Nợ vay POW vượt 38.000 tỷ đồng, chi phí lãi vay gấp 3,6 lần cùng kỳ
Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam khép lại nửa đầu năm 2026 với lợi nhuận sau thuế hợp nhất 5.007,7 tỷ đồng, gấp hơn bốn lần cùng kỳ. Phía sau con số, khoản phải thu khách hàng phình lên 25.210 tỷ đồng, dư nợ vay tăng gần 32% và toàn bộ tài sản vô hình gồm phần mềm, bản quyền chiếm chưa tới 0,05% tổng tài sản.
Báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2026 của Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (HoSE: POW), do Tổng Giám đốc Lê Như Linh ký ngày 27/7/2026, ghi nhận doanh thu thuần quý II đạt 20.308 tỷ đồng, gấp 2,16 lần cùng kỳ năm 2025. Lũy kế sáu tháng, doanh thu 32.635 tỷ đồng, tăng 86%. Lợi nhuận gộp sáu tháng 6.524,9 tỷ đồng, biên lãi gộp nhích từ 11,3% lên 20%. Lợi nhuận sau thuế 5.007,7 tỷ đồng, phần thuộc cổ đông công ty mẹ 4.718,2 tỷ đồng, lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu 1.538 đồng, so với 447 đồng cùng kỳ.
Lợi nhuận tăng hơn bốn lần, dòng tiền chỉ theo được một nửa
Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh sáu tháng đạt 2.874,1 tỷ đồng, bằng 51,7% lợi nhuận trước thuế 5.559,4 tỷ đồng. Chênh lệch tập trung ở chỉ tiêu tăng giảm các khoản phải thu với giá trị âm 11.259,3 tỷ đồng, tức phần lớn lợi nhuận trong kỳ vẫn nằm trên sổ sách chứ chưa chuyển thành tiền mặt.
Trên bảng cân đối, phải thu ngắn hạn của khách hàng tăng từ 14.196,9 tỷ đồng đầu năm lên 25.210 tỷ đồng, tương đương thêm 11.013 tỷ đồng chỉ trong sáu tháng, chiếm 23,7% tổng tài sản hợp nhất. Riêng Công ty Mua bán điện thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam chiếm 24.803,1 tỷ đồng, tương đương 98,4% tổng phải thu khách hàng. Gần như toàn bộ doanh thu bán điện dồn vào một đầu mối thanh toán duy nhất, nên nhịp trả tiền của một khách hàng sẽ chi phối trực tiếp thanh khoản của cả tổng công ty.
![]() |
| Doanh thu hợp nhất quý II/2026 đạt 20.308 tỷ đồng, gấp 2,16 lần cùng kỳ; lãi cơ bản trên cổ phiếu lũy kế 1.538 đồng so với 447 đồng. Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2026 của POW. |
Thuyết minh nợ xấu cho thấy giá trị gốc các khoản nợ khó đòi lên 991,8 tỷ đồng, tăng 32,7% so với đầu năm. Dự phòng trích lập 681,9 tỷ đồng, tương đương 68,8% giá trị gốc, phần còn khả năng thu hồi chỉ 309,9 tỷ đồng. Khoản nợ xấu phát sinh từ Công ty Mua bán điện có giá trị gốc 968,8 tỷ đồng với dự phòng 659,3 tỷ đồng, cao hơn mức 719,9 tỷ đồng và 516,8 tỷ đồng hồi đầu năm. Tương ứng, chi phí dự phòng ghi vào chi phí quản lý doanh nghiệp sáu tháng lên 139,2 tỷ đồng, so với 67,7 tỷ đồng cùng kỳ.
