Phát thải khí nhà kính ngành viễn thông giảm 5% nhưng chưa đủ nhanh

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Phát thải khí nhà kính của ngành viễn thông di động toàn cầu giảm 5% trong năm 2024, mức giảm nhanh nhất kể từ khi ngành bắt đầu theo dõi, song vẫn chưa đạt mức theo lộ trình khoa học đặt ra cho năm 2030.
Việt Nam mở cửa thị trường tín chỉ các-bon: Cơ hội hay thách thức? Doanh thu Viettel tăng 15,6%, phát thải chỉ nhích 3,5% Cuộc đua 'nhà mạng AI' tại Đông Nam Á

Ngành viễn thông giảm phát thải khí nhà kính nhanh nhất kể từ năm 2019

Báo cáo Mobile Net Zero 2026 do Hiệp hội Di động Toàn cầu GSMA công bố tháng 7/2026 tổng hợp dữ liệu năng lượng và phát thải từ hơn 200 nhà mạng cùng nhà cung cấp, đồng thời phân tích 116 bản công bố bao phủ 85% số thuê bao di động và 95% doanh thu toàn cầu. Kết quả cho thấy phát thải vận hành của toàn ngành viễn thông đạt khoảng 115 triệu tấn CO₂ tương đương trong năm 2024, chiếm 0,2% tổng phát thải khí nhà kính của thế giới và 0,3% lượng CO₂ phát sinh từ năng lượng.

Biểu đồ so sánh xu hướng thực tế và lộ trình giảm phát thải khí nhà kính ngành viễn thông theo khu vực.
Biểu đồ so sánh xu hướng thực tế và lộ trình giảm phát thải khí nhà kính ngành viễn thông theo khu vực. Nguồn GSMA.

Theo báo cáo, từ năm 2019 đến 2024, các nhà mạng đã cắt giảm 13% phát thải trong hoạt động vận hành trong khi số thuê bao di động tăng 10% và lưu lượng dữ liệu di động tăng hơn bốn lần. Trong cùng giai đoạn, phát thải CO₂ liên quan đến năng lượng trên toàn cầu tăng 3,6%, còn phát thải từ sản xuất điện tăng 10%, qua đó cho thấy mức giảm phát thải của ngành viễn thông diễn ra trong bối cảnh nhu cầu sử dụng dịch vụ và dữ liệu tăng nhanh. Tính trên mỗi thuê bao, lượng phát thải khí nhà kính giảm 16%, còn tính trên mỗi đơn vị doanh thu, mức giảm đạt 20%. Số liệu sơ bộ từ các nhà mạng đại diện cho 67% tổng số thuê bao trên toàn cầu cũng cho thấy lượng phát thải tiếp tục giảm khoảng 3% trong năm 2025.

Phát thải vận hành của các nhà mạng đi xuống trong khi số thuê bao và phát thải CO₂ toàn cầu đi lên, mốc quy chiếu năm 2019 bằng 100. Nguồn GSMA.
Phát thải vận hành của các nhà mạng đi xuống trong khi số thuê bao và phát thải CO₂ toàn cầu đi lên, mốc quy chiếu năm 2019 bằng 100. Nguồn GSMA.

Năng lượng tái tạo giữ vai trò quyết định khi đóng góp gần 60% mức giảm phát thải khí nhà kính ghi nhận được. Các nhà mạng mua và tự sản xuất khoảng 70 TWh điện tái tạo trong năm 2024, đưa tỷ trọng điện sạch từ 10% năm 2019 lên 24% năm 2024. Nhà mạng châu Âu đạt tỷ lệ khoảng 70%, Bắc Mỹ 50% và Mỹ Latinh 45%. Toàn ngành viễn thông tiêu thụ khoảng 300 TWh điện, tương đương 1% điện năng toàn cầu, và chi khoảng 50 tỷ USD tiền năng lượng trong một năm.

Báo cáo phân tích, nếu xu hướng giai đoạn 2022 đến 2024 tiếp diễn, phát thải khí nhà kính của ngành viễn thông chỉ giảm 33% vào năm 2030, thấp hơn 12% so với mức 45% mà lộ trình mục tiêu dựa trên cơ sở khoa học yêu cầu. Để bù khoảng cách đó, toàn ngành phải nâng tốc độ giảm bình quân lên khoảng 7% mỗi năm, gấp rưỡi thành tích tốt nhất vừa đạt được.

Nhà mạng châu Âu và Bắc Mỹ đã vượt lộ trình với tốc độ giảm bình quân 14% và 13% mỗi năm, còn khu vực Trung Quốc lần đầu tiên giảm phát thải trong năm 2024 với mức 7%, chủ yếu nhờ China Mobile và China Telecom cùng nhau mua hơn 6 TWh điện tái tạo. Vì khu vực Trung Quốc chiếm hơn một nửa phát thải toàn ngành, cú giảm 7% đó trở thành động lực chính kéo con số toàn cầu đi xuống. Trong khi đó, phát thải trực tiếp tại châu Phi hạ Sahara tăng hơn 60% do các trạm phát sóng phụ thuộc ngày càng nhiều vào máy phát điện chạy dầu diesel.

Phát thải vận hành giảm ở toàn bộ tám khu vực, dẫn đầu là châu Âu với mức giảm 54% và Bắc Mỹ 50%, cột đen bên phải thể hiện kg CO₂ trên mỗi thuê bao năm 2024. Nguồn GSMA.
Phát thải vận hành giảm ở toàn bộ tám khu vực, dẫn đầu là châu Âu với mức giảm 54% và Bắc Mỹ 50%, cột đen bên phải thể hiện kg CO₂ trên mỗi thuê bao năm 2024. Nguồn GSMA.

Cũng theo báo cáo, 81 nhà mạng đã đặt hoặc cam kết mục tiêu ngắn hạn dựa trên cơ sở khoa học tính đến tháng 6/2026, chiếm khoảng một nửa số thuê bao và hơn hai phần ba doanh thu ngành, trong đó 77 mục tiêu đã được thẩm định. Có 50 nhà mạng nộp mục tiêu phát thải ròng bằng không, 46 mục tiêu được thẩm định và một nửa trong số đó hướng tới mốc 2040 hoặc sớm hơn, sớm nhất là TDC NET với năm 2030 cùng Tele2 và Swisscom với năm 2035. Chất lượng công bố của ngành viễn thông cũng vượt trội khi gần một phần ba nhà mạng công bố qua CDP đạt điểm A, so với chưa tới 4% ở các ngành còn lại.

