KienlongBank lãi tăng 27,62%, chi phí dự phòng và chi cho hạ tầng công nghệ giảm
Báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ sáu tháng đầu năm 2026 của Ngân hàng TMCP Kiên Long, (KienlongBank, HoSE: KLB), cho thấy lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 939.466 triệu đồng, tăng 203.322 triệu đồng so với mức 736.144 triệu đồng của cùng kỳ năm 2025. Lãi cơ bản trên cổ phiếu KienlongBank tăng từ 983 đồng lên 1.254 đồng.
Tổng tài sản hợp nhất của KienlongBank tại ngày 30/6/2026 đạt 114.911.027 triệu đồng, tăng 11,24% so với đầu năm. Dư nợ cho vay khách hàng trước dự phòng của KienlongBank đạt 77.617.866 triệu đồng, tăng 8,42%. Tiền gửi khách hàng tại KienlongBank đạt 73.925.014 triệu đồng, tăng 2,66%. Cổ phiếu KLB giao dịch phiên đầu tiên trên HoSE ngày 15/1/2026, nên đây là kỳ bán niên đầu tiên KienlongBank công bố số liệu soát xét với tư cách doanh nghiệp niêm yết trên sàn TP.HCM.
Nguồn thu từ dịch vụ thanh toán của KienlongBank giảm 39,63%
Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ của KienlongBank còn 189.381 triệu đồng, giảm 38,56% so với 308.237 triệu đồng cùng kỳ. Phần hụt nằm gần như trọn vẹn ở thu dịch vụ thanh toán, khoản mục phản ánh lưu lượng giao dịch qua các kênh chuyển tiền, thẻ và ứng dụng ngân hàng số của KienlongBank, giảm từ 297.224 triệu đồng xuống 179.440 triệu đồng.
![]() |
| Khoản phải thu giao dịch lỗi chờ xử lý 343.386 triệu đồng của KienlongBank phát sinh mới, số đầu năm bằng không. Ảnh chụp báo cáo tài chính. |
Ở chiều chi ra, chi phí dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của KienlongBank tăng 16,22%, lên 18.688 triệu đồng. Khoảng cách giữa hai chiều thu và chi tại KienlongBank thu hẹp lại trong cùng một kỳ.
Tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng tại KienlongBank giảm từ 5.840.326 triệu đồng xuống 4.294.976 triệu đồng, tương đương giảm 26,46%. Tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn trong tổng tiền gửi khách hàng của KienlongBank lùi từ 8,14% xuống 5,83%. Nhóm số dư nêu trên gắn với tài khoản thanh toán và ví điện tử của người dùng, nên biến động của nó thường đi cùng mức độ hoạt động trên kênh số.
Hai khoản phải thu liên quan tới hạ tầng thanh toán liên ngân hàng và thẻ của KienlongBank lại đi lên. Phải thu từ nghiệp vụ Banknet tăng 18,66%, lên 779.129 triệu đồng. Phải thu từ nghiệp vụ thẻ tín dụng tăng 37,38%, lên 220.469 triệu đồng. Một cách lý giải là quy mô giao dịch qua hệ thống chuyển mạch vẫn duy trì, còn phần doanh thu KienlongBank ghi nhận từ chính lưu lượng đó thì thu hẹp.
Khoản phải thu 343 tỷ đồng từ giao dịch lỗi chờ xử lý
Thuyết minh V.10 của báo cáo KienlongBank ghi nhận một khoản mục mới trong nhóm các khoản phải thu, tên gọi các khoản phải thu giao dịch lỗi chờ xử lý, số cuối kỳ 343.386 triệu đồng, số đầu năm bằng không. Toàn bộ khoản mục hình thành tại KienlongBank trong sáu tháng đầu năm 2026.
Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C nêu chính con số đó trong phần cơ sở đưa ra kết luận ngoại trừ. Theo báo cáo soát xét số 1.324/26/TC-AC ngày 22/8/2026, khoản phải thu 343.386 triệu đồng của KienlongBank đang trong quá trình đối soát với các tổ chức có liên quan, và với tài liệu, thông tin hiện có, kiểm toán viên không thu thập đủ bằng chứng thích hợp để đánh giá kết quả của quá trình đối soát, cũng như số dự phòng cần trích lập nếu có.
![]() |
| Kiểm toán A&C nêu kết luận ngoại trừ với khoản phải thu 343.386 triệu đồng của KienlongBank đang trong quá trình đối soát. Ảnh chụp báo cáo tài chính. |
Đặt cạnh kết quả kinh doanh, 343.386 triệu đồng tương đương 36,55% lợi nhuận sau thuế hợp nhất mà KienlongBank đạt trong kỳ. Đối soát giao dịch là công đoạn kỹ thuật giữa các bên tham gia một giao dịch điện tử, nhằm khớp lại số tiền, số lệnh và trạng thái thành công hay thất bại của từng lệnh. Khối lượng chờ đối soát càng lớn thì phần số dư treo trên sổ sách càng lâu chưa có kết luận cuối cùng.
