Hải Phòng đặt mục tiêu bứt phá khoa học, công nghệ đến năm 2030
Ngày 30/9/2026, UBND thành phố Hải Phòng ban hành Kế hoạch số 385/KH-UBND về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026 đến 2030. Thành phố đặt mục tiêu đưa khoa học, công nghệ trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh, đồng thời xây dựng trung tâm nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng công nghệ biển có tầm vóc quốc tế.
Theo kế hoạch, đến năm 2030, Hải Phòng phấn đấu nâng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GRDP lên 57%, dành kinh phí nghiên cứu và phát triển (R&D) tương đương 2% GRDP, trong đó nguồn lực xã hội chiếm trên 60%. Thành phố cũng đặt mục tiêu đưa tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao lên 50% đến 52%, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vượt 60%.
Các chỉ tiêu cho thấy Hải Phòng đặt trọng tâm vào việc nâng cao năng lực công nghệ của nền kinh tế, thay vì chỉ mở rộng quy mô sản xuất. Để hiện thực hóa mục tiêu, thành phố xác định các nhiệm vụ từ đổi mới cơ chế tài chính, phát triển nhân lực nghiên cứu đến ứng dụng công nghệ trong công nghiệp, logistics và kinh tế biển.
Từ kết quả nghiên cứu đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Giai đoạn 2021 đến 2025, Hải Phòng triển khai 248 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp thành phố, phối hợp thực hiện 36 nhiệm vụ cấp quốc gia, cấp 52 giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ và hỗ trợ phát triển 76 doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) của thành phố giữ vị trí thứ ba toàn quốc trong hai năm 2023 và 2024. Tuy nhiên, thành phố cũng nhìn nhận tốc độ đổi mới công nghệ bình quân chưa đạt kỳ vọng, số doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo nhận hỗ trợ trực tiếp còn hạn chế, công tác quản lý chưa tập trung và hiệu quả thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn khiêm tốn.
![]() |
| Nghi thức nhấn nút phát động Cuộc thi “Tìm kiếm tài năng khởi nghiệp sáng tạo thành phố Hải Phòng năm 2026”. |
Đây là những vấn đề Kế hoạch số 385/KH-UBND cần giải quyết trong giai đoạn tới. Kết quả nghiên cứu chỉ tạo ra giá trị kinh tế khi được chuyển thành sản phẩm, quy trình sản xuất hoặc dịch vụ có khả năng ứng dụng thực tế. Với doanh nghiệp, khả năng tiếp nhận và làm chủ công nghệ còn liên quan trực tiếp đến chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường. Để tháo gỡ những điểm nghẽn, Hải Phòng dự kiến đổi mới cơ chế quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo hướng khoán chi gắn với sản phẩm, đánh giá dựa trên kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu theo quy định. Thành phố cũng sẽ tăng cường đặt hàng nhiệm vụ nghiên cứu từ các bài toán thực tế của doanh nghiệp, qua đó gắn hoạt động nghiên cứu với nhu cầu sản xuất và kinh doanh.
Một giải pháp khác là thành lập và vận hành Quỹ Đầu tư mạo hiểm thành phố, huy động vốn đối ứng từ doanh nghiệp và nhà đầu tư tư nhân để hỗ trợ dự án khởi nghiệp sáng tạo và công nghệ chiến lược. Cách làm này nhằm mở rộng nguồn lực cho những dự án có tiềm năng ứng dụng nhưng cần vốn để phát triển và hoàn thiện công nghệ. Kế hoạch cũng đề cập việc triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), cho phép thử nghiệm công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới trong phạm vi và điều kiện được xác định. Các lĩnh vực dự kiến áp dụng gồm trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, robot, logistics thông minh, công nghệ xanh và kinh tế tầm thấp.
Đầu tư công nghệ biển, sản xuất thông minh và logistics
Trong định hướng phát triển ngành, Hải Phòng ưu tiên các nhiệm vụ thuộc chương trình khoa học và công nghệ biển, chiếm khoảng 30% tổng số nhiệm vụ cấp thành phố. Các nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán quản trị biển, kinh tế hàng hải, du lịch biển và năng lượng tái tạo. Đây là hướng nghiên cứu gắn với lợi thế kinh tế biển của Hải Phòng. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế sẽ phụ thuộc vào khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào hoạt động của doanh nghiệp, cảng biển và các ngành dịch vụ liên quan.
