Lợi nhuận quý III của Thủy điện Xuân Minh còn 468 triệu, lãi vay 3,93 tỷ đồng
Chín tháng lãi tăng gần 10%, nhưng riêng quý III Thủy điện Xuân Minh lãi sau thuế 468 triệu đồng, trong khi chi phí lãi vay lên 3,93 tỷ đồng.
Báo cáo tài chính quý III/2026 của Công ty cổ phần Thủy điện Xuân Minh (UPCoM: XMP), phê duyệt ngày 8/10/2026, ghi nhận doanh thu thuần 14,1 tỷ đồng, giảm 6% so với cùng kỳ năm 2025. Lợi nhuận sau thuế quý III đạt 467,8 triệu đồng, thấp hơn 83% so với mức 2,74 tỷ đồng của quý III/2025.
Cùng kỳ, chi phí lãi vay của Thủy điện Xuân Minh tăng 6,5%, lên 3,93 tỷ đồng. Số tiền trả lãi ngân hàng trong quý lớn gấp khoảng 8,4 lần phần lợi nhuận còn lại sau thuế và chiếm gần 28% doanh thu thuần, cao hơn tỷ lệ 24,6% của quý III năm trước.
Lũy kế 9 tháng, Thủy điện Xuân Minh đạt 60,77 tỷ đồng doanh thu, tăng 5,7%, lợi nhuận sau thuế 21,67 tỷ đồng, tăng 9,9%. Lợi nhuận quý III chỉ đóng góp khoảng 2,2% vào tổng lợi nhuận chín tháng, phần còn lại đến từ nửa đầu năm.
Thủy điện Xuân Minh đặt trụ sở tại xã Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, hoạt động trong lĩnh vực đầu tư xây dựng dự án thủy điện, sản xuất, truyền tải và phân phối điện. Công ty cổ phần Xây dựng và Năng lượng VCP nắm 51% vốn điều lệ 150 tỷ đồng, Công ty cổ phần Thép và Vật tư Công nghiệp nắm 17,27%, cổ đông cá nhân nắm 31,73%.
Sản lượng giảm 6%, giá vốn trên mỗi kWh điện tăng hơn 22%
![]() |
| Kết quả kinh doanh quý III/2026 của Thủy điện Xuân Minh, lợi nhuận sau thuế còn 467,8 triệu đồng trong khi chi phí lãi vay 3,93 tỷ đồng. Ảnh chụp báo cáo |
Văn bản số 71/XM-TCTC ngày 8/10/2026 gửi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội nêu: “Ngành sản xuất kinh doanh chính của Công ty là sản xuất điện năng, doanh thu phát điện chủ yếu dựa vào tình hình thuỷ văn trong kỳ”. Theo doanh nghiệp, thủy văn quý III kém thuận lợi hơn cùng kỳ, sản lượng phát điện đạt 20 triệu kWh, giảm 1,27 triệu kWh.
Đặt hai bảng số cạnh nhau, sản lượng và doanh thu cùng giảm 6%, nên doanh thu bình quân trên mỗi kWh gần như đứng yên quanh 705 đồng ở cả hai kỳ. Điểm lệch nằm ở phía chi phí, khi giá vốn hàng bán quý III tăng 15,2%, từ 7,73 tỷ đồng lên 8,9 tỷ đồng.
Quy đổi theo sản lượng, chi phí trực tiếp để làm ra mỗi kWh tăng từ khoảng 363 đồng lên khoảng 445 đồng, tức tăng hơn 22%. Tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu vì thế thu hẹp từ 48,5% xuống 36,9%, lợi nhuận gộp giảm 28,5%, còn 5,2 tỷ đồng.
Văn bản giải trình gói nguyên nhân phía chi phí trong một câu chung, rằng chi phí sản xuất và chi phí lãi vay trong kỳ đều tăng so với cùng kỳ. Số liệu chín tháng cho thấy chi phí khấu hao, tức phần giá trị nhà máy và tổ máy phân bổ dần vào chi phí, gần như đi ngang ở mức 14,4 tỷ đồng, trong khi giá vốn lũy kế tăng 10,4%.
