị phù hợp hoặc chưa đủ khả năng mua thiết bị. Khi AI ngày càng được tích hợp vào smartphone và các dịch vụ số, việc kiểm soát chi phí thiết bị sẽ tiếp tục quyết định khả năng tiếp cận công nghệ của một bộ phận lớn người dùng tại các thị trường thu nhập thấp và trung bình.

Có thể bạn quan tâm

VNPT chọn RADCOM giám sát mạng chuyển vùng quốc tế bằng AI

VNPT chọn RADCOM giám sát mạng chuyển vùng quốc tế bằng AI

Viễn thông - Internet
RADCOM cho biết VNPT đã chọn hãng làm đối tác cung cấp giải pháp giám sát chất lượng dịch vụ chuyển vùng quốc tế trên nền tảng trí tuệ nhân tạo và điện toán đám mây, thay thế nhà cung cấp hiện tại sau một quy trình đấu thầu cạnh tranh.
Nga ra mắt mạng 5G

Nga ra mắt mạng 5G

Viễn thông - Internet
Nga ra mắt mạng 5G ngày 11/9/2026 tại 16 thành phố với khoảng 10 triệu người dùng, tốc độ đỉnh vượt 400 Mbps và có nơi đạt 1,5 Gbit/s,
Qualcomm đang chuẩn bị cho việc ra mắt công nghệ 6G vào năm 2029

Qualcomm đang chuẩn bị cho việc ra mắt công nghệ 6G vào năm 2029

Công nghệ số
Qualcomm đặt mục tiêu ra mắt modem-RF 6G thương mại trong nửa cuối năm 2029, trong khi 3GPP dự kiến hoàn tất các thông số kỹ thuật quan trọng của 6G vào tháng 3 cùng năm.
NGMN chốt hướng đi 6G

NGMN chốt hướng đi 6G

Viễn thông - Internet
Liên minh NGMN khẳng định MRSS vẫn là phương án nền tảng cho quá trình chuyển đổi từ 5G lên 6G, song ngành viễn thông toàn cầu cần thêm bằng chứng về hiệu năng thực tế, khả năng triển khai và mức tác động lên phần cứng đang vận hành.
Token trở thành cuộc đua mới của ba nhà mạng Trung Quốc

Token trở thành cuộc đua mới của ba nhà mạng Trung Quốc

Viễn thông - Internet
Chỉ trong hai tháng, ba nhà mạng Trung Quốc kéo giá Token xuống còn một phần năm mức khởi điểm, đồng thời dựng lại toàn bộ bộ máy tổ chức để bước vào cuộc đua hạ tầng trí tuệ nhân tạo.
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Hải Phòng
Khánh Hòa
Nghệ An
Phan Thiết
Quảng Bình
Thừa Thiên Huế
Hà Giang
Hà Nội

35°C

Cảm giác: 42°C
bầu trời quang đãng
Thứ ba, 22/09/2026 00:00
27°C
Thứ ba, 22/09/2026 03:00
32°C
Thứ ba, 22/09/2026 06:00
34°C
Thứ ba, 22/09/2026 09:00
33°C
Thứ ba, 22/09/2026 12:00
30°C
Thứ ba, 22/09/2026 15:00
28°C
Thứ ba, 22/09/2026 18:00
26°C
Thứ ba, 22/09/2026 21:00
25°C
Thứ tư, 23/09/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 23/09/2026 03:00
30°C
Thứ tư, 23/09/2026 06:00
32°C
Thứ tư, 23/09/2026 09:00
31°C
Thứ tư, 23/09/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 23/09/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 23/09/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 23/09/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 24/09/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 24/09/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 24/09/2026 06:00
31°C
Thứ năm, 24/09/2026 09:00
31°C
Thứ năm, 24/09/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 24/09/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 24/09/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 24/09/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 25/09/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 25/09/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 25/09/2026 06:00
33°C
Thứ sáu, 25/09/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 25/09/2026 12:00
27°C
Thứ sáu, 25/09/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 25/09/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 25/09/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 26/09/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 26/09/2026 03:00
30°C
Thứ bảy, 26/09/2026 06:00
31°C
TP Hồ Chí Minh