Bốn lát cắt kinh tế số phía sau tổ máy phát điện
Nguyên giá tài sản cố định vô hình hợp nhất tại ngày 30/6/2026 là 131,5 tỷ đồng, giá trị còn lại 52,6 tỷ đồng, tương đương 0,049% tổng tài sản 106.355 tỷ đồng. Riêng phần mềm máy tính có nguyên giá 100 tỷ đồng và giá trị còn lại 24,1 tỷ đồng. Trong sáu tháng, tổng chi mua sắm cùng xây dựng tài sản cố định 1.878,8 tỷ đồng, phần chi mua phần mềm 5,24 tỷ đồng, chiếm 0,279%. Chính sách kế toán ấn định phần mềm khấu hao đường thẳng trong ba năm, ngắn hơn nhiều so với khung 5 đến 25 năm của nhà cửa và máy móc, nghĩa là mỗi đồng bỏ ra cho hạ tầng số phải sinh lợi trong thời gian rất ngắn.
![]() |
| Phải thu khách hàng ngắn hạn tăng từ 14.196,9 tỷ đồng lên 25.210 tỷ đồng, trong đó Công ty Mua bán điện chiếm 24.803,1 tỷ đồng, tương đương 98,4%. Nguồn: Thuyết minh số 6, Báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2026 của POW. |
Chính sách ghi nhận doanh thu nêu rõ doanh thu bán điện chỉ ghi nhận khi có biên bản xác nhận lượng điện phát lên lưới điện quốc gia. Toàn bộ 32.412 tỷ đồng doanh thu bán điện sáu tháng vì thế bám vào hệ thống đo đếm điện năng và quá trình đối soát số liệu giữa nhà máy với đơn vị mua điện. Mọi sai lệch hoặc chậm trễ trong khâu đối soát dữ liệu sẽ dịch chuyển trực tiếp thời điểm ghi doanh thu, kéo theo thời điểm xuất hóa đơn và thu tiền. Đây cũng là lý do chất lượng hạ tầng đo đếm, truyền dữ liệu và phần mềm đối soát tác động thẳng tới khoản phải thu 25.210 tỷ đồng nêu trên.
Chi phí chờ phân bổ dài hạn 3.354,7 tỷ đồng chứa hai khoản gắn chặt với chỉ số kỹ thuật do hệ thống điều khiển ghi nhận. Chi phí đại tu Nhà máy điện Nhơn Trạch 2 tại mốc 100.000 giờ vận hành tương đương còn 165,4 tỷ đồng chờ phân bổ. Phí thanh toán lần đầu hợp đồng bảo trì dài hạn cho giai đoạn 100.000 giờ tiếp theo còn 119,6 tỷ đồng. Thuyết minh nêu hợp đồng bảo trì thiết bị chính với liên danh Siemens AG và Siemens Energy kéo dài 11,7 năm hoặc 200.000 giờ vận hành tương đương cho mỗi tổ máy, phân bổ vào kết quả kinh doanh theo số giờ thực tế phát sinh. Nói cách khác, đồng hồ đếm giờ vận hành, chứ không phải lịch dương, quyết định nhịp chi tiền bảo dưỡng của doanh nghiệp.
Danh mục đầu tư góp vốn vào đơn vị khác có giá gốc 870,6 tỷ đồng. Khoản góp vào Công ty cổ phần Công nghệ Thông tin, Viễn thông và Tự động hóa Dầu khí giữ nguyên 5,04 tỷ đồng suốt sáu tháng, chiếm 0,58% danh mục và không phát sinh thêm đồng nào. Cùng danh mục, khoản góp 1 tỷ đồng vào Công ty cổ phần Cơ điện Dầu khí có giá trị thu hồi 725,9 triệu đồng, tương ứng dự phòng 274 triệu đồng. Khoản góp 18,2 tỷ đồng vào Công ty cổ phần Phát triển Đô thị Dầu khí trích lập dự phòng toàn bộ. Giấy phép kinh doanh của tổng công ty có đăng ký dịch vụ công nghệ thông tin và nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới, song tỷ trọng vốn thực rót cho nhóm ngành công nghệ vẫn ở mức rất mỏng so với quy mô tài sản.
