Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc tăng nhờ AI

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc tháng 7 tăng chậm lại, nhưng AI tiếp tục tạo ra khoảng cách lớn giữa nhóm công nghệ cao và các ngành phụ thuộc vào nhu cầu nội địa.
Vì sao đường sắt cao tốc Trung Quốc phát triển nhanh? J-16 Trung Quốc lần đầu bay 6.000 km tới châu Phi tập trận Trung Quốc sẽ thiếu máy bay không người lái khi chiến tranh nổ ra
Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc tăng nhờ AI
Các công nhân đang làm việc trên dây chuyền lắp ráp của một nhà máy thông minh thuộc công ty SERES Automobile Co., Ltd tại Trùng Khánh, Trung Quốc. Ảnh: Getty.

Lợi nhuận tháng 7 tăng chậm lại

Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc tiếp tục tăng trong tháng 7, nhưng tốc độ đã xuống mức thấp nhất trong bảy tháng. Sự phân hóa ngày càng rõ khi điện tử, chip và các ngành liên quan đến trí tuệ nhân tạo tăng nhanh, còn nhiều lĩnh vực phụ thuộc vào bất động sản và tiêu dùng trong nước tiếp tục chịu sức ép.

Ngày 27/8, Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc cho biết lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp quy mô lớn tăng 11,2% trong tháng 7 so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức 15,1% của tháng 6.

Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc tăng mạnh nhờ dầu mỏ và AI
Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc tăng mạnh nhờ dầu mỏ và AI

Trong bảy tháng đầu năm 2026, lợi nhuận của nhóm doanh nghiệp này đạt 4.582,06 tỷ nhân dân tệ, tương đương khoảng 681 tỷ USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ. Mức tăng này thấp hơn 18,7% ghi nhận trong nửa đầu năm. Số liệu bao gồm các doanh nghiệp công nghiệp có doanh thu từ hoạt động chính đạt ít nhất 20 triệu nhân dân tệ mỗi năm.

Tốc độ tăng lợi nhuận giảm không có nghĩa toàn bộ khu vực công nghiệp Trung Quốc đã bước vào suy thoái. Doanh thu của các doanh nghiệp công nghiệp vẫn tăng 6,5% trong bảy tháng, trong khi chi phí trên mỗi 100 nhân dân tệ doanh thu giảm 0,47 nhân dân tệ, xuống còn 85 nhân dân tệ.

Biên lợi nhuận trên doanh thu đạt 5,66%, tăng 0,54 điểm phần trăm so với cùng kỳ và là mức cao nhất trong cùng giai đoạn kể từ năm 2023. Tuy nhiên, đằng sau mức tăng chung là khoảng cách ngày càng lớn giữa các nhóm ngành.

AI trở thành trụ đỡ của ngành công nghiệp

Nhu cầu tính toán phục vụ trí tuệ nhân tạo đang tạo lực đẩy cho ngành điện tử Trung Quốc. Khi các trung tâm dữ liệu, doanh nghiệp công nghệ và nhà cung cấp dịch vụ số đầu tư thêm máy chủ, nhu cầu đối với chip xử lý, chip nhớ, thiết bị mạng và linh kiện điện tử cũng tăng theo.

Trong bảy tháng, lợi nhuận của ngành sản xuất máy tính, thiết bị truyền thông và điện tử tăng 110% so với cùng kỳ. Riêng ngành mạch tích hợp, gồm các nhà sản xuất chip xử lý và chip lưu trữ, ghi nhận lợi nhuận tăng 18,5 lần, không phải tăng 18,5% như một số bản dịch ban đầu.

Ngành mạch tích hợp đóng góp hơn 80% mức tăng lợi nhuận của toàn ngành điện tử. Lợi nhuận của ngành sản xuất máy tính hoàn chỉnh tăng 3,3 lần, thiết bị ngoại vi máy tính tăng 2,5 lần, còn máy tính công nghiệp và hệ thống điều khiển tăng 1,6 lần.

