Ngân hàng Sài Gòn Tài Lộc báo lãi quý 2 giảm 53%, nợ xấu vượt 47.900 tỷ đồng
Ngày 30/7/2026, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Tài Lộc (HoSE: STB) công bố báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo tài chính riêng quý 2/2026. Cùng ngày, nhà băng gửi hai văn bản giải trình số 4148/2026/CV-KT và số 4146/2026/CV-KT tới Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam và Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM.
Lý do phải giải trình nằm ở mức sụt giảm lợi nhuận. Lợi nhuận sau thuế hợp nhất quý 2/2026 chỉ còn 1.346,7 tỷ đồng, thấp hơn 1.546,9 tỷ đồng so với mức 2.893,6 tỷ đồng của quý 2/2025, tương ứng giảm 53,5%. Trên báo cáo riêng, lợi nhuận sau thuế còn 1.319,2 tỷ đồng, giảm 1.689,5 tỷ đồng.
Lũy kế sáu tháng đầu năm 2026, lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 2.931,1 tỷ đồng, bằng khoảng một nửa mức 5.790,3 tỷ đồng của cùng kỳ năm 2025. Lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu tính theo bốn quý gần nhất rơi từ 6.148 đồng xuống 1.634 đồng.
Chi phí dự phòng gấp 5,6 lần cuốn đi phần lớn lợi nhuận
Điểm đáng chú ý là hoạt động kinh doanh cốt lõi trước dự phòng vẫn tăng. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng quý 2/2026 đạt 7.124,9 tỷ đồng, cao hơn 55,9% so với mức 4.569,6 tỷ đồng cùng kỳ.
![]() |
| Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng quý 2/2026 lên 5.095 tỷ đồng, gấp 5,6 lần cùng kỳ, kéo lợi nhuận sau thuế hợp nhất xuống 1.346,7 tỷ đồng. Ảnh chụp báo cáo kết quả hoạt động hợp nhất quý 2/2026 của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc. |
Toàn bộ phần tăng thêm rồi biến mất ở dòng dự phòng. Ngân hàng trích 5.095 tỷ đồng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong quý 2/2026, gấp 5,6 lần mức 912,3 tỷ đồng của quý 2/2025. Khoản trích lập chiếm 71,5% lợi nhuận thuần trước dự phòng.
Tính chung sáu tháng, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng hợp nhất lên 7.118,9 tỷ đồng, gấp 6,4 lần mức 1.107,6 tỷ đồng của sáu tháng đầu năm 2025. Trên báo cáo riêng, con số tương ứng là 7.063,8 tỷ đồng so với 950,1 tỷ đồng.
Mảng cho vay cũng mỏng đi. Thu nhập thuần từ lãi quý 2/2026 còn 6.247,2 tỷ đồng, giảm 337,8 tỷ đồng, tức 5,1% so với cùng kỳ. Thu nhập lãi tăng 2.621,9 tỷ đồng nhưng chi phí trả lãi tăng tới 2.959,8 tỷ đồng, khiến phần chênh lệch thu hẹp lại.
Bù lại, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ quý 2/2026 đạt 3.202 tỷ đồng, gấp 3,5 lần mức 919,1 tỷ đồng cùng kỳ. Ở chiều ngược lại, lãi thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư chuyển sang âm 73,1 tỷ đồng, còn thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần không phát sinh trong quý.
Nợ xấu chiếm 7,54% tổng dư nợ cho vay khách hàng
Thuyết minh về chất lượng nợ cho vay trên báo cáo hợp nhất cho thấy phần gốc rễ của khoản trích lập. Tại ngày 30/6/2026, tổng dư nợ cho vay khách hàng đạt 636.028,9 tỷ đồng, tăng 1,5% so với đầu năm.
Trong số đó, nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) là 7.200,2 tỷ đồng, nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) là 8.483 tỷ đồng và nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) là 32.273,9 tỷ đồng. Cộng ba nhóm, nợ xấu đạt 47.957,1 tỷ đồng, tương đương 7,54% tổng dư nợ.
Đầu năm 2026, ba nhóm nợ trên mới ở mức 40.136,8 tỷ đồng, chiếm 6,41% dư nợ. Như vậy chỉ sau sáu tháng, quy mô nợ xấu tăng thêm 7.820,3 tỷ đồng. Riêng nợ nhóm 4 tăng từ 3.310,3 tỷ đồng lên 8.483 tỷ đồng, gấp 2,6 lần.
![]() |
| Nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 tại ngày 30/6/2026 cộng lại 47.957 tỷ đồng, chiếm 7,54% tổng dư nợ cho vay khách hàng, tăng từ mức 6,41% hồi đầu năm. Ảnh chụp thuyết minh báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2026. |
Nhóm nợ cần chú ý, tức nhóm 2, chưa tính vào nợ xấu nhưng thường báo hiệu rủi ro sắp tới, tăng từ 4.658 tỷ đồng lên 16.826,7 tỷ đồng, gấp 3,6 lần. Cùng lúc, nợ đủ tiêu chuẩn giảm từ 581.597,6 tỷ đồng xuống 571.245,1 tỷ đồng.