Đối với công nghiệp chế biến, chế tạo, thành phố thúc đẩy chuyển đổi công nghệ theo hướng tự động hóa và sản xuất thông minh. Các giải pháp được xác định gồm ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong kiểm tra chất lượng bằng hình ảnh, tích hợp hệ thống quản trị dữ liệu lớn và chuyển đổi xanh trong sản xuất. Trí tuệ nhân tạo trong kiểm tra chất lượng có thể giúp phát hiện lỗi sản phẩm qua hình ảnh; hệ thống quản trị dữ liệu lớn hỗ trợ doanh nghiệp tổng hợp thông tin từ nhiều công đoạn để theo dõi hoạt động sản xuất. Tuy vậy, hiệu quả ứng dụng phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối thiết bị và nguồn nhân lực vận hành. Kế hoạch đặt ra định hướng triển khai nhưng chưa nêu mức đầu tư cụ thể cho từng nhóm công nghệ.
Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và vận tải, Hải Phòng xác định nhiệm vụ số hóa hạ tầng, phát triển hệ sinh thái cảng biển thông minh, kho bãi tự động và giao thông thông minh. Việc kết nối dữ liệu giữa các khâu có thể hỗ trợ doanh nghiệp quản lý hàng hóa, điều phối phương tiện và nâng cao hiệu quả vận hành. Để các giải pháp này phát huy hiệu quả, thành phố cần gắn đầu tư công nghệ với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, khả năng chia sẻ dữ liệu và yêu cầu kết nối giữa các hệ thống. Đây cũng là điều kiện quan trọng để công nghệ được ứng dụng rộng rãi thay vì dừng ở những dự án riêng lẻ.
Phát triển nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
Cùng với đầu tư công nghệ, Hải Phòng đặt mục tiêu đến năm 2030 có tối thiểu 12 nhân lực nghiên cứu trên một vạn dân, duy trì chỉ số PII trong nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước, phát triển 150 doanh nghiệp khoa học và công nghệ cùng 450 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Thành phố phấn đấu xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu R&D đạt ít nhất 600 người quy đổi toàn thời gian, đồng thời hình thành từ 2 đến 3 trung tâm đổi mới sáng tạo. Ít nhất 100 doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ áp dụng các tiêu chuẩn cải tiến năng suất, chất lượng và kết nối hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
![]() |
| Giai đoạn 2021 đến 2025, Hải Phòng triển khai 248 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp thành phố. |
Để bổ sung nguồn nhân lực, Hải Phòng thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp. Các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp được khuyến khích đổi mới chương trình đào tạo theo nhu cầu thực tế, tập trung vào vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, công nghệ biển và tự động hóa. Thành phố cũng dự kiến xây dựng chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học và trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy, tư vấn chính sách và chuyển giao công nghệ.
Những mục tiêu này đặt ra yêu cầu kết nối chặt chẽ hơn giữa đào tạo, nghiên cứu và nhu cầu sử dụng nhân lực. Doanh nghiệp cần tham gia xác định kỹ năng, công nghệ cần thiết; các cơ sở đào tạo cần gắn chương trình học với thực hành; còn hoạt động nghiên cứu cần có cơ chế hỗ trợ để đưa kết quả vào sản xuất.
Phối hợp thực hiện, giám sát mục tiêu đến năm 2030
Theo phân công của UBND thành phố, Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan thường trực, chịu trách nhiệm tham mưu, điều phối và hướng dẫn triển khai kế hoạch. Sở Tài chính phối hợp cân đối ngân sách nhà nước, tham mưu cơ chế khoán chi và quản lý Quỹ Đầu tư mạo hiểm. Các sở, ngành, địa phương, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp có trách nhiệm xây dựng chương trình hành động, đưa nhiệm vụ khoa học, công nghệ vào kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội hằng năm. Thành phố dự kiến đánh giá kết quả định kỳ hằng năm và tổ chức đánh giá giữa kỳ vào năm 2028 để điều chỉnh nhiệm vụ khi cần thiết.
Kế hoạch số 385/KH-UBND xác lập các mục tiêu định lượng cho giai đoạn 2026 đến 2030, từ tỷ lệ đầu tư R&D, đóng góp của TFP đến số lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Thách thức tiếp theo là chuyển các chỉ tiêu thành kết quả đo lường được trong sản xuất, kinh doanh và đời sống. Khả năng huy động nguồn lực xã hội, hiệu quả sử dụng ngân sách nghiên cứu, mức độ tham gia của doanh nghiệp và kết quả thương mại hóa công nghệ sẽ là những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả thực hiện kế hoạch. Đây cũng là cơ sở để đánh giá liệu khoa học và công nghệ có thực sự trở thành động lực nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của Hải Phòng trong những năm tới hay không.
Có thể bạn quan tâm
Hà Nội đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng lực bảo vệ môi trường
Đổi mới sáng tạo
'Kết nối hạ tầng R&D: Từ phòng thí nghiệm dùng chung đến các bước đột phá công nghệ'
Kết nối sáng tạo
Hải Phòng công khai 10 bài toán công nghệ, mở cơ hội cho doanh nghiệp
Đổi mới sáng tạo