32°C

Cảm giác: 39°C
mưa vừa
Thứ ba, 22/09/2026 00:00
25°C
Thứ ba, 22/09/2026 03:00
26°C
Thứ ba, 22/09/2026 06:00
29°C
Thứ ba, 22/09/2026 09:00
27°C
Thứ ba, 22/09/2026 12:00
25°C
Thứ ba, 22/09/2026 15:00
25°C
Thứ ba, 22/09/2026 18:00
25°C
Thứ ba, 22/09/2026 21:00
25°C
Thứ tư, 23/09/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 23/09/2026 03:00
29°C
Thứ tư, 23/09/2026 06:00
28°C
Thứ tư, 23/09/2026 09:00
25°C
Thứ tư, 23/09/2026 12:00
25°C
Thứ tư, 23/09/2026 15:00
25°C
Thứ tư, 23/09/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 23/09/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 24/09/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 24/09/2026 03:00
28°C
Thứ năm, 24/09/2026 06:00
26°C
Thứ năm, 24/09/2026 09:00
25°C
Thứ năm, 24/09/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 24/09/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 24/09/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 24/09/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 25/09/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 25/09/2026 03:00
28°C
Thứ sáu, 25/09/2026 06:00
28°C
Thứ sáu, 25/09/2026 09:00
26°C
Thứ sáu, 25/09/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 25/09/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 25/09/2026 18:00
24°C
Thứ sáu, 25/09/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 26/09/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 26/09/2026 03:00
25°C
Thứ bảy, 26/09/2026 06:00
26°C
Đà Nẵng

26°C

Cảm giác: 26°C
mưa vừa
Thứ ba, 22/09/2026 00:00
25°C
Thứ ba, 22/09/2026 03:00
27°C
Thứ ba, 22/09/2026 06:00
28°C
Thứ ba, 22/09/2026 09:00
27°C
Thứ ba, 22/09/2026 12:00
27°C
Thứ ba, 22/09/2026 15:00
26°C
Thứ ba, 22/09/2026 18:00
25°C
Thứ ba, 22/09/2026 21:00
26°C
Thứ tư, 23/09/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 23/09/2026 03:00
28°C
Thứ tư, 23/09/2026 06:00
28°C
Thứ tư, 23/09/2026 09:00
28°C
Thứ tư, 23/09/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 23/09/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 23/09/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 23/09/2026 21:00
26°C
Thứ năm, 24/09/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 24/09/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 24/09/2026 06:00
27°C
Thứ năm, 24/09/2026 09:00
27°C
Thứ năm, 24/09/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 24/09/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 24/09/2026 18:00
26°C
Thứ năm, 24/09/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 25/09/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 25/09/2026 03:00
27°C
Thứ sáu, 25/09/2026 06:00
27°C
Thứ sáu, 25/09/2026 09:00
27°C
Thứ sáu, 25/09/2026 12:00
27°C
Thứ sáu, 25/09/2026 15:00
26°C
Thứ sáu, 25/09/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 25/09/2026 21:00
25°C
Thứ bảy, 26/09/2026 00:00
26°C
Thứ bảy, 26/09/2026 03:00
27°C
Thứ bảy, 26/09/2026 06:00
28°C
Hải Phòng

33°C

Cảm giác: 37°C
bầu trời quang đãng
Thứ ba, 22/09/2026 00:00
28°C
Thứ ba, 22/09/2026 03:00
32°C
Thứ ba, 22/09/2026 06:00
34°C
Thứ ba, 22/09/2026 09:00
32°C
Thứ ba, 22/09/2026 12:00
29°C
Thứ ba, 22/09/2026 15:00
28°C
Thứ ba, 22/09/2026 18:00
28°C
Thứ ba, 22/09/2026 21:00
26°C
Thứ tư, 23/09/2026 00:00
28°C
Thứ tư, 23/09/2026 03:00
30°C
Thứ tư, 23/09/2026 06:00
31°C
Thứ tư, 23/09/2026 09:00
30°C
Thứ tư, 23/09/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 23/09/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 23/09/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 23/09/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 24/09/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 24/09/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 24/09/2026 06:00
31°C
Thứ năm, 24/09/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 24/09/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 24/09/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 24/09/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 24/09/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 25/09/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 25/09/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 25/09/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 25/09/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 25/09/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 25/09/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 25/09/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 25/09/2026 21:00
25°C
Thứ bảy, 26/09/2026 00:00
26°C
Thứ bảy, 26/09/2026 03:00
30°C
Thứ bảy, 26/09/2026 06:00
31°C
Khánh Hòa