Một cách lý giải là phần chi phí tăng thêm có thể liên quan đến các khoản vận hành nằm ngoài khấu hao. Một số nghĩa vụ gắn trực tiếp với nguồn nước cũng nhích lên trên bảng cân đối, thuế tài nguyên nước phải nộp cuối tháng 9 ở mức 867,9 triệu đồng, cao hơn khoảng 40% so với 620 triệu đồng đầu năm, phí môi trường rừng phải nộp ở mức 720 triệu đồng.
Hạ tầng hơn 460 tỷ đồng của Thủy điện Xuân Minh và lớp thiết bị quản trị
Thủy điện Xuân Minh là doanh nghiệp hạ tầng năng lượng cần nhiều tài sản cố định. Giá trị mua ban đầu của tài sản cố định hữu hình cuối quý III ở mức 463,72 tỷ đồng, gồm 250,91 tỷ đồng nhà cửa, công trình và 212,77 tỷ đồng máy móc thiết bị, phần hao mòn cộng dồn đã lên 148,86 tỷ đồng.
![]() |
| Văn bản giải trình của Thủy điện Xuân Minh cho biết sản lượng điện quý III giảm 6%, lợi nhuận sau thuế giảm 83%. Ảnh chụp văn bản giải trình |
Trong 9 tháng, nhóm máy móc thiết bị trích khấu hao 8,28 tỷ đồng, giá trị còn lại giảm từ 132,24 tỷ đồng xuống 124,91 tỷ đồng. Khoản mua sắm mới máy móc thiết bị ở mức 945,78 triệu đồng, doanh nghiệp mua thêm 273,78 triệu đồng tài sản cố định vô hình, nâng tổng giá trị ban đầu nhóm vô hình lên 22,09 tỷ đồng.
Ở lớp thiết bị phục vụ điều hành, nhóm thiết bị, dụng cụ quản lý có giá trị ban đầu 39,84 triệu đồng, chưa tới 0,01% tổng giá trị tài sản cố định hữu hình. Sau 9,96 triệu đồng khấu hao trong chín tháng, giá trị còn lại của nhóm tài sản ở mức 2,21 triệu đồng. Theo thông lệ hạch toán, đây là nhóm thường gồm máy tính và thiết bị văn phòng.
Với một nhà máy có doanh thu phụ thuộc thủy văn, dữ liệu lượng mưa, dòng chảy về hồ và hệ thống tự động điều khiển tổ máy là lớp công nghệ quyết định mỗi mét khối nước chuyển thành bao nhiêu kWh. Một cách lý giải là khi lượng nước về giảm, chi phí cố định của hạ tầng phải chia cho sản lượng nhỏ hơn, cộng thêm phần chi phí vận hành tăng, khiến giá thành mỗi kWh đi lên.
Mảng điện mặt trời của Thủy điện Xuân Minh giữ quy mô nhỏ, doanh thu quý III đạt 33,8 triệu đồng, giảm từ 38,1 triệu đồng. Quý III/2025, giá vốn điện mặt trời ở mức 45,55 triệu đồng, cao hơn doanh thu cùng mảng. Sang quý III/2026, dòng giá vốn điện mặt trời trên thuyết minh ghi bằng 0, toàn bộ 8,9 tỷ đồng giá vốn nằm ở mảng thủy điện.
Phía đầu ra, điện năng của nhà máy gần như chỉ bán cho một khách hàng. Khoản phải thu Tổng công ty Điện lực miền Bắc cuối tháng 9 ở mức 7,13 tỷ đồng trên tổng 7,15 tỷ đồng phải thu khách hàng, chi phí thuê đường dây truyền tải còn phải trả ở mức 1,1 tỷ đồng.
Dữ liệu trên báo cáo quý III của Thủy điện Xuân Minh lệch dấu ở đâu?
Trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ của Thủy điện Xuân Minh, dòng tiền chi mua sắm, xây dựng tài sản cố định ghi 19,74 triệu đồng ở dạng số dương, không đặt trong ngoặc như các khoản chi khác, và cộng vào dòng tiền thuần từ hoạt động đầu tư 400,61 triệu đồng. Cùng kỳ, thuyết minh ghi nhận 945,78 triệu đồng mua máy móc và 273,78 triệu đồng tài sản vô hình.