Trong cùng nhóm tài sản Có khác của KienlongBank, chi phí chờ phân bổ tăng từ 483.061 triệu đồng lên 1.601.847 triệu đồng, gấp 3,32 lần chỉ sau sáu tháng. Đây là nhóm chi phí đã chi ra nhưng phân bổ dần vào kết quả kinh doanh của nhiều kỳ, thay vì ghi hết một lần.
Chi cho hạ tầng công nghệ giảm, chi phí dự phòng lùi 33,49%
Nguyên giá phần mềm máy tính của KienlongBank giữ nguyên 229.825 triệu đồng trong suốt sáu tháng, tức không phát sinh khoản mua mới nào. Giá trị còn lại của phần mềm KienlongBank giảm từ 99.792 triệu đồng xuống 88.858 triệu đồng do khấu hao 10.934 triệu đồng. Trong nguyên giá phần mềm của KienlongBank, 78.421 triệu đồng đã khấu hao hết nhưng vẫn còn sử dụng, tương đương 34,12%.
Tiền chi mua sắm tài sản cố định của KienlongBank trong kỳ 7.095 triệu đồng, giảm 80,74% so với 36.835 triệu đồng cùng kỳ năm trước. Ở nhóm tài sản hữu hình, KienlongBank mua thêm 1.733 triệu đồng máy móc, thiết bị và 3.350 triệu đồng thiết bị, dụng cụ quản lý.
Các khoản chi vận hành liên quan tới viễn thông và dữ liệu tại KienlongBank biến động trái chiều. Cước phí bưu điện về mạng viễn thông giảm từ 19.429 triệu đồng xuống 1.972 triệu đồng, tương đương giảm 89,85%. Chi phí thông tin liên lạc của KienlongBank tăng 60,66%, lên 19.283 triệu đồng. Chi phí đào tạo của KienlongBank còn 344 triệu đồng, giảm 67,39%. Chi phí tiếp thị, quảng cáo, vật liệu văn phòng tăng 54,44%, lên 48.455 triệu đồng.
![]() |
| Thu dịch vụ thanh toán của KienlongBank giảm từ 297.224 triệu đồng xuống 179.440 triệu đồng trong sáu tháng đầu năm 2026. Ảnh chụp báo cáo tài chính. |
Cùng lúc đó, quy mô con người và điểm giao dịch của KienlongBank đi lên. Số nhân viên KienlongBank cuối kỳ 3.674 người, tăng 449 người so với đầu năm. Mạng lưới KienlongBank gồm một hội sở chính, hai văn phòng đại diện, 31 chi nhánh và 103 phòng giao dịch trên toàn quốc. Tổng quỹ lương giảm 2,01%, chi phí cho nhân viên giảm 3,96%.
Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của KienlongBank trong kỳ 351.242 triệu đồng, giảm 176.899 triệu đồng so với 528.141 triệu đồng cùng kỳ. Phần giảm đó tương đương 69,52% mức tăng của lợi nhuận trước thuế hợp nhất, vốn đi từ 921.258 triệu đồng lên 1.175.711 triệu đồng.
Cơ cấu nợ vay của KienlongBank cho thấy hai chiều khác nhau. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ 1,83%, thấp hơn mức 1,86% đầu năm. Xét theo số tuyệt đối, nợ nhóm 5, nhóm có khả năng mất vốn, tăng 24,8%, lên 780.504 triệu đồng. Nợ nhóm 2, nhóm cần chú ý, tăng 30,76%, lên 1.090.648 triệu đồng. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu bằng dự phòng của KienlongBank ở mức 91,28%, cao hơn mức 87,97% đầu năm.
Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế phản ánh mức độ hiện diện của KienlongBank ở lĩnh vực công nghệ. Dư nợ ngành thông tin và truyền thông 2.858 triệu đồng, thấp hơn số đầu năm và chiếm chưa tới 0,01% tổng dư nợ. Nhóm hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ tăng từ 10.440 triệu đồng lên 532.832 triệu đồng, gấp 51 lần. Ngành xây dựng chiếm 42.169.174 triệu đồng, tương đương 54,33% tổng dư nợ của KienlongBank, còn lĩnh vực bất động sản giảm 46,26%, còn 4.171.270 triệu đồng.
Trong sáu tháng đầu năm 2026, KienlongBank ghi nhận lợi nhuận sau thuế hợp nhất 939.466 triệu đồng và một khoản phải thu giao dịch lỗi chờ xử lý 343.386 triệu đồng chưa hoàn tất đối soát. Con số thứ hai xuất hiện lần đầu trên báo cáo KienlongBank, đúng giai đoạn ngành ngân hàng Việt Nam mở rộng thanh toán số, kết nối dữ liệu liên ngân hàng và tăng khối lượng giao dịch điện tử qua các hệ thống chuyển mạch.
Có thể bạn quan tâm
Quy mô tài sản 91.756 tỷ đồng, 'hạ tầng số' của Tài chính Điện lực đang ở đâu?
Kết nối sáng tạo
12 ngân hàng dành 408.000 tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế
Kết nối sáng tạo
Thanh tra phát hiện loạt vi phạm tại VATM
Kết nối sáng tạo