28°C

Cảm giác: 32°C
mây đen u ám
Thứ ba, 22/09/2026 00:00
25°C
Thứ ba, 22/09/2026 03:00
32°C
Thứ ba, 22/09/2026 06:00
29°C
Thứ ba, 22/09/2026 09:00
27°C
Thứ ba, 22/09/2026 12:00
25°C
Thứ ba, 22/09/2026 15:00
24°C
Thứ ba, 22/09/2026 18:00
24°C
Thứ ba, 22/09/2026 21:00
24°C
Thứ tư, 23/09/2026 00:00
25°C
Thứ tư, 23/09/2026 03:00
28°C
Thứ tư, 23/09/2026 06:00
25°C
Thứ tư, 23/09/2026 09:00
24°C
Thứ tư, 23/09/2026 12:00
24°C
Thứ tư, 23/09/2026 15:00
23°C
Thứ tư, 23/09/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 23/09/2026 21:00
23°C
Thứ năm, 24/09/2026 00:00
24°C
Thứ năm, 24/09/2026 03:00
24°C
Thứ năm, 24/09/2026 06:00
27°C
Thứ năm, 24/09/2026 09:00
24°C
Thứ năm, 24/09/2026 12:00
24°C
Thứ năm, 24/09/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 24/09/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 24/09/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 25/09/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 25/09/2026 03:00
31°C
Thứ sáu, 25/09/2026 06:00
29°C
Thứ sáu, 25/09/2026 09:00
25°C
Thứ sáu, 25/09/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 25/09/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 25/09/2026 18:00
24°C
Thứ sáu, 25/09/2026 21:00
23°C
Thứ bảy, 26/09/2026 00:00
24°C
Thứ bảy, 26/09/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 26/09/2026 06:00
29°C
Nghệ An

32°C

Cảm giác: 33°C
bầu trời quang đãng
Thứ ba, 22/09/2026 00:00
22°C
Thứ ba, 22/09/2026 03:00
29°C
Thứ ba, 22/09/2026 06:00
32°C
Thứ ba, 22/09/2026 09:00
29°C
Thứ ba, 22/09/2026 12:00
23°C
Thứ ba, 22/09/2026 15:00
22°C
Thứ ba, 22/09/2026 18:00
21°C
Thứ ba, 22/09/2026 21:00
21°C
Thứ tư, 23/09/2026 00:00
22°C
Thứ tư, 23/09/2026 03:00
29°C
Thứ tư, 23/09/2026 06:00
29°C
Thứ tư, 23/09/2026 09:00
28°C
Thứ tư, 23/09/2026 12:00
23°C
Thứ tư, 23/09/2026 15:00
22°C
Thứ tư, 23/09/2026 18:00
22°C
Thứ tư, 23/09/2026 21:00
21°C
Thứ năm, 24/09/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 24/09/2026 03:00
29°C
Thứ năm, 24/09/2026 06:00
32°C
Thứ năm, 24/09/2026 09:00
27°C
Thứ năm, 24/09/2026 12:00
23°C
Thứ năm, 24/09/2026 15:00
22°C
Thứ năm, 24/09/2026 18:00
22°C
Thứ năm, 24/09/2026 21:00
21°C
Thứ sáu, 25/09/2026 00:00
22°C
Thứ sáu, 25/09/2026 03:00
29°C
Thứ sáu, 25/09/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 25/09/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 25/09/2026 12:00
23°C
Thứ sáu, 25/09/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 25/09/2026 18:00
21°C
Thứ sáu, 25/09/2026 21:00
20°C
Thứ bảy, 26/09/2026 00:00
22°C
Thứ bảy, 26/09/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 26/09/2026 06:00
31°C
Phan Thiết

29°C

Cảm giác: 34°C
mưa vừa
Thứ ba, 22/09/2026 00:00
26°C
Thứ ba, 22/09/2026 03:00
28°C
Thứ ba, 22/09/2026 06:00
29°C
Thứ ba, 22/09/2026 09:00
28°C
Thứ ba, 22/09/2026 12:00
25°C
Thứ ba, 22/09/2026 15:00
25°C
Thứ ba, 22/09/2026 18:00
25°C
Thứ ba, 22/09/2026 21:00
25°C
Thứ tư, 23/09/2026 00:00
25°C
Thứ tư, 23/09/2026 03:00
26°C
Thứ tư, 23/09/2026 06:00
25°C
Thứ tư, 23/09/2026 09:00
25°C
Thứ tư, 23/09/2026 12:00
24°C
Thứ tư, 23/09/2026 15:00
24°C
Thứ tư, 23/09/2026 18:00
24°C
Thứ tư, 23/09/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 24/09/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 24/09/2026 03:00
25°C
Thứ năm, 24/09/2026 06:00
26°C
Thứ năm, 24/09/2026 09:00
26°C
Thứ năm, 24/09/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 24/09/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 24/09/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 24/09/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 25/09/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 25/09/2026 03:00
27°C
Thứ sáu, 25/09/2026 06:00
28°C
Thứ sáu, 25/09/2026 09:00
28°C
Thứ sáu, 25/09/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 25/09/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 25/09/2026 18:00
24°C
Thứ sáu, 25/09/2026 21:00
25°C
Thứ bảy, 26/09/2026 00:00
26°C
Thứ bảy, 26/09/2026 03:00
28°C
Thứ bảy, 26/09/2026 06:00
28°C
Quảng Bình