Khoản phải trả người bán ngắn hạn tăng từ 0 lên 1,15 tỷ đồng, toàn bộ là bên liên quan, gồm 486 triệu đồng phải trả Công ty cổ phần Xây dựng và Năng lượng VCP và 659,9 triệu đồng phải trả Công ty cổ phần Cơ điện VCP. Một cách lý giải là chênh lệch giữa số mua sắm và số tiền chi có thể liên quan đến các khoản mua chưa thanh toán với đơn vị cùng hệ thống.
Ở phần phải thu, doanh nghiệp ghi nhận khoản phải thu ngắn hạn khác mang tên thù lao Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát 252 triệu đồng, đầu năm 336 triệu đồng. Theo nghị quyết đại hội cổ đông ngày 20/4/2026, từ lợi nhuận năm 2025, công ty chi 336 triệu đồng thù lao Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và 981,26 triệu đồng thưởng Hội đồng quản trị, Ban điều hành.
![]() |
| Thuyết minh tài sản cố định của Thủy điện Xuân Minh, máy móc thiết bị trị giá ban đầu 212,77 tỷ đồng, nhóm thiết bị quản lý còn lại 2,21 triệu đồng. Ảnh chụp báo cáo |
Cùng nghị quyết, doanh nghiệp trích 1,5 tỷ đồng quỹ phúc lợi và trả cổ tức tiền mặt 10%, tương đương 15 tỷ đồng, từ ngày 20/10/2026. Khoản cổ tức phải trả từ đầu năm ở mức 1,41 tỷ đồng, chín tháng công ty đã chi trả 916,5 triệu đồng.
Phần thuyết minh của Thủy điện Xuân Minh có nhiều mục chỉ ghi tiêu đề, phần nội dung để trống, trong đó có ngành nghề kinh doanh, chu kỳ sản xuất kinh doanh, cấu trúc doanh nghiệp và tuyên bố tuân thủ chuẩn mực kế toán. Mục khấu hao viện dẫn Thông tư 203/2009/TT-BTC, văn bản đã nhường chỗ cho Thông tư 45/2013/TT-BTC từ năm 2013.
Mục đơn vị tiền tệ viện dẫn Luật Kế toán 03/2003/QH11, đạo luật đã hết hiệu lực từ ngày 1/1/2017. Báo cáo quý III áp dụng chế độ kế toán mới theo Thông tư 99/2025/TT-BTC, trong khi phần chính sách khấu hao vẫn dẫn văn bản từ năm 2009.
Khi báo cáo tài chính trở thành nguồn dữ liệu số đầu vào cho hệ thống công bố thông tin điện tử và các nền tảng phân tích thị trường, những dòng trống hoặc lệch dấu có thể khiến việc đối chiếu tự động giữa các bảng gặp trở ngại. Độ khớp giữa bảng lưu chuyển tiền và thuyết minh tài sản là điểm dữ liệu dễ nhận thấy nhất trong kỳ.
Về dòng tiền, chín tháng hoạt động kinh doanh của Thủy điện Xuân Minh mang về 36,96 tỷ đồng, doanh nghiệp trả 32,18 tỷ đồng nợ gốc và vay mới 1,3 tỷ đồng. Tổng dư nợ vay giảm từ 173,16 tỷ đồng đầu năm xuống 142,76 tỷ đồng, trong đó khoản vay dài hạn tại Ngân hàng SHB chi nhánh Thăng Long còn 97,87 tỷ đồng.
Cuối tháng 9, Thủy điện Xuân Minh nắm 5,93 tỷ đồng tiền mặt và tiền gửi, trong khi khoản cổ tức phải trả trên sổ sách ở mức 15,49 tỷ đồng. Với một nhà máy phát 20 triệu kWh trong quý III, giá thành mỗi kWh lúc này chịu cùng lúc sức ép từ thủy văn, khấu hao hạ tầng và tiền lãi ngân hàng.
Đình Tưởng