Nhà mạng không kiểm soát 3/4 lượng phát thải khí nhà kính

Báo cáo cho thấy phần lớn phát thải của ngành viễn thông không đến từ các trạm phát sóng hay tòa nhà văn phòng mà nằm trong chuỗi giá trị, với lượng phát thải ước đạt 310 triệu tấn CO₂ tương đương, chiếm 73% tổng lượng phát thải carbon và cao gần gấp 03 lần phần phát thải mà các nhà mạng trực tiếp kiểm soát. Bốn nhóm gồm hàng hóa và dịch vụ mua vào, tài sản cố định, hoạt động liên quan đến nhiên liệu và năng lượng cùng việc khách hàng sử dụng sản phẩm đã bán chiếm hơn 70% lượng phát thải này, trong đó riêng hàng hóa và dịch vụ mua vào chiếm 37%.

Phạm vi 3 chiếm 73% tổng lượng phát thải carbon của ngành, phạm vi 2 chiếm 25% và phạm vi 1 chỉ 2%. Nguồn GSMA.
Phạm vi 3 chiếm 73% tổng lượng phát thải carbon của ngành, phạm vi 2 chiếm 25% và phạm vi 1 chỉ 2%. Nguồn GSMA.

Trong 100 nhà cung cấp lớn với tổng vốn hóa khoảng 25 nghìn tỷ USD, một nửa đã có mục tiêu ngắn hạn được thẩm định, trong đó nhóm dịch vụ đám mây và công nghệ thông tin dẫn đầu với tỷ lệ 80%, tiếp đến là nhóm sản xuất thiết bị mạng với 53%, còn trong 20 hãng sản xuất điện thoại lớn nhất chỉ có 10 doanh nghiệp đã có mục tiêu được thẩm định. Nhóm doanh nghiệp cung cấp hạ tầng trạm viễn thông có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 24%, cho thấy tiến độ xây dựng mục tiêu giảm phát thải giữa các mắt xích trong chuỗi cung ứng vẫn còn khác biệt lớn.

Nhóm dịch vụ đám mây đạt 80% còn nhóm công ty hạ tầng trạm chỉ đạt 24% số doanh nghiệp có mục tiêu ngắn hạn đã thẩm định. Nguồn GSMA dựa trên dữ liệu SBTi.
Nhóm dịch vụ đám mây đạt 80% còn nhóm công ty hạ tầng trạm chỉ đạt 24% số doanh nghiệp có mục tiêu ngắn hạn đã thẩm định. Nguồn GSMA dựa trên dữ liệu SBTi.

100 công ty hạ tầng trạm lớn nhất vận hành khoảng 4 triệu điểm, tương đương 2/3 số trạm toàn cầu, nhưng chỉ 1/4 công bố phát thải trong năm 2025. Nói cách khác, phát thải khí nhà kính từ khoảng 1,1 triệu trạm, tức một phần sáu số trạm của thế giới, không xuất hiện trong sổ sách của bất kỳ ai. Các trạm viễn thông tiêu thụ ước tính 4 tỷ lít dầu diesel trong năm 2024, hơn một nửa do công ty hạ tầng mua, với 80% tập trung ở châu Phi hạ Sahara và châu Á Thái Bình Dương. Khoảng 10% lượng dầu đó thất thoát vì trộm cắp và hao hụt vận chuyển.

Nguyên nhân chủ yếu nằm ở cách các bên phân chia trách nhiệm và chi phí trong hợp đồng, bởi mô hình hiện nay chưa tạo động lực để bên bỏ vốn đầu tư cũng là bên trực tiếp hưởng lợi từ việc thay đổi công nghệ. Với mô hình cung cấp điện theo dạng dịch vụ có chuyển tiếp chi phí, nhà mạng trả tiền nhiên liệu trong khi công ty hạ tầng sở hữu máy phát điện, khiến bên được hưởng lợi từ việc lắp đặt pin mặt trời lại không phải bên bỏ vốn đầu tư. GSMA khuyến nghị các nhà mạng đưa yêu cầu cung cấp dữ liệu về dầu diesel và điện năng vào hợp đồng khung dịch vụ, đồng thời cân nhắc chuyển sang mô hình chủ đất và người thuê để giải quyết xung đột lợi ích.

Khoảng 80% lượng dầu diesel cho trạm viễn thông tiêu thụ tại châu Phi hạ Sahara và châu Á Thái Bình Dương, khoảng 10% thất thoát do trộm cắp và hao hụt vận chuyển. Nguồn GSMA.
Khoảng 80% lượng dầu diesel cho trạm viễn thông tiêu thụ tại châu Phi hạ Sahara và châu Á Thái Bình Dương, khoảng 10% thất thoát do trộm cắp và hao hụt vận chuyển. Nguồn GSMA.

Chi phí nhiên liệu ngày càng cao đang khiến các nhà mạng phải tính toán nhanh hơn bài toán chuyển đổi sang các nguồn điện thay thế, đặc biệt tại những thị trường phụ thuộc lớn vào dầu khí nhập khẩu. Trong năm 2024, các nhà mạng tiêu thụ khoảng 2,5 tỷ lít dầu diesel và xăng, với tổng chi phí ước tính 3 tỷ USD. Sau khi eo biển Hormuz đóng cửa, giá dầu thô trong tháng 4/2026 cao hơn 70% so với mức bình quân năm 2025, trong khi châu Á nhập khẩu khoảng 60% dầu khí từ Trung Đông nên chịu tác động lớn nhất. Những đơn vị đã chuyển sang sử dụng điện mặt trời và các giải pháp lai cho biết có thể tiết kiệm khoảng 30% lượng nhiên liệu tiêu thụ.

AI đang làm thay đổi cấu trúc chi phí điện

Điện tiêu thụ của trung tâm dữ liệu toàn cầu tăng 17% trong năm 2025 lên gần 500 TWh và được dự báo tăng gấp đôi lên khoảng 950 TWh vào năm 2030. Bốn nhà cung cấp lớn trên thế giới gồm Amazon, Google, Meta và Microsoft đã nâng lượng điện tiêu thụ lên gấp hơn ba lần, đạt khoảng 115 TWh trong năm 2024. Trung tâm dữ liệu do nhà mạng sở hữu hiện chiếm chưa tới 10% tổng nhu cầu.

