Giá vàng hôm nay 2/7: Vàng miếng và nhẫn trơn bật tăng, thế giới rời đáy 8 tháng
Giá vàng hôm nay 2/7 đồng loạt đi lên, vàng miếng SJC bán ra 148,4 triệu đồng/lượng, nhẫn trơn tăng tới 2 triệu đồng/lượng, vàng thế giới lên 4.071 USD/ounce.
Giá vàng trong nước đồng loạt đi lên, nhẫn trơn tăng tới 2 triệu đồng mỗi lượng
Ghi nhận lúc 11 giờ sáng 2/7, thị trường vàng trong nước chứng kiến nhịp tăng mạnh ở cả vàng miếng và vàng nhẫn. Các doanh nghiệp lớn đồng loạt điều chỉnh bảng giá đi lên, đưa giá bán vàng miếng SJC trở lại vùng 148,4 triệu đồng/lượng sau chuỗi phiên chịu áp lực giảm trước đó.
Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết vàng miếng SJC loại 1 lượng, 10 lượng và 1kg ở mức 145,4 triệu đồng/lượng mua vào và 148,4 triệu đồng/lượng bán ra. Loại 5 chỉ có giá bán nhỉnh hơn, ở mức 148,42 triệu đồng/lượng, trong khi loại 0,5 chỉ đến 2 chỉ bán ra 148,43 triệu đồng/lượng.
Với vàng nhẫn SJC 99,99% loại 1 chỉ đến 5 chỉ, doanh nghiệp mua vào 145,3 triệu đồng/lượng và bán ra 148,3 triệu đồng/lượng. Loại 0,5 chỉ và 0,3 chỉ có giá bán cao hơn, đạt 148,4 triệu đồng/lượng. Nữ trang 99,99% giao dịch ở mức 143,3 – 146,8 triệu đồng/lượng.
Tại Bảo Tín Mạnh Hải, vàng miếng SJC được mua vào 145,4 triệu đồng/lượng và bán ra 148,4 triệu đồng/lượng, tăng 2 triệu đồng mỗi lượng so với chốt phiên liền trước. Nhẫn tròn ép vỉ Kim Gia Bảo 24K (999.9) cũng tăng 2 triệu đồng mỗi lượng, lên vùng 144,2 – 148,2 triệu đồng/lượng, còn vàng nguyên liệu 999.9 được thu mua ở mức 132,5 triệu đồng/lượng.
![]() |
| Bảng giá vàng hôm nay 2/7 tại Bảo Tín Minh Châu |
Bảo Tín Minh Châu công bố giá vàng miếng SJC ở mức 145 triệu đồng/lượng mua vào và 148,4 triệu đồng/lượng bán ra. Vàng miếng Vàng Rồng Thăng Long và nhẫn tròn trơn cùng thương hiệu giao dịch quanh 145 – 148 triệu đồng/lượng, trong khi trang sức Vàng Rồng Thăng Long 999.9 đứng ở mức 143 – 147 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Phú Quý niêm yết vàng miếng SJC ở vùng 145 – 148,4 triệu đồng/lượng. Nhẫn tròn Phú Quý 999.9 và vàng miếng Phú Quý 1 lượng 999.9 cùng được yết 145 – 148 triệu đồng/lượng, còn vàng trang sức 999.9 giao dịch quanh 141,7 – 146,7 triệu đồng/lượng.
Ở nhóm vàng không thuộc thương hiệu SJC, Phú Quý thu mua vàng 999.9 phi SJC ở mức 131,5 triệu đồng/lượng và bán ra 146 triệu đồng/lượng, cho thấy khoảng cách rõ rệt giữa vàng có thương hiệu và vàng nguyên liệu trên thị trường.
Tại PNJ khu vực TP.HCM, vàng miếng SJC 999.9 và nhẫn trơn PNJ 999.9 cùng được mua vào 145,4 triệu đồng/lượng và bán ra 148,4 triệu đồng/lượng, thuộc nhóm cao nhất thị trường ở chiều mua. Vàng nữ trang 999.9 của doanh nghiệp đứng ở mức 142,8 – 146,8 triệu đồng/lượng.