Doanh số bán lẻ và dữ liệu công nghiệp của Trung Quốc không đạt kỳ vọng trong tháng 8
Doanh số bán lẻ và dữ liệu công nghiệp của Trung Quốc không đạt kỳ vọng trong tháng 8

Theo ông Yu Weining, chuyên gia thống kê trưởng thuộc Vụ Công nghiệp của Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc, lợi nhuận ngành điện tử tăng mạnh nhờ nhu cầu về năng lực tính toán tiếp tục mở rộng, kéo theo sản lượng và giá bán của các sản phẩm liên quan đến AI.

Tính chung, ngành điện tử đã kéo mức tăng lợi nhuận của toàn bộ khu vực công nghiệp lên 9,3 điểm phần trăm. Điều này có nghĩa hơn một nửa mức tăng lợi nhuận công nghiệp trong bảy tháng đến từ riêng nhóm điện tử.

Sức tăng cũng lan sang một số ngành sản xuất công nghệ cao. Lợi nhuận của các doanh nghiệp chế tạo công nghệ cao tăng 50,1%, đóng góp 9,6 điểm phần trăm vào tăng trưởng lợi nhuận công nghiệp.

Trong đó, lợi nhuận sản xuất sợi quang tăng 468,4%, tương đương hơn 5,6 lần so với cùng kỳ. Sản xuất cáp quang tăng 62,6% và thiết bị hệ thống truyền thông tăng 55%. Các con số cho thấy làn sóng đầu tư AI không dừng ở chip mà đang mở rộng sang máy chủ, mạng truyền dẫn và hạ tầng dữ liệu.

Một nền công nghiệp vận hành với hai tốc độ

Trong khi điện tử và công nghệ cao tăng nhanh, các ngành phục vụ thị trường nội địa lại đối mặt với nhu cầu yếu. Bất động sản suy giảm làm giảm nhu cầu đối với thép, xi măng, vật liệu xây dựng, đồ nội thất và nhiều sản phẩm gia dụng.

Lợi nhuận ngành luyện kim đen, chủ yếu gồm sắt và thép, giảm 51,2% trong bảy tháng. Ngành sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại, bao gồm xi măng và một số loại vật liệu xây dựng, giảm 48,2%. Lợi nhuận sản xuất ô tô giảm 20,4%, còn sản xuất máy móc điện và thiết bị điện giảm 7,6%.

Sự phân hóa này phản ánh một nền công nghiệp vận hành với hai tốc độ. Nhóm gắn với xuất khẩu, AI và đầu tư công nghệ tiếp tục mở rộng. Nhóm phụ thuộc vào bất động sản, tiêu dùng gia đình và đầu tư tư nhân lại phục hồi chậm.

Rượu Mao Đài mất hào quang khi kinh tế Trung Quốc đổi trục Rượu Mao Đài mất hào quang khi kinh tế Trung Quốc đổi trục

Từng xuất hiện trên bàn tiệc của giới kinh doanh và được xem như biểu tượng của thời kỳ tăng trưởng Trung Quốc, rượu Mao ...

Ông Tianchen Xu, chuyên gia kinh tế cấp cao tại Economist Intelligence Unit, tổ chức nghiên cứu thuộc Economist Group, nhận định đầu tư bất động sản và hạ tầng giảm đã tác động trực tiếp tới lợi nhuận ngành thép và xi măng. Trong khi đó, chuỗi cung ứng nguyên liệu và AI giữ được sức tăng tốt hơn các ngành phục vụ người tiêu dùng.

Giá nguyên liệu đầu vào cũng tạo thêm áp lực. Khi chi phí của kim loại, hóa chất và năng lượng tăng, các doanh nghiệp ở khâu giữa và cuối chuỗi sản xuất khó chuyển toàn bộ phần tăng chi phí sang người mua do nhu cầu còn yếu.

Ở chiều ngược lại, các nhà sản xuất nguyên liệu lại hưởng lợi. Lợi nhuận ngành nguyên liệu thô tăng 55,2%, đóng góp 7,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Ngành luyện kim màu tăng 91,8%, hóa chất tăng 56,6%, còn chế biến dầu mỏ chuyển từ thua lỗ sang lãi 42,21 tỷ nhân dân tệ.