Cục diện có thể thay đổi đáng kể trong vài năm tới khi các nhà mạng ngày càng tham gia vào lĩnh vực trung tâm dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo. Hiện các nhà mạng chiếm 12% tổng công suất của các trung tâm dữ liệu AI đã được công bố hoặc đang xây dựng, trong đó một nửa tập trung tại Trung Quốc và 30% nằm ở phần còn lại của châu Á. Khi các trung tâm này hoàn thành và đi vào vận hành, khối công suất trên có thể làm tăng hơn 60 TWh nhu cầu điện tại các nhà mạng ở những quốc gia liên quan, kéo theo lượng phát thải khí nhà kính tăng theo.

Điện tiêu thụ của trung tâm dữ liệu tăng 75% trong khi mạng viễn thông tăng dưới 20% cùng kỳ, riêng bốn nhà cung cấp siêu quy mô đạt khoảng 115 TWh năm 2024. Nguồn GSMA tổng hợp từ IEA và công bố doanh nghiệp.
Điện tiêu thụ của trung tâm dữ liệu tăng 75% trong khi mạng viễn thông tăng dưới 20% cùng kỳ, riêng bốn nhà cung cấp siêu quy mô đạt khoảng 115 TWh năm 2024. Nguồn GSMA tổng hợp từ IEA và công bố doanh nghiệp.

Ở chiều mạng lưới, AI hiện chưa tạo ra tác động lớn đến tổng lưu lượng dữ liệu di động, dù nhu cầu sử dụng các dịch vụ AI từ người dùng cuối đang tăng nhanh. Lưu lượng suy luận AI từ người dùng cuối đã tăng gần gấp đôi trong một năm, nhưng mới chiếm khoảng 0,2% tổng lưu lượng di động vào đầu năm 2026. Rủi ro lớn hơn nằm ở tác động gián tiếp, bởi video hiện chiếm khoảng hai phần ba lưu lượng di động, nên bất kỳ thay đổi nào trong thuật toán đề xuất video ngắn cũng có thể nhanh chóng làm gia tăng nhu cầu truyền dữ liệu. Theo GSMA, AI có tác động hai chiều khi vừa giúp nhà mạng tối ưu chế độ ngủ và tắt động của các trạm phát sóng, vừa có thể khiến doanh nghiệp đầu tư dư thừa công suất nếu quá tin vào những dự báo về tốc độ tăng trưởng lưu lượng do các hãng thiết bị đưa ra.

Viettel đo đếm phát thải sớm, tỷ lệ năng lượng tái tạo vẫn thấp

Đặt trong tương quan với xu hướng phát thải của ngành viễn thông toàn cầu, số liệu của Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội cho thấy cơ cấu phát thải của Viettel có những đặc điểm riêng, gắn với quy mô hoạt động và hệ thống hạ tầng mà tập đoàn đang vận hành. Theo Báo cáo Phát triển bền vững 2025, tổng phát thải khí nhà kính của Viettel đạt 3.563.627 tấn CO₂, tăng 3,5% trong khi doanh thu hợp nhất tăng 15,6%, lên 223 nghìn tỷ đồng. Trong tổng lượng phát thải này, phạm vi 1 chiếm 1.916.501 tấn, phạm vi 2 từ điện chiếm 1.647.126 tấn. Xét theo địa lý, Việt Nam chiếm phần lớn với 2.930.709 tấn, tương đương 82,2% tổng phát thải.

Nhà mạng châu Âu đạt khoảng 70% điện tái tạo, châu Á Thái Bình Dương khoảng 14% và khu vực Đại Trung Hoa chỉ 6%, mức 2% của Viettel nằm dưới toàn bộ dải khu vực. Nguồn GSMA.
Nhà mạng châu Âu đạt khoảng 70% điện tái tạo, châu Á Thái Bình Dương khoảng 14% và khu vực Trung Quốc chỉ 6%, mức 2% của Viettel nằm dưới toàn bộ dải khu vực. Nguồn GSMA.

Hai bộ số liệu chưa thể so sánh trực tiếp do chênh nhau 01 năm về thời điểm thống kê và có sự khác biệt về cơ cấu hoạt động. Riêng Nhà máy Xi măng Cẩm Phả chiếm gần 51% phát thải trực tiếp của Viettel với 979.361 tấn CO₂, tức hơn 1/4 tổng phát thải toàn tập đoàn, trong khi các nhà mạng chỉ hoạt động trong lĩnh vực viễn thông không có nguồn phát thải từ sản xuất xi măng.

Xét về hiệu quả sử dụng năng lượng, số liệu Viettel công bố cho thấy mức tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị dữ liệu của tập đoàn nằm gần nhóm thấp trong các mức được GSMA ghi nhận ở các nhà mạng tham gia đánh giá. Mức tiêu thụ năng lượng của Viettel đạt 26,23 MWh trên mỗi petabyte dữ liệu, trong khi 23 nhà mạng tham gia bộ chỉ số GSMA ESG Metrics for Mobile ghi nhận mức từ 23 đến 297 MWh mỗi petabyte. Mức này cũng thấp hơn đáng kể so với bình quân 80 MWh mỗi petabyte của 16 tập đoàn tham gia khảo sát hiệu quả năng lượng do GSMA Intelligence thực hiện.

Tại Việt Nam, lượng điện lưới Viettel tiêu thụ giảm 3%, từ 1.863.752 MWh xuống 1.807.092 MWh, sau khi Viettel áp dụng giải pháp tắt sóng trạm trong giờ thấp điểm cho mạng 4G từ tháng 1 và mạng 5G từ tháng 4.

Cường độ năng lượng truyền dữ liệu giảm bình quân 15% mỗi năm nhưng tốc độ cải thiện chậm dần theo đà giảm của tăng trưởng lưu lượng. Nguồn GSMA.
Mức tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị dữ liệu truyền tải giảm bình quân 15% mỗi năm nhưng tốc độ cải thiện chậm dần theo đà giảm của tăng trưởng lưu lượng. Nguồn GSMA.

Tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo vẫn còn thấp, dù sản lượng điện mặt trời tự sản xuất của Viettel đã đạt 50.404 MWh, tăng 24,8% so với năm 2024. Nguồn điện này mới đáp ứng khoảng 2% tổng lượng điện tiêu thụ của tập đoàn, thấp hơn nhiều mức bình quân 24% trên toàn cầu, 14% tại châu Á - Thái Bình Dương và 6% tại khu vực Trung Quốc. Đáng chú ý, 48.651 MWh, tương đương 96,5% sản lượng điện mặt trời, đến từ Movitel, Halotel, Lumitel, Mytel và Unitel tại châu Phi và châu Á, nơi nguồn điện lưới thiếu ổn định khiến điện mặt trời trở thành lựa chọn tiết kiệm hơn dầu diesel. Xu hướng này cũng phù hợp với ghi nhận của GSMA trên toàn cầu, khi giá nhiên liệu tăng cao đang thúc đẩy các nhà mạng tại châu Phi chuyển sang điện mặt trời để giảm khoảng 30% chi phí.

Bảng so sánh năng lượng tiêu thụ và phát thải khí nhà kính của Viettel năm 2024 và 2025.
Bảng so sánh năng lượng tiêu thụ và phát thải khí nhà kính của Viettel năm 2024 và 2025. Nguồn Viettel.

Một điểm khác biệt trong cách Viettel tiếp cận giảm phát thải nằm ở thời điểm và phương thức xác lập các mục tiêu dài hạn, khi Viettel ưu tiên hoàn thiện hệ thống dữ liệu và đánh giá hiện trạng trước khi đưa ra cam kết cụ thể. Viettel chưa công bố thời điểm đạt phát thải ròng bằng không, chưa kiểm kê phát thải phạm vi 3, chiếm khoảng 3/4 tổng lượng phát thải của ngành viễn thông, đồng thời đặt mục tiêu nâng tỷ trọng năng lượng tái tạo lên 3-5% trong giai đoạn 2028-2029 và giảm chỉ số hiệu quả sử dụng điện của các trung tâm dữ liệu từ 2,0 xuống dưới 1,8 vào năm 2026.

Kéo dài vòng đời máy cũ cắt giảm 90% phát thải khí nhà kính

Mỗi chiếc điện thoại thông minh phát sinh khoảng 50 kg CO₂ tương đương trong toàn bộ vòng đời, trong đó vật liệu và sản xuất chiếm 70-90% tổng lượng phát thải. Với hơn 1,2 tỷ điện thoại mới được bán ra trong năm 2025, riêng khâu sản xuất đã tạo ra hơn 60 triệu tấn CO₂. Phát thải trung bình trên mỗi thiết bị giảm 20% trong giai đoạn 2019-2023 nhờ sử dụng điện sạch và vật liệu tái chế, nhưng tăng trở lại 8% trong hai năm tiếp theo khi dung lượng bộ nhớ ngày càng lớn và các linh kiện phục vụ AI được đưa trực tiếp vào thiết bị. Điện thoại 512 GB có lượng phát thải cao hơn khoảng một phần ba so với phiên bản 128 GB, trong khi điện thoại gập phát thải cao hơn khoảng 50% so với mẫu máy thông thường.

Phát thải bình quân mỗi máy giảm 20% trong giai đoạn 2019 đến 2023 rồi tăng trở lại 8%, các chấm nằm cao nhất ứng với những mẫu máy dung lượng 1 TB và 2 TB. Dữ liệu tổng hợp từ 145 mẫu máy của bảy thương hiệu lớn. Nguồn GSMA.
Phát thải bình quân mỗi máy giảm 20% trong giai đoạn 2019 đến 2023 rồi tăng trở lại 8%, các chấm nằm cao nhất ứng với những mẫu máy dung lượng 1 TB và 2 TB. Dữ liệu tổng hợp từ 145 mẫu máy của bảy thương hiệu lớn. Nguồn GSMA.

Sau khi giảm liên tục trong giai đoạn 2019-2023 nhờ các hãng chuyển sang sử dụng điện sạch, tăng tỷ lệ vật liệu tái chế và bỏ củ sạc khỏi hộp, phát thải bình quân trên mỗi điện thoại lại đảo chiều, tăng 8% trong hai năm tiếp theo. Hai nguyên nhân chính nằm ở dung lượng bộ nhớ ngày càng lớn và phần cứng phục vụ trí tuệ nhân tạo được tích hợp trực tiếp vào thiết bị, bởi bộ xử lý thần kinh cùng dung lượng RAM lớn đều làm tăng năng lượng tiêu thụ trong quá trình chế tạo vi mạch. Trong giai đoạn 2019-2023, phát thải bình quân trên mỗi máy đã giảm 20% trước khi tăng trở lại, cho thấy những thay đổi về cấu hình phần cứng đang làm đảo chiều xu hướng giảm phát thải của ngành. Điện thoại 512 GB có lượng phát thải cao hơn bản 128 GB khoảng một phần ba, trong khi điện thoại gập cao hơn mẫu máy thông thường tới 50%.

Nhu cầu bộ nhớ tăng mạnh tại các trung tâm dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo đang tạo ra một tác động ngược chiều đối với lượng phát thải của ngành điện thoại khi nguồn cung bộ nhớ hạn chế khiến các nhà sản xuất ưu tiên những dòng máy cao cấp có biên lợi nhuận cao hơn, còn giá điện thoại phổ thông và tầm trung tăng mạnh, buộc nhóm người dùng nhạy cảm về giá phải hoãn mua máy mới hoặc chuyển sang thiết bị đã qua sử dụng. Giới phân tích dự báo số điện thoại mới xuất xưởng sẽ giảm khoảng 15% trong năm 2026, trong khi thị trường máy cũ và máy tân trang tăng khoảng 8% mỗi năm, qua đó thúc đẩy quy mô thị trường này cùng các dịch vụ sửa chữa lên khoảng 150 tỷ USD vào năm 2027.

Lượng máy mới xuất xưởng giảm 15% trong năm 2026 do khủng hoảng bộ nhớ, thị trường máy đã qua sử dụng tăng 8%, trong khi 45% người tiêu dùng sẵn sàng cân nhắc máy tân trang cho lần đổi máy kế tiếp. Nguồn GSMA tổng hợp từ CCS Insight, Counterpoint, IDC và Omdia.
Lượng máy mới xuất xưởng giảm 15% trong năm 2026 do khủng hoảng bộ nhớ, thị trường máy đã qua sử dụng tăng 8%, trong khi 45% người tiêu dùng sẵn sàng cân nhắc máy tân trang cho lần đổi máy kế tiếp. Nguồn GSMA tổng hợp từ CCS Insight, Counterpoint, IDC và Omdia.