Với biểu giá hiện tại, chênh lệch giữa hai chiều mua và bán tại các doanh nghiệp phổ biến từ 3 đến 3,4 triệu đồng mỗi lượng. Khoảng cách trên đồng nghĩa người mua vàng đối mặt rủi ro lớn nếu giá đảo chiều trong ngắn hạn, đặc biệt khi thị trường thế giới đang biến động mạnh quanh vùng 4.000 USD/ounce.
Vàng thế giới hồi phục lên vùng 4.070 USD/ounce trước thềm dữ liệu việc làm Mỹ
Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay trong phiên sáng 2/7 (giờ Việt Nam) giao dịch quanh 4.071 USD/ounce, tăng hơn 40 USD, tương đương gần 1% so với phiên liền trước. Quy đổi theo tỷ giá USD niêm yết tại SJC, mức giá trên tương đương khoảng 129,9 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng miếng trong nước xấp xỉ 18,5 triệu đồng/lượng.
Đà hồi phục xuất hiện sau khi kim loại quý có thời điểm rơi xuống 3.942,99 USD/ounce trong phiên 30/6, mức thấp nhất kể từ tháng 11/2025. Vàng cũng vừa khép lại quý giảm giá đầu tiên kể từ năm 2024 dưới áp lực từ lợi suất trái phiếu Mỹ và đồng USD cùng đi lên.
Theo Kitco News, sức ép lớn nhất với vàng thời gian qua đến từ sự chuyển hướng cứng rắn của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Trong cuộc họp tháng 6, Fed giữ nguyên lãi suất ở vùng 3,5 – 3,75% nhưng có tới 9 trên 18 quan chức dự kiến ít nhất một lần nâng lãi suất trước cuối năm, còn thị trường đang định giá hơn 60% khả năng Fed hành động ngay trong tháng 9.
![]() |
| Biểu đồ giá vàng thế giới |
Tân Chủ tịch Fed Kevin Warsh nhiều lần khẳng định ổn định giá cả là ưu tiên hàng đầu của cơ quan điều hành tiền tệ Mỹ. Quan điểm cứng rắn đó khiến giới đầu tư giảm nắm giữ tài sản không sinh lãi như vàng, trong khi các quỹ ETF vàng ghi nhận dòng vốn rút ròng trong những phiên gần đây.
Bên cạnh yếu tố lãi suất, tiến triển trong đàm phán gián tiếp giữa Mỹ và Iran cùng lượng dầu vận chuyển qua eo biển Hormuz tăng trở lại đã kéo giá dầu đi xuống, làm dịu lo ngại lạm phát. Dù giảm gần 8,6% trong một tháng qua, giá vàng thế giới vẫn cao hơn khoảng 21,8% so với cùng kỳ năm trước.
Ông Giovanni Staunovo, chuyên gia phân tích tại UBS, cho biết: "Đà suy yếu một phần đến từ việc thị trường định giá thêm các đợt nâng lãi suất trong năm nay". Vị chuyên gia đánh giá giá vàng sẽ còn biến động mạnh quanh thời điểm Mỹ công bố các dữ liệu kinh tế quan trọng trong tuần.
Ông Lukman Otunuga, chuyên gia phân tích thị trường cấp cao tại FXTM, nhận định báo cáo việc làm khả quan có thể củng cố kịch bản Fed nâng lãi suất ngay trong tháng 7 và đẩy vàng xuống dưới 4.000 USD/ounce.
Ở chiều ngược lại, ông cho rằng việc trụ vững trên ngưỡng hỗ trợ sẽ mở đường cho giá quay lại vùng 4.100 USD rồi 4.250 USD/ounce. Nếu để mất mốc 4.000 USD, phe bán có thể kéo giá về 3.900 USD và xa hơn là đường trung bình động 100 tuần quanh 3.740 USD/ounce.