Thách thức nằm ở nhu cầu trong nước

Các số liệu tháng 7 cho thấy động lực từ AI có thể nâng lợi nhuận của một số ngành, nhưng chưa đủ tạo ra sự phục hồi đồng đều cho nền kinh tế Trung Quốc.

Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc thừa nhận tình trạng cung mạnh hơn cầu trong nước vẫn là một ràng buộc lớn. Người dân thận trọng trong chi tiêu, doanh nghiệp dè dặt đầu tư, còn thị trường bất động sản chưa thoát khỏi giai đoạn điều chỉnh kéo dài.

Bài toán của Bắc Kinh vì thế không nằm ở việc mở rộng thêm năng lực sản xuất đơn thuần. Nếu nhu cầu tiêu dùng và đầu tư tư nhân không cải thiện, công suất mới có thể làm cạnh tranh về giá gay gắt hơn, thu hẹp biên lợi nhuận tại những ngành đã dư cung.

Chính quyền Trung Quốc được dự báo sẽ đẩy nhanh giải ngân tài khóa, hỗ trợ một số dự án hạ tầng và triển khai các biện pháp kích thích có mục tiêu. Tuy nhiên, khả năng xuất hiện một chu kỳ phục hồi mạnh vẫn bị hạn chế bởi thị trường nhà ở suy yếu, niềm tin của hộ gia đình thấp và đầu tư tư nhân thiếu động lực.

Doanh nghiệp Việt Nam cần theo dõi điều gì?

Đà tăng của ngành điện tử Trung Quốc cho thấy nhu cầu đối với máy chủ, linh kiện bán dẫn, thiết bị mạng và hạ tầng trung tâm dữ liệu tại châu Á có thể tiếp tục mở rộng. Đây là cơ hội đối với doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng điện tử, lắp ráp thiết bị, sản xuất linh kiện và cung cấp dịch vụ trung tâm dữ liệu.

Tuy nhiên, năng lực sản xuất dư thừa tại Trung Quốc cũng có thể khiến giá thiết bị điện tử, vật liệu, ô tô và máy móc xuất khẩu giảm. Doanh nghiệp Việt Nam sẽ hưởng lợi nếu nhập được đầu vào rẻ hơn, nhưng các nhà sản xuất trong nước có thể chịu áp lực cạnh tranh lớn hơn.

Khoảng cách lợi nhuận giữa ngành AI và nhóm sản xuất truyền thống cũng mang lại một cảnh báo. Đầu tư vào trí tuệ nhân tạo chỉ tạo hiệu quả khi đi kèm nhu cầu thực, hạ tầng tính toán, dữ liệu, nhân lực và thị trường đầu ra. Nếu chạy theo công suất mà thiếu người mua, doanh nghiệp vẫn có thể rơi vào cuộc chiến giá giống những gì đang diễn ra ở một số ngành công nghiệp Trung Quốc.

Những con số chính

Lợi nhuận công nghiệp tháng 7 tăng 11,2%, thấp hơn mức 15,1% trong tháng 6. Lợi nhuận bảy tháng đạt 4.582,06 tỷ nhân dân tệ, tăng 17,6%. Ngành điện tử tăng 110%, ngành mạch tích hợp tăng 18,5 lần. Công nghệ cao tăng 50,1%, nguyên liệu thô tăng 55,2%. Ngành ô tô giảm 20,4%, khoáng phi kim loại giảm 48,2%, sắt thép giảm 51,2%.

https://www.cnbc.com/2026/08/27/china-industrial-profits-july-factory-production-.html

Có thể bạn quan tâm

Tăng cường năng lực sản xuất, Nestlé Việt Nam đưa dây chuyền đóng gói cà phê hòa tan mới vào vận hành

Tăng cường năng lực sản xuất, Nestlé Việt Nam đưa dây chuyền đóng gói cà phê hòa tan mới vào vận hành

Công nghiệp 4.0
Đây là một trong những dây chuyền đóng gói cà phê hiện đại trong hệ thống sản xuất của Tập đoàn Nestlé toàn cầu, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, vận hành, tăng cường giá trị gia tăng cho hạt cà phê và khẳng định cam kết đầu tư lâu dài của Nestlé tại Việt Nam.
Đồn đoán Google chuyển sản xuất điện thoại Pixel sang Việt Nam và Ấn Độ