Nhu cầu đối với điện thoại tân trang đã hình thành từ trước khi giá máy mới chịu tác động từ tình trạng thiếu bộ nhớ. Khảo sát hơn 13.000 người tiêu dùng do GSMA thực hiện cho thấy 45% sẵn sàng cân nhắc mua máy tân trang trong lần đổi điện thoại tiếp theo, trong khi sửa chữa hoặc tân trang một thiết bị có thể giảm khoảng 90% lượng phát thải trong vòng đời so với sản xuất máy mới. Rào cản lớn hơn nằm ở niềm tin của người mua khi điện thoại tân trang vẫn chiếm dưới 10% doanh số tại hầu hết quốc gia, một phần do các nhà bán lẻ áp dụng tiêu chí phân loại chất lượng và nhãn nhận diện khác nhau. GSMA đang nghiên cứu xây dựng hướng dẫn chung về nhãn cho điện thoại tân trang, còn với các nhà mạng, kéo dài thời gian sử dụng mỗi thiết bị cũng giúp giảm lượng phát thải phát sinh từ quá trình sản xuất và cung ứng thiết bị trong phạm vi 3.

Tại châu Á - Thái Bình Dương, các nhà mạng ngày càng công khai đầy đủ hơn thông tin về phát thải khi gần 2/3 số thuê bao trong khu vực thuộc các nhà mạng đã công bố dữ liệu qua CDP, 56% có mục tiêu ngắn hạn được thẩm định và 38% số thuê bao nằm trong phạm vi mục tiêu phát thải ròng bằng không đã được thẩm định, tăng mạnh từ 20% một năm trước. Phát thải trên mỗi thuê bao giảm 12%, nhưng lượng điện tiêu thụ trên mỗi thuê bao vẫn tăng 1%, trong khi tỷ lệ điện tái tạo được các nhà mạng mua vào mới đạt khoảng 14%.

Bộ Công Thương muốn áp dụng ngay giá điện tính theo khung giờ cao điểm mới

Theo GSMA, khả năng tiếp cận nguồn điện sạch vẫn bị hạn chế do cơ chế mua bán điện trực tiếp chưa phát triển đồng đều trong khu vực. Tại nhiều quốc gia, hợp đồng mua bán điện trực tiếp còn hạn chế hoặc đang trong quá trình xây dựng, còn ở những thị trường phát triển hơn, chi phí cao và thiếu lựa chọn phù hợp với các phụ tải phân tán như trạm phát sóng khiến nhà mạng khó mua điện tái tạo trực tiếp. GSMA khuyến nghị các chính phủ dỡ bỏ trợ cấp nhiên liệu hóa thạch, rút gọn thủ tục cấp phép dự án điện sạch, cải cách thiết kế thị trường điện và mở rộng hạ tầng lưới điện tại Đông Nam Á. Châu Á - Thái Bình Dương cũng là nơi tập trung phần lớn chuỗi cung ứng thiết bị viễn thông toàn cầu, nên giảm phát thải từ nguồn điện tại khu vực này có thể góp phần giảm phát thải phạm vi 3 của các nhà mạng trên toàn thế giới.

Với Việt Nam, biến đổi khí hậu đặt ra yêu cầu thích ứng trực tiếp đối với hệ thống hạ tầng viễn thông, đặc biệt khi bão và lũ có thể gây gián đoạn mạng lưới trên diện rộng. Trong 54 nhà mạng xác định ít nhất một rủi ro khí hậu, ngập lụt là rủi ro vật lý cấp tính được đề cập nhiều nhất, trong khi 40 nhà mạng đã lượng hóa tác động tài chính với tổng giá trị lên tới 11 tỷ USD, khoảng 60% đến từ các rủi ro dài hạn. GSMA cho biết cảnh báo trước 24 giờ về một hiểm họa sắp xảy ra có thể giúp giảm 30% thiệt hại, qua đó cho thấy giá trị của hệ thống dự báo và cảnh báo sớm đối với các mạng viễn thông tại những quốc gia thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, lũ. Tuy nhiên, đến tháng 5/2026, mới có 15 nhà mạng cam kết xây dựng kế hoạch chuyển đổi khí hậu theo hướng dẫn của GSMA, cho thấy khoảng cách giữa cam kết và triển khai thực tế vẫn còn lớn trong ngành viễn thông.

Có thể bạn quan tâm

ITU chốt lộ trình 6G và nhận đề xuất công nghệ từ năm 2027

ITU chốt lộ trình 6G và nhận đề xuất công nghệ từ năm 2027

Viễn thông - Internet
Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) hoàn tất giai đoạn nghiên cứu tiền chuẩn 6G tại cuộc họp lần thứ 53 của nhóm công tác WP5D ở Geneva, chuẩn bị tiếp nhận đề xuất công nghệ 6G ứng viên từ đầu năm 2027 đến đầu năm 2029.
ZTE

ZTE 'đặt cược' vào kinh tế Token cho hạ tầng số kỷ nguyên AI

Viễn thông - Internet
Theo Omdia, ZTE đang đặt cược vào kinh tế Token, coi sự kết hợp giữa kết nối và sức mạnh tính toán AI là nền móng cho giai đoạn mới của hạ tầng số, qua những gì hãng trình diễn tại Hội nghị Thượng đỉnh Toàn cầu ZTE lần thứ 15 ở Kuala Lumpur (Malaysia) hồi tháng 9.
FPT Play, TV360, MyTV, Onlive TV, MangoPlus, HTVC bị phạt vì vi phạm quyền lợi người tiêu dùng

FPT Play, TV360, MyTV, Onlive TV, MangoPlus, HTVC bị phạt vì vi phạm quyền lợi người tiêu dùng

Viễn thông - Internet
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia vừa xử phạt sáu doanh nghiệp truyền hình trả tiền gồm FPT Play, TV360, MyTV, Onlive TV, MangoPlus và HTVC với tổng số tiền 3 tỉ 140 triệu đồng, trong đó bốn đơn vị không đăng ký hoặc không đăng ký lại hợp đồng theo mẫu với cơ quan quản lý như luật định.
SpaceX gom phổ tần đưa Starlink Mobile vào cuộc đua nhà mạng di động Mỹ