28°C

Cảm giác: 29°C
mây đen u ám
Thứ ba, 22/09/2026 00:00
22°C
Thứ ba, 22/09/2026 03:00
27°C
Thứ ba, 22/09/2026 06:00
28°C
Thứ ba, 22/09/2026 09:00
26°C
Thứ ba, 22/09/2026 12:00
21°C
Thứ ba, 22/09/2026 15:00
22°C
Thứ ba, 22/09/2026 18:00
21°C
Thứ ba, 22/09/2026 21:00
21°C
Thứ tư, 23/09/2026 00:00
22°C
Thứ tư, 23/09/2026 03:00
26°C
Thứ tư, 23/09/2026 06:00
28°C
Thứ tư, 23/09/2026 09:00
26°C
Thứ tư, 23/09/2026 12:00
22°C
Thứ tư, 23/09/2026 15:00
22°C
Thứ tư, 23/09/2026 18:00
22°C
Thứ tư, 23/09/2026 21:00
21°C
Thứ năm, 24/09/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 24/09/2026 03:00
25°C
Thứ năm, 24/09/2026 06:00
25°C
Thứ năm, 24/09/2026 09:00
24°C
Thứ năm, 24/09/2026 12:00
22°C
Thứ năm, 24/09/2026 15:00
21°C
Thứ năm, 24/09/2026 18:00
22°C
Thứ năm, 24/09/2026 21:00
21°C
Thứ sáu, 25/09/2026 00:00
22°C
Thứ sáu, 25/09/2026 03:00
24°C
Thứ sáu, 25/09/2026 06:00
24°C
Thứ sáu, 25/09/2026 09:00
24°C
Thứ sáu, 25/09/2026 12:00
22°C
Thứ sáu, 25/09/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 25/09/2026 18:00
21°C
Thứ sáu, 25/09/2026 21:00
21°C
Thứ bảy, 26/09/2026 00:00
22°C
Thứ bảy, 26/09/2026 03:00
26°C
Thứ bảy, 26/09/2026 06:00
27°C
Thừa Thiên Huế

29°C

Cảm giác: 32°C
mưa nhẹ
Thứ ba, 22/09/2026 00:00
24°C
Thứ ba, 22/09/2026 03:00
23°C
Thứ ba, 22/09/2026 06:00
26°C
Thứ ba, 22/09/2026 09:00
28°C
Thứ ba, 22/09/2026 12:00
23°C
Thứ ba, 22/09/2026 15:00
22°C
Thứ ba, 22/09/2026 18:00
22°C
Thứ ba, 22/09/2026 21:00
22°C
Thứ tư, 23/09/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 23/09/2026 03:00
27°C
Thứ tư, 23/09/2026 06:00
27°C
Thứ tư, 23/09/2026 09:00
26°C
Thứ tư, 23/09/2026 12:00
23°C
Thứ tư, 23/09/2026 15:00
23°C
Thứ tư, 23/09/2026 18:00
22°C
Thứ tư, 23/09/2026 21:00
22°C
Thứ năm, 24/09/2026 00:00
24°C
Thứ năm, 24/09/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 24/09/2026 06:00
27°C
Thứ năm, 24/09/2026 09:00
26°C
Thứ năm, 24/09/2026 12:00
23°C
Thứ năm, 24/09/2026 15:00
23°C
Thứ năm, 24/09/2026 18:00
22°C
Thứ năm, 24/09/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 25/09/2026 00:00
23°C
Thứ sáu, 25/09/2026 03:00
29°C
Thứ sáu, 25/09/2026 06:00
27°C
Thứ sáu, 25/09/2026 09:00
26°C
Thứ sáu, 25/09/2026 12:00
23°C
Thứ sáu, 25/09/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 25/09/2026 18:00
22°C
Thứ sáu, 25/09/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 26/09/2026 00:00
23°C
Thứ bảy, 26/09/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 26/09/2026 06:00
27°C
Hà Giang