Đồn đoán Google chuyển sản xuất điện thoại Pixel sang Việt Nam và Ấn Độ

Mobile
Đồn đoán Google chuyển sản xuất điện thoại Pixel khỏi Trung Quốc sang Việt Nam và Ấn Độ trước cuối năm 2027, tận dụng hệ sinh thái Samsung, đặt mục tiêu tăng xuất xưởng 8 đến 10% trong năm nay.
Quanta hợp tác Quantinuum, đưa máy tính lượng tử vào sản xuất công nghiệp

Quanta hợp tác Quantinuum, đưa máy tính lượng tử vào sản xuất công nghiệp

Xu hướng
Quanta Computer và Quantinuum vừa ký thỏa thuận phát triển chung hạ tầng phần cứng cho các thế hệ máy tính lượng tử tiếp theo của Quantinuum, đặt mục tiêu biến những cỗ máy vốn chỉ tồn tại trong phòng thí nghiệm thành sản phẩm có thể sản xuất hàng loạt.
Vì sao đường sắt cao tốc Trung Quốc phát triển nhanh?

Vì sao đường sắt cao tốc Trung Quốc phát triển nhanh?

Công nghiệp 4.0
Đi sau Nhật Bản và Pháp hàng chục năm, Trung Quốc hiện sở hữu hơn 50.000 km đường sắt cao tốc. Đằng sau tốc độ mở rộng này là quá trình tiếp nhận công nghệ, xây dựng chuỗi cung ứng và từng bước phát triển các thế hệ tàu riêng.
Doanh thu Viettel tăng 15,6%, phát thải chỉ nhích 3,5%

Doanh thu Viettel tăng 15,6%, phát thải chỉ nhích 3,5%

Công nghiệp 4.0
Báo cáo phát triển bền vững 2025 cho thấy Viettel vẫn mở rộng quy mô nhưng khí thải tăng chậm, doanh thu tăng 15,6% trong khi khí nhà kính chỉ tăng 3,5%, điện lưới giảm 3%.
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Nghệ An
Phan Thiết
Quảng Bình
Thừa Thiên Huế
Hà Giang
Hải Phòng
Khánh Hòa
Hà Nội

29°C

Cảm giác: 36°C
mây đen u ám
Thứ bảy, 29/08/2026 00:00
26°C
Thứ bảy, 29/08/2026 03:00
26°C
Thứ bảy, 29/08/2026 06:00
27°C
Thứ bảy, 29/08/2026 09:00
27°C
Thứ bảy, 29/08/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 29/08/2026 15:00
25°C
Thứ bảy, 29/08/2026 18:00
25°C
Thứ bảy, 29/08/2026 21:00
25°C
Chủ nhật, 30/08/2026 00:00
25°C
Chủ nhật, 30/08/2026 03:00
28°C
Chủ nhật, 30/08/2026 06:00
34°C
Chủ nhật, 30/08/2026 09:00
34°C
Chủ nhật, 30/08/2026 12:00
30°C
Chủ nhật, 30/08/2026 15:00
29°C
Chủ nhật, 30/08/2026 18:00
27°C
Chủ nhật, 30/08/2026 21:00
25°C
Thứ hai, 31/08/2026 00:00
26°C
Thứ hai, 31/08/2026 03:00
27°C
Thứ hai, 31/08/2026 06:00
26°C
Thứ hai, 31/08/2026 09:00
25°C
Thứ hai, 31/08/2026 12:00
24°C
Thứ hai, 31/08/2026 15:00
24°C
Thứ hai, 31/08/2026 18:00
23°C
Thứ hai, 31/08/2026 21:00
23°C
Thứ ba, 01/09/2026 00:00
23°C
Thứ ba, 01/09/2026 03:00
24°C
Thứ ba, 01/09/2026 06:00
25°C
Thứ ba, 01/09/2026 09:00
28°C
Thứ ba, 01/09/2026 12:00
25°C
Thứ ba, 01/09/2026 15:00
24°C
Thứ ba, 01/09/2026 18:00
24°C
Thứ ba, 01/09/2026 21:00
23°C
Thứ tư, 02/09/2026 00:00
24°C
Thứ tư, 02/09/2026 03:00
29°C
TP Hồ Chí Minh