SpaceX gom phổ tần đưa Starlink Mobile vào cuộc đua nhà mạng di động Mỹ

Viễn thông - Internet
SpaceX chuẩn bị đưa Starlink Mobile vào cuộc đua nhà mạng di động Mỹ, khi vừa gom thêm phổ tần băng thấp 800 MHz trên toàn quốc và được Ủy ban Truyền thông Liên bang Mỹ (FCC) cấp phép phóng 15.000 vệ tinh Starlink Mobile thế hệ hai.
Nhà mạng Hàn Quốc SK Telecom

Nhà mạng Hàn Quốc SK Telecom 'đặt cược' vào kinh tế token

Viễn thông - Internet
Nhà mạng lớn của Hàn Quốc SK Telecom công bố chiến lược Growth Gear, kết hợp viễn thông với AI, mở mảng Token Gateway dựa trên 23 triệu khách hàng nhằm trở thành đầu mối kết nối các dịch vụ trong nền kinh tế token, đồng thời thương mại hóa nhà máy AI hợp tác với Nvidia.
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Phan Thiết
Quảng Bình
Thừa Thiên Huế
Hà Giang
Hải Phòng
Khánh Hòa
Nghệ An
Hà Nội

27°C

Cảm giác: 30°C
mây đen u ám
Thứ tư, 21/10/2026 00:00
25°C
Thứ tư, 21/10/2026 03:00
30°C
Thứ tư, 21/10/2026 06:00
33°C
Thứ tư, 21/10/2026 09:00
30°C
Thứ tư, 21/10/2026 12:00
29°C
Thứ tư, 21/10/2026 15:00
27°C
Thứ tư, 21/10/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 21/10/2026 21:00
26°C
Thứ năm, 22/10/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 22/10/2026 03:00
31°C
Thứ năm, 22/10/2026 06:00
33°C
Thứ năm, 22/10/2026 09:00
31°C
Thứ năm, 22/10/2026 12:00
28°C
Thứ năm, 22/10/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 22/10/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 22/10/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 23/10/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 23/10/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 23/10/2026 06:00
33°C
Thứ sáu, 23/10/2026 09:00
33°C
Thứ sáu, 23/10/2026 12:00
29°C
Thứ sáu, 23/10/2026 15:00
27°C
Thứ sáu, 23/10/2026 18:00
26°C
Thứ sáu, 23/10/2026 21:00
25°C
Thứ bảy, 24/10/2026 00:00
26°C
Thứ bảy, 24/10/2026 03:00
31°C
Thứ bảy, 24/10/2026 06:00
34°C
Thứ bảy, 24/10/2026 09:00
34°C
Thứ bảy, 24/10/2026 12:00
30°C
Thứ bảy, 24/10/2026 15:00
28°C
Thứ bảy, 24/10/2026 18:00
27°C
TP Hồ Chí Minh

26°C

Cảm giác: 26°C
mây đen u ám
Thứ tư, 21/10/2026 00:00
28°C
Thứ tư, 21/10/2026 03:00
29°C
Thứ tư, 21/10/2026 06:00
26°C
Thứ tư, 21/10/2026 09:00
29°C
Thứ tư, 21/10/2026 12:00
29°C
Thứ tư, 21/10/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 21/10/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 21/10/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 22/10/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 22/10/2026 03:00
31°C
Thứ năm, 22/10/2026 06:00
30°C
Thứ năm, 22/10/2026 09:00
30°C
Thứ năm, 22/10/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 22/10/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 22/10/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 22/10/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 23/10/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 23/10/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 23/10/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 23/10/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 23/10/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 23/10/2026 15:00
26°C
Thứ sáu, 23/10/2026 18:00
24°C
Thứ sáu, 23/10/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 24/10/2026 00:00
26°C
Thứ bảy, 24/10/2026 03:00
30°C
Thứ bảy, 24/10/2026 06:00
32°C
Thứ bảy, 24/10/2026 09:00
30°C
Thứ bảy, 24/10/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 24/10/2026 15:00
25°C
Thứ bảy, 24/10/2026 18:00
25°C
Đà Nẵng

26°C

Cảm giác: 27°C
bầu trời quang đãng
Thứ tư, 21/10/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 21/10/2026 03:00
28°C
Thứ tư, 21/10/2026 06:00
28°C
Thứ tư, 21/10/2026 09:00
28°C
Thứ tư, 21/10/2026 12:00
28°C
Thứ tư, 21/10/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 21/10/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 21/10/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 22/10/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 22/10/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 22/10/2026 06:00
28°C
Thứ năm, 22/10/2026 09:00
28°C
Thứ năm, 22/10/2026 12:00
27°C
Thứ năm, 22/10/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 22/10/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 22/10/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 23/10/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 23/10/2026 03:00
27°C
Thứ sáu, 23/10/2026 06:00
27°C
Thứ sáu, 23/10/2026 09:00
28°C
Thứ sáu, 23/10/2026 12:00
27°C
Thứ sáu, 23/10/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 23/10/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 23/10/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 24/10/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 24/10/2026 03:00
27°C
Thứ bảy, 24/10/2026 06:00
28°C
Thứ bảy, 24/10/2026 09:00
28°C
Thứ bảy, 24/10/2026 12:00
27°C
Thứ bảy, 24/10/2026 15:00
26°C
Thứ bảy, 24/10/2026 18:00
25°C
Phan Thiết

25°C

Cảm giác: 26°C
mây đen u ám
Thứ tư, 21/10/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 21/10/2026 03:00
30°C
Thứ tư, 21/10/2026 06:00
29°C
Thứ tư, 21/10/2026 09:00
27°C
Thứ tư, 21/10/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 21/10/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 21/10/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 21/10/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 22/10/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 22/10/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 22/10/2026 06:00
30°C
Thứ năm, 22/10/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 22/10/2026 12:00
27°C
Thứ năm, 22/10/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 22/10/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 22/10/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 23/10/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 23/10/2026 03:00
29°C
Thứ sáu, 23/10/2026 06:00
29°C
Thứ sáu, 23/10/2026 09:00
28°C
Thứ sáu, 23/10/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 23/10/2026 15:00
26°C
Thứ sáu, 23/10/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 23/10/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 24/10/2026 00:00
26°C
Thứ bảy, 24/10/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 24/10/2026 06:00
30°C
Thứ bảy, 24/10/2026 09:00
28°C
Thứ bảy, 24/10/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 24/10/2026 15:00
26°C
Thứ bảy, 24/10/2026 18:00
25°C
Quảng Bình