34°C

Cảm giác: 36°C
bầu trời quang đãng
Thứ ba, 22/09/2026 00:00
24°C
Thứ ba, 22/09/2026 03:00
31°C
Thứ ba, 22/09/2026 06:00
34°C
Thứ ba, 22/09/2026 09:00
33°C
Thứ ba, 22/09/2026 12:00
26°C
Thứ ba, 22/09/2026 15:00
24°C
Thứ ba, 22/09/2026 18:00
22°C
Thứ ba, 22/09/2026 21:00
22°C
Thứ tư, 23/09/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 23/09/2026 03:00
31°C
Thứ tư, 23/09/2026 06:00
34°C
Thứ tư, 23/09/2026 09:00
33°C
Thứ tư, 23/09/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 23/09/2026 15:00
24°C
Thứ tư, 23/09/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 23/09/2026 21:00
22°C
Thứ năm, 24/09/2026 00:00
23°C
Thứ năm, 24/09/2026 03:00
31°C
Thứ năm, 24/09/2026 06:00
34°C
Thứ năm, 24/09/2026 09:00
33°C
Thứ năm, 24/09/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 24/09/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 24/09/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 24/09/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 25/09/2026 00:00
23°C
Thứ sáu, 25/09/2026 03:00
28°C
Thứ sáu, 25/09/2026 06:00
33°C
Thứ sáu, 25/09/2026 09:00
32°C
Thứ sáu, 25/09/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 25/09/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 25/09/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 25/09/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 26/09/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 26/09/2026 03:00
28°C
Thứ bảy, 26/09/2026 06:00
31°C

Giá vàngTỷ giá

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Cập nhật: 21/09/2026 15:00
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,970 ▼100K 14,570 ▼100K
Trang sức 99.99 13,980 ▼100K 14,580 ▼100K
Cập nhật: 21/09/2026 15:00
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 ▼10K 14,662 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 ▼10K 14,663 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼10K 1,461 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼10K 1,462 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 ▼10K 1,451 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 ▼990K 143,663 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 ▼750K 108,986 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 ▼680K 98,828 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 ▼61K 8,867 ▼61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 ▼583K 84,752 ▼583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 ▲45735K 60,663 ▲54555K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Cập nhật: 21/09/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17997 18271 18847
CAD 18019 18294 18910
CHF 30938 31315 31952
CNY 0 3842 3937
EUR 29203 29423 30502
GBP 33972 34362 35294
HKD 0 3184 3386
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14557 15142
SGD 19848 20130 20697
THB 696 759 812
USD (1,2) 25745 0 0
USD (5,10,20) 25784 0 0
USD (50,100) 25812 25826 26192
Cập nhật: 21/09/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,254 29,277 30,663
JPY 160.86 161.15 170.9
GBP 34,157 34,249 35,434
AUD 18,187 18,253 18,945
CAD 18,206 18,264 18,936
CHF 31,179 31,276 32,201
SGD 19,961 20,023 20,810
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,248 3,258 3,395
KRW 17.37 18.11 19.71
THB 744.24 753.43 806.71
NZD 14,537 14,672 15,108
SEK - 2,598 2,689
DKK - 3,923 4,062
NOK - 2,708 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,963.02 - 6,730.53
TWD 739.18 - 894.99
SAR - 6,805.73 7,168.69
KWD - 82,348 87,625
Cập nhật: 21/09/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,309 29,427 30,627
GBP 34,205 34,342 35,368
HKD 3,248 3,261 3,378
CHF 31,091 31,216 32,159
JPY 161.83 162.48 170.46
AUD 18,193 18,266 18,860
SGD 20,036 20,116 20,706
THB 761 764 801
CAD 18,249 18,322 18,912
NZD 14,631 15,173
KRW 17.95 19.92
Cập nhật: 21/09/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26190
AUD 18167 18267 19192
CAD 18201 18301 19315
CHF 31180 31210 32792
CNY 3823.2 3848.2 3983.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29381 29411 31133
GBP 34266 34316 36084
HKD 0 3305 0
JPY 162.07 162.57 173.08
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14663 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19991 20121 20852
THB 0 725.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Cập nhật: 21/09/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,700 25,820 26,210
USD20 25,670 25,820 26,210
USD1 25,650 25,820 26,210
AUD 18,213 18,313 19,453
EUR 29,197 29,297 30,993
CAD 18,170 18,270 19,598
SGD 20,076 20,226 20,809
JPY 162.93 164.43 170.2
GBP 34,203 34,353 35,710
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,730 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/09/2026 15:00