31°C

Cảm giác: 38°C
mây đen u ám
Thứ bảy, 29/08/2026 00:00
26°C
Thứ bảy, 29/08/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 29/08/2026 06:00
32°C
Thứ bảy, 29/08/2026 09:00
32°C
Thứ bảy, 29/08/2026 12:00
30°C
Thứ bảy, 29/08/2026 15:00
27°C
Thứ bảy, 29/08/2026 18:00
27°C
Thứ bảy, 29/08/2026 21:00
27°C
Chủ nhật, 30/08/2026 00:00
27°C
Chủ nhật, 30/08/2026 03:00
32°C
Chủ nhật, 30/08/2026 06:00
32°C
Chủ nhật, 30/08/2026 09:00
30°C
Chủ nhật, 30/08/2026 12:00
29°C
Chủ nhật, 30/08/2026 15:00
27°C
Chủ nhật, 30/08/2026 18:00
26°C
Chủ nhật, 30/08/2026 21:00
26°C
Thứ hai, 31/08/2026 00:00
27°C
Thứ hai, 31/08/2026 03:00
32°C
Thứ hai, 31/08/2026 06:00
33°C
Thứ hai, 31/08/2026 09:00
32°C
Thứ hai, 31/08/2026 12:00
28°C
Thứ hai, 31/08/2026 15:00
27°C
Thứ hai, 31/08/2026 18:00
26°C
Thứ hai, 31/08/2026 21:00
26°C
Thứ ba, 01/09/2026 00:00
27°C
Thứ ba, 01/09/2026 03:00
30°C
Thứ ba, 01/09/2026 06:00
32°C
Thứ ba, 01/09/2026 09:00
29°C
Thứ ba, 01/09/2026 12:00
29°C
Thứ ba, 01/09/2026 15:00
28°C
Thứ ba, 01/09/2026 18:00
27°C
Thứ ba, 01/09/2026 21:00
26°C
Thứ tư, 02/09/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 02/09/2026 03:00
29°C
Đà Nẵng

36°C

Cảm giác: 41°C
mây đen u ám
Thứ bảy, 29/08/2026 00:00
30°C
Thứ bảy, 29/08/2026 03:00
33°C
Thứ bảy, 29/08/2026 06:00
33°C
Thứ bảy, 29/08/2026 09:00
32°C
Thứ bảy, 29/08/2026 12:00
30°C
Thứ bảy, 29/08/2026 15:00
28°C
Thứ bảy, 29/08/2026 18:00
29°C
Thứ bảy, 29/08/2026 21:00
29°C
Chủ nhật, 30/08/2026 00:00
29°C
Chủ nhật, 30/08/2026 03:00
29°C
Chủ nhật, 30/08/2026 06:00
31°C
Chủ nhật, 30/08/2026 09:00
30°C
Chủ nhật, 30/08/2026 12:00
29°C
Chủ nhật, 30/08/2026 15:00
29°C
Chủ nhật, 30/08/2026 18:00
27°C
Chủ nhật, 30/08/2026 21:00
28°C
Thứ hai, 31/08/2026 00:00
29°C
Thứ hai, 31/08/2026 03:00
32°C
Thứ hai, 31/08/2026 06:00
31°C
Thứ hai, 31/08/2026 09:00
30°C
Thứ hai, 31/08/2026 12:00
29°C
Thứ hai, 31/08/2026 15:00
28°C
Thứ hai, 31/08/2026 18:00
27°C
Thứ hai, 31/08/2026 21:00
27°C
Thứ ba, 01/09/2026 00:00
27°C
Thứ ba, 01/09/2026 03:00
30°C
Thứ ba, 01/09/2026 06:00
32°C
Thứ ba, 01/09/2026 09:00
29°C
Thứ ba, 01/09/2026 12:00
28°C
Thứ ba, 01/09/2026 15:00
27°C
Thứ ba, 01/09/2026 18:00
26°C
Thứ ba, 01/09/2026 21:00
26°C
Thứ tư, 02/09/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 02/09/2026 03:00
27°C
Nghệ An