21°C

Cảm giác: 22°C
mây cụm
Thứ tư, 21/10/2026 00:00
22°C
Thứ tư, 21/10/2026 03:00
26°C
Thứ tư, 21/10/2026 06:00
27°C
Thứ tư, 21/10/2026 09:00
26°C
Thứ tư, 21/10/2026 12:00
22°C
Thứ tư, 21/10/2026 15:00
21°C
Thứ tư, 21/10/2026 18:00
20°C
Thứ tư, 21/10/2026 21:00
20°C
Thứ năm, 22/10/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 22/10/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 22/10/2026 06:00
28°C
Thứ năm, 22/10/2026 09:00
26°C
Thứ năm, 22/10/2026 12:00
21°C
Thứ năm, 22/10/2026 15:00
21°C
Thứ năm, 22/10/2026 18:00
20°C
Thứ năm, 22/10/2026 21:00
20°C
Thứ sáu, 23/10/2026 00:00
22°C
Thứ sáu, 23/10/2026 03:00
28°C
Thứ sáu, 23/10/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 23/10/2026 09:00
26°C
Thứ sáu, 23/10/2026 12:00
22°C
Thứ sáu, 23/10/2026 15:00
21°C
Thứ sáu, 23/10/2026 18:00
21°C
Thứ sáu, 23/10/2026 21:00
21°C
Thứ bảy, 24/10/2026 00:00
22°C
Thứ bảy, 24/10/2026 03:00
30°C
Thứ bảy, 24/10/2026 06:00
28°C
Thứ bảy, 24/10/2026 09:00
26°C
Thứ bảy, 24/10/2026 12:00
22°C
Thứ bảy, 24/10/2026 15:00
23°C
Thứ bảy, 24/10/2026 18:00
23°C
Thừa Thiên Huế

25°C

Cảm giác: 26°C
bầu trời quang đãng
Thứ tư, 21/10/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 21/10/2026 03:00
28°C
Thứ tư, 21/10/2026 06:00
27°C
Thứ tư, 21/10/2026 09:00
27°C
Thứ tư, 21/10/2026 12:00
28°C
Thứ tư, 21/10/2026 15:00
22°C
Thứ tư, 21/10/2026 18:00
22°C
Thứ tư, 21/10/2026 21:00
21°C
Thứ năm, 22/10/2026 00:00
23°C
Thứ năm, 22/10/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 22/10/2026 06:00
29°C
Thứ năm, 22/10/2026 09:00
26°C
Thứ năm, 22/10/2026 12:00
23°C
Thứ năm, 22/10/2026 15:00
22°C
Thứ năm, 22/10/2026 18:00
21°C
Thứ năm, 22/10/2026 21:00
20°C
Thứ sáu, 23/10/2026 00:00
22°C
Thứ sáu, 23/10/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 23/10/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 23/10/2026 09:00
28°C
Thứ sáu, 23/10/2026 12:00
23°C
Thứ sáu, 23/10/2026 15:00
23°C
Thứ sáu, 23/10/2026 18:00
22°C
Thứ sáu, 23/10/2026 21:00
21°C
Thứ bảy, 24/10/2026 00:00
24°C
Thứ bảy, 24/10/2026 03:00
30°C
Thứ bảy, 24/10/2026 06:00
31°C
Thứ bảy, 24/10/2026 09:00
28°C
Thứ bảy, 24/10/2026 12:00
24°C
Thứ bảy, 24/10/2026 15:00
23°C
Thứ bảy, 24/10/2026 18:00
23°C
Hà Giang

25°C

Cảm giác: 25°C
mây đen u ám
Thứ tư, 21/10/2026 00:00
24°C
Thứ tư, 21/10/2026 03:00
29°C
Thứ tư, 21/10/2026 06:00
34°C
Thứ tư, 21/10/2026 09:00
32°C
Thứ tư, 21/10/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 21/10/2026 15:00
25°C
Thứ tư, 21/10/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 21/10/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 22/10/2026 00:00
23°C
Thứ năm, 22/10/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 22/10/2026 06:00
31°C
Thứ năm, 22/10/2026 09:00
30°C
Thứ năm, 22/10/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 22/10/2026 15:00
23°C
Thứ năm, 22/10/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 22/10/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 23/10/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 23/10/2026 03:00
29°C
Thứ sáu, 23/10/2026 06:00
32°C
Thứ sáu, 23/10/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 23/10/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 23/10/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 23/10/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 23/10/2026 21:00
23°C
Thứ bảy, 24/10/2026 00:00
24°C
Thứ bảy, 24/10/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 24/10/2026 06:00
32°C
Thứ bảy, 24/10/2026 09:00
29°C
Thứ bảy, 24/10/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 24/10/2026 15:00
24°C
Thứ bảy, 24/10/2026 18:00
24°C
Hải Phòng

26°C

Cảm giác: 26°C
bầu trời quang đãng
Thứ tư, 21/10/2026 00:00
25°C
Thứ tư, 21/10/2026 03:00
31°C
Thứ tư, 21/10/2026 06:00
32°C
Thứ tư, 21/10/2026 09:00
31°C
Thứ tư, 21/10/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 21/10/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 21/10/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 21/10/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 22/10/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 22/10/2026 03:00
31°C
Thứ năm, 22/10/2026 06:00
32°C
Thứ năm, 22/10/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 22/10/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 22/10/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 22/10/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 22/10/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 23/10/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 23/10/2026 03:00
31°C
Thứ sáu, 23/10/2026 06:00
32°C
Thứ sáu, 23/10/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 23/10/2026 12:00
28°C
Thứ sáu, 23/10/2026 15:00
26°C
Thứ sáu, 23/10/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 23/10/2026 21:00
25°C
Thứ bảy, 24/10/2026 00:00
26°C
Thứ bảy, 24/10/2026 03:00
32°C
Thứ bảy, 24/10/2026 06:00
33°C
Thứ bảy, 24/10/2026 09:00
29°C
Thứ bảy, 24/10/2026 12:00
27°C
Thứ bảy, 24/10/2026 15:00
27°C
Thứ bảy, 24/10/2026 18:00
26°C
Khánh Hòa