Ông Fawad Razaqzada, chuyên gia phân tích tại FOREX.com, đánh giá diễn biến những phiên đầu tháng 7 sẽ quyết định việc vàng đã tạo đáy hay chưa. Theo ông, kháng cự gần nhất nằm tại 4.098 USD/ounce, sau đó là vùng 4.200 USD, trong khi kịch bản xấu có thể đưa giá lùi về 3.500 USD trong những tuần tới.
Ở góc nhìn trung hạn, BMO Capital Markets hạ dự báo giá vàng bình quân nửa cuối năm 2026 về quanh 4.625 USD/ounce, giảm 5% so với ước tính trước. Dù vậy, ngân hàng vẫn kỳ vọng kim loại quý vượt mốc 5.000 USD/ounce trong quý I/2027 khi các điều kiện vĩ mô ổn định trở lại.
Tâm điểm của thị trường hiện tại là báo cáo việc làm phi nông nghiệp của Mỹ công bố tối 2/7 (giờ Việt Nam), sớm hơn thường lệ do thị trường Mỹ nghỉ giao dịch ngày 3/7 nhân dịp Quốc khánh. Số liệu tuyển dụng mạnh hơn dự báo sẽ tiếp thêm lý do để Fed thắt chặt tiền tệ, trong khi dữ liệu yếu có thể giúp vàng nối dài nhịp hồi phục.
| 1. DOJI - Cập nhật: 02/07/2026 09:15 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| SJC -Bán Lẻ | 14,540 ▲200K | 14,840 ▲200K |
| Kim TT/AVPL | 14,540 ▲200K | 14,840 ▲200K |
| NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG | 14,540 ▲200K | 14,840 ▲200K |
| Nguyên Liệu 99.99 | 13,300 ▲210K | 13,500 ▲210K |
| Nguyên Liệu 99.9 | 13,250 ▲210K | 13,450 ▲210K |
| NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ | 13,800 ▲210K | 14,300 ▲210K |
| NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ | 13,750 ▲210K | 14,250 ▲210K |
| Nữ trang 99 - Bán Lẻ | 13,680 ▲210K | 14,230 ▲210K |
| 2. PNJ - Cập nhật: 02/07/2026 09:12 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| TPHCM - PNJ | 145,400 ▲2400K | 148,400 ▲2400K |
| Hà Nội - PNJ | 145,400 ▲2400K | 148,400 ▲2400K |
| Đà Nẵng - PNJ | 145,400 ▲2400K | 148,400 ▲2400K |
| Miền Tây - PNJ | 145,400 ▲2400K | 148,400 ▲2400K |
| Tây Nguyên - PNJ | 145,400 ▲2400K | 148,400 ▲2400K |
| Đông Nam Bộ - PNJ | 145,400 ▲2400K | 148,400 ▲2400K |
| 3. SJC - Cập nhật: 22/07/2025 08:32 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,454 ▲20K | 1,484 ▲20K |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ | 1,454 ▲20K | 14,842 ▲200K |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 1,454 ▲20K | 14,843 ▲200K |
| Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ | 1,453 ▲20K | 1,483 ▲20K |
| Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ | 1,453 ▲20K | 1,484 ▲20K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% | 1,433 ▲20K | 1,468 ▲20K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% | 138,347 ▲1981K | 145,347 ▲1981K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% | 100,761 ▲1500K | 110,261 ▲1500K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% | 90,484 ▲1360K | 99,984 ▲1360K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% | 80,207 ▲1220K | 89,707 ▲1220K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% | 76,243 ▲1166K | 85,743 ▲1166K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% | 51,872 ▲834K | 61,372 ▲834K |
| Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,454 ▲20K | 1,484 ▲20K |
| Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,454 ▲20K | 1,484 ▲20K |
| Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,454 ▲20K | 1,484 ▲20K |
| Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,454 ▲20K | 1,484 ▲20K |
| Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,454 ▲20K | 1,484 ▲20K |
| Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,454 ▲20K | 1,484 ▲20K |
| Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,454 ▲20K | 1,484 ▲20K |
| Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,454 ▲20K | 1,484 ▲20K |
| Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,454 ▲20K | 1,484 ▲20K |
| Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,454 ▲20K | 1,484 ▲20K |
| Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,454 ▲20K | 1,484 ▲20K |
Sơn Tinh