Doanh thu nửa đầu năm 2026 của Petrolimex tăng hơn 62%, song dự phòng giảm giá hàng tồn kho vọt lên 438,6 tỷ đồng trong ... |
Vay tăng gần 32% trong sáu tháng, lãi vay gấp 3,6 lần
Tổng dư nợ vay và thuê tài chính đến 30/6/2026 đạt 38.088,9 tỷ đồng, gồm 18.962,4 tỷ đồng ngắn hạn và 19.126,5 tỷ đồng dài hạn, tăng 9.201,9 tỷ đồng so với đầu năm, tương đương 31,9%. Riêng vay ngắn hạn tăng 68,6%. Trong kỳ, tổng công ty rút vốn vay 21.248,1 tỷ đồng và trả nợ gốc 12.039,4 tỷ đồng.
![]() |
| Toàn bộ tài sản cố định vô hình của POW còn lại 52,6 tỷ đồng, tương đương 0,049% tổng tài sản; chi mua phần mềm trong sáu tháng 5,24 tỷ đồng. Nguồn: Thuyết minh số 12, Báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2026 của POW. |
Chi phí lãi vay sáu tháng 931,9 tỷ đồng, gấp 3,62 lần cùng kỳ. Số lãi vay chi thực bằng tiền trong kỳ 390,9 tỷ đồng. Phần lãi vay còn treo trong chi phí phải trả ngắn hạn ở mức 312,7 tỷ đồng, so với 217,4 tỷ đồng đầu năm. Chi phí phải trả ngắn hạn nói chung tăng gấp 2,04 lần lên 4.401,5 tỷ đồng, chủ yếu do khoản trích trước tiền mua nguyên vật liệu 3.690,4 tỷ đồng. Thuyết minh nêu rõ đó là tiền khí trích trước theo hợp đồng mua khí cho các nhà máy Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2 và Nhơn Trạch 3&4 khi chưa nhận hóa đơn từ nhà cung cấp. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước cũng tăng từ 147,1 tỷ đồng lên 521,9 tỷ đồng.
Nguồn vốn cho cụm Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 gồm khoản tín dụng xuất khẩu trị giá 521,5 triệu USD do K-Sure và SERV bảo hiểm, Citibank cùng ING Bank thu xếp, ký ngày 31/7/2024, thời hạn trả nợ 12 năm tính từ 31/1/2026. Chu kỳ trả gốc như vậy bắt đầu ngay trong nửa đầu năm 2026, cùng lúc chi phí xây dựng cơ bản dở dang của dự án nhảy từ 41,3 tỷ đồng lên 721,6 tỷ đồng. Bên cạnh đó, tổng công ty còn vay Ngân hàng Sumitomo Mitsui chi nhánh Singapore 200 triệu USD và vay Vietcombank 4.000 tỷ đồng cho cùng cụm dự án, với tài sản bảo đảm gồm cổ phiếu Công ty cổ phần Điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2 và toàn bộ máy móc, thiết bị hai nhà máy điện Cà Mau 1 và Cà Mau 2.
Ở chiều ngược lại, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu giữ nguyên 1,38 lần. Tiền, tương đương tiền cùng tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng cộng lại 26.574 tỷ đồng, đủ dày để hấp thụ áp lực thanh toán ngắn hạn. Hệ số thanh toán hiện hành cải thiện từ 1,17 lần lên 1,37 lần.
Vốn điều lệ tăng từ 27.868,2 tỷ đồng lên 30.678,4 tỷ đồng nhờ phát hành cổ phiếu trả cổ tức trị giá 2.810,2 tỷ đồng, trong khi cổ tức chi bằng tiền mặt cả kỳ chỉ 52,1 tỷ đồng. Thặng dư vốn cổ phần vẫn ở trạng thái âm và nới rộng từ 274,8 triệu đồng lên 1,17 tỷ đồng, còn chênh lệch đánh giá lại tài sản treo âm 191,3 tỷ đồng.
Đình Tưởng