23°C

Cảm giác: 24°C
mây đen u ám
Thứ tư, 21/10/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 21/10/2026 03:00
27°C
Thứ tư, 21/10/2026 06:00
28°C
Thứ tư, 21/10/2026 09:00
27°C
Thứ tư, 21/10/2026 12:00
24°C
Thứ tư, 21/10/2026 15:00
23°C
Thứ tư, 21/10/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 21/10/2026 21:00
22°C
Thứ năm, 22/10/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 22/10/2026 03:00
31°C
Thứ năm, 22/10/2026 06:00
31°C
Thứ năm, 22/10/2026 09:00
28°C
Thứ năm, 22/10/2026 12:00
24°C
Thứ năm, 22/10/2026 15:00
23°C
Thứ năm, 22/10/2026 18:00
22°C
Thứ năm, 22/10/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 23/10/2026 00:00
23°C
Thứ sáu, 23/10/2026 03:00
32°C
Thứ sáu, 23/10/2026 06:00
34°C
Thứ sáu, 23/10/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 23/10/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 23/10/2026 15:00
23°C
Thứ sáu, 23/10/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 23/10/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 24/10/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 24/10/2026 03:00
32°C
Thứ bảy, 24/10/2026 06:00
34°C
Thứ bảy, 24/10/2026 09:00
30°C
Thứ bảy, 24/10/2026 12:00
24°C
Thứ bảy, 24/10/2026 15:00
24°C
Thứ bảy, 24/10/2026 18:00
23°C
Nghệ An

21°C

Cảm giác: 22°C
mây rải rác
Thứ tư, 21/10/2026 00:00
21°C
Thứ tư, 21/10/2026 03:00
29°C
Thứ tư, 21/10/2026 06:00
31°C
Thứ tư, 21/10/2026 09:00
29°C
Thứ tư, 21/10/2026 12:00
23°C
Thứ tư, 21/10/2026 15:00
22°C
Thứ tư, 21/10/2026 18:00
21°C
Thứ tư, 21/10/2026 21:00
21°C
Thứ năm, 22/10/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 22/10/2026 03:00
29°C
Thứ năm, 22/10/2026 06:00
28°C
Thứ năm, 22/10/2026 09:00
27°C
Thứ năm, 22/10/2026 12:00
23°C
Thứ năm, 22/10/2026 15:00
22°C
Thứ năm, 22/10/2026 18:00
21°C
Thứ năm, 22/10/2026 21:00
20°C
Thứ sáu, 23/10/2026 00:00
21°C
Thứ sáu, 23/10/2026 03:00
29°C
Thứ sáu, 23/10/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 23/10/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 23/10/2026 12:00
23°C
Thứ sáu, 23/10/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 23/10/2026 18:00
21°C
Thứ sáu, 23/10/2026 21:00
21°C
Thứ bảy, 24/10/2026 00:00
22°C
Thứ bảy, 24/10/2026 03:00
30°C
Thứ bảy, 24/10/2026 06:00
32°C
Thứ bảy, 24/10/2026 09:00
30°C
Thứ bảy, 24/10/2026 12:00
24°C
Thứ bảy, 24/10/2026 15:00
23°C
Thứ bảy, 24/10/2026 18:00
22°C

Giá vàngTỷ giá

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,400 142,400
Hà Nội - PNJ 139,400 142,400
Đà Nẵng - PNJ 139,400 142,400
Miền Tây - PNJ 139,400 142,400
Tây Nguyên - PNJ 139,400 142,400
Đông Nam Bộ - PNJ 139,400 142,400
Cập nhật: 20/10/2026 02:00
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,010 14,310
Miếng SJC Nghệ An 14,010 14,310
Miếng SJC Thái Bình 14,010 14,310
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 14,280
NL 99.99 13,230
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,080
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
Cập nhật: 20/10/2026 02:00
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 1,431
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,401 14,312
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,401 14,313
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,393 1,423
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,393 1,424
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,368 1,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,901 139,901
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,336 106,136
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,444 96,244
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,552 86,352
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,736 82,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,278 59,078
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 1,431
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 1,431
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 1,431
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 1,431
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 1,431
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 1,431
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 1,431
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 1,431
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 1,431
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 1,431
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,401 1,431
Cập nhật: 20/10/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18413
CAD 17856 18130 18748
CHF 30738 31115 31754
CNY 0 3834 3930
EUR 28424 28641 29721
GBP 33724 34112 35053
HKD 0 3169 3371
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14369 14956
SGD 19702 19983 20563
THB 687 750 804
USD (1,2) 25635 0 0
USD (5,10,20) 25673 0 0
USD (50,100) 25701 25715 26085
Cập nhật: 20/10/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,720 25,720 26,100
USD(1-2-5) 24,692 - -
USD(10-20) 24,692 - -
EUR 28,502 28,525 29,878
JPY 159.44 159.73 169.41
GBP 33,905 33,997 35,175
AUD 17,730 17,794 18,475
CAD 18,025 18,083 18,752
CHF 31,047 31,144 32,074
SGD 19,824 19,886 20,677
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,234 3,244 3,380
KRW 17.94 18.71 20.36
THB 735.84 744.93 797.65
NZD 14,339 14,472 14,905
SEK - 2,568 2,659
DKK - 3,823 3,958
NOK - 2,699 2,795
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,931.2 - 6,696.63
TWD 719.99 - 872.32
SAR - 6,786.05 7,148.56
KWD - 81,843 87,092
AED - 6,798 7,326
Cập nhật: 20/10/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,690 25,720 26,100
EUR 28,471 28,614 29,839
GBP 33,879 34,049 35,084
HKD 3,228 3,247 3,364
CHF 30,861 31,016 31,962
JPY 159.06 160.67 168.65
AUD 17,680 17,805 18,401
SGD 19,800 19,980 20,575
THB 741 756 794
CAD 17,976 18,103 18,701
NZD 14,408 14,965
KRW 18.79 20.78
Cập nhật: 20/10/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25683 25713 26073
AUD 17721 17821 18746
CAD 18015 18115 19126
CHF 30974 31004 32582
CNY 3815.4 3840.4 3975.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28571 28601 30323
GBP 34002 34052 35808
HKD 0 3315 0
JPY 160.15 160.65 171.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14458 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19854 19984 20705
THB 0 715.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14010000 14010000 14310000
SBJ 12500000 12500000 14310000
Cập nhật: 20/10/2026 02:00