Số dư dự phòng rủi ro cho vay khách hàng tại ngày 30/6/2026 là 27.176,9 tỷ đồng, tăng từ 20.055,9 tỷ đồng đầu năm. So sánh hai con số dự phòng và nợ xấu trên cùng báo cáo, mức bao phủ đạt khoảng 56,7%, tức mỗi 100 đồng nợ xấu mới có gần 57 đồng dự phòng đứng sau.
Phần ngoài bảng cân đối kế toán cũng nặng thêm. Lãi cho vay và phí phải thu chưa thu được lên 33.116,8 tỷ đồng, so với 29.940,6 tỷ đồng đầu năm. Nợ khó đòi đã xử lý vẫn còn 15.818,7 tỷ đồng.
Báo cáo riêng cho kết quả tương tự. Nợ nhóm 3 đến nhóm 5 của riêng ngân hàng mẹ là 46.695,8 tỷ đồng trên tổng dư nợ 621.205,7 tỷ đồng, tương đương 7,52%.
Hơn 3.700 nhân sự rời đi trong sáu tháng chuyển đổi số
Một con số khác trong thuyết minh phản ánh sức ép nội bộ. Tại ngày 30/6/2026, ngân hàng và các công ty con có 13.078 nhân viên, so với 16.816 người vào ngày 31/12/2025. Chỉ sau sáu tháng, 3.738 người rời khỏi hệ thống, tương đương 22,2%. Trên báo cáo riêng, số nhân viên giảm từ 15.851 xuống 12.112 người.
Mạng lưới lại giữ nguyên. Báo cáo ghi nhận một hội sở chính, 109 chi nhánh và 426 phòng giao dịch tại cả hai thời điểm, cho thấy phần nhân sự giảm đi không đến từ việc thu hẹp điểm giao dịch.
Chi phí cho nhân viên sáu tháng đầu năm 2026 là 3.863,8 tỷ đồng, giảm 6,1% so với mức 4.114,6 tỷ đồng cùng kỳ. Mức giảm chi phí thấp hơn nhiều so với mức giảm quân số, đồng nghĩa chi phí bình quân trên mỗi nhân viên tăng lên.
![]() |
| Biểu đồ chứng khoán STB phiên ngày 10/8 |
Song song, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ sáu tháng đạt 3.951,6 tỷ đồng, gấp 2,4 lần mức 1.647 tỷ đồng cùng kỳ. Cơ cấu thu nhập dịch chuyển mạnh sang phí và dịch vụ, phù hợp với hướng đi ngân hàng số, song phần tăng thêm vẫn chưa đủ bù cho thiệt hại từ chất lượng tài sản.
Dòng tiền cũng đảo chiều. Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh sáu tháng âm 41.480,6 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm 2025 dương 22.993,3 tỷ đồng. Tiền và các khoản tương đương tiền cuối kỳ còn 151.369,9 tỷ đồng, giảm từ 194.472,6 tỷ đồng đầu kỳ.
Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 30/6/2026 là 892.048,6 tỷ đồng, giảm 2,7% so với mức 917.119,8 tỷ đồng đầu năm. Tiền gửi khách hàng tăng 4,8% lên 647.939,2 tỷ đồng, còn tiền gửi và tiền vay các tổ chức tín dụng khác giảm 42,3% xuống 90.061,3 tỷ đồng.
Quý 2/2026 cũng là giai đoạn nhà băng thay đổi nhận diện và bộ máy. Ngày 1/6/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 36/QĐ-QLGS4 cho phép Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đổi tên thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc. Ngày 10/7/2026, Quyết định số 96/QĐ-QLGS4 chấp thuận chuyển trụ sở chính từ 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa sang 43-45-47 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn, TP.HCM.
Ghế Tổng Giám đốc đổi chủ nhiều lần trong bảy tháng. Ông Nguyễn Đức Thụy giữ quyền Tổng Giám đốc từ ngày 23/12/2025, lên Tổng Giám đốc ngày 3/3/2026 rồi rời vị trí ngày 21/4/2026. Ông Faussier Loic Michel Marc tiếp quản ghế quyền Tổng Giám đốc từ ngày 22/4/2026 và chính thức nhận chức Tổng Giám đốc ngày 10/7/2026. Nhiều Phó Tổng Giám đốc cũng từ nhiệm trong tháng 5/2026.
Vốn chủ sở hữu hợp nhất cuối kỳ đạt 62.807,2 tỷ đồng, tăng từ 59.866,7 tỷ đồng đầu năm nhờ phần lợi nhuận giữ lại. Vốn điều lệ giữ nguyên 18.852,2 tỷ đồng với 1.885.215.716 cổ phiếu đang lưu hành. Đơn vị kiểm toán của ngân hàng và các công ty con là Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam.
Có thể bạn quan tâm
PVcomBank và các giao dịch bảo đảm 2.400 tỷ đồng với nhóm doanh nghiệp
Fintech
Nghị định 314/2026 quy định điều kiện giao dịch trên sàn dữ liệu từ 25/9
Fintech
220.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi chảy vào kinh tế số, bán dẫn và xuất khẩu
Kết nối sáng tạo