32°C

Cảm giác: 36°C
mây đen u ám
Thứ bảy, 29/08/2026 00:00
23°C
Thứ bảy, 29/08/2026 03:00
25°C
Thứ bảy, 29/08/2026 06:00
25°C
Thứ bảy, 29/08/2026 09:00
23°C
Thứ bảy, 29/08/2026 12:00
23°C
Thứ bảy, 29/08/2026 15:00
23°C
Thứ bảy, 29/08/2026 18:00
22°C
Thứ bảy, 29/08/2026 21:00
22°C
Chủ nhật, 30/08/2026 00:00
23°C
Chủ nhật, 30/08/2026 03:00
23°C
Chủ nhật, 30/08/2026 06:00
22°C
Chủ nhật, 30/08/2026 09:00
23°C
Chủ nhật, 30/08/2026 12:00
22°C
Chủ nhật, 30/08/2026 15:00
22°C
Chủ nhật, 30/08/2026 18:00
21°C
Chủ nhật, 30/08/2026 21:00
21°C
Thứ hai, 31/08/2026 00:00
22°C
Thứ hai, 31/08/2026 03:00
25°C
Thứ hai, 31/08/2026 06:00
27°C
Thứ hai, 31/08/2026 09:00
23°C
Thứ hai, 31/08/2026 12:00
22°C
Thứ hai, 31/08/2026 15:00
22°C
Thứ hai, 31/08/2026 18:00
22°C
Thứ hai, 31/08/2026 21:00
22°C
Thứ ba, 01/09/2026 00:00
22°C
Thứ ba, 01/09/2026 03:00
22°C
Thứ ba, 01/09/2026 06:00
23°C
Thứ ba, 01/09/2026 09:00
22°C
Thứ ba, 01/09/2026 12:00
22°C
Thứ ba, 01/09/2026 15:00
21°C
Thứ ba, 01/09/2026 18:00
20°C
Thứ ba, 01/09/2026 21:00
20°C
Thứ tư, 02/09/2026 00:00
21°C
Thứ tư, 02/09/2026 03:00
30°C
Phan Thiết

31°C

Cảm giác: 36°C
mây đen u ám
Thứ bảy, 29/08/2026 00:00
26°C
Thứ bảy, 29/08/2026 03:00
32°C
Thứ bảy, 29/08/2026 06:00
30°C
Thứ bảy, 29/08/2026 09:00
30°C
Thứ bảy, 29/08/2026 12:00
27°C
Thứ bảy, 29/08/2026 15:00
26°C
Thứ bảy, 29/08/2026 18:00
25°C
Thứ bảy, 29/08/2026 21:00
24°C
Chủ nhật, 30/08/2026 00:00
25°C
Chủ nhật, 30/08/2026 03:00
31°C
Chủ nhật, 30/08/2026 06:00
32°C
Chủ nhật, 30/08/2026 09:00
30°C
Chủ nhật, 30/08/2026 12:00
26°C
Chủ nhật, 30/08/2026 15:00
26°C
Chủ nhật, 30/08/2026 18:00
25°C
Chủ nhật, 30/08/2026 21:00
24°C
Thứ hai, 31/08/2026 00:00
26°C
Thứ hai, 31/08/2026 03:00
31°C
Thứ hai, 31/08/2026 06:00
33°C
Thứ hai, 31/08/2026 09:00
31°C
Thứ hai, 31/08/2026 12:00
27°C
Thứ hai, 31/08/2026 15:00
25°C
Thứ hai, 31/08/2026 18:00
25°C
Thứ hai, 31/08/2026 21:00
24°C
Thứ ba, 01/09/2026 00:00
26°C
Thứ ba, 01/09/2026 03:00
31°C
Thứ ba, 01/09/2026 06:00
32°C
Thứ ba, 01/09/2026 09:00
31°C
Thứ ba, 01/09/2026 12:00
27°C
Thứ ba, 01/09/2026 15:00
25°C
Thứ ba, 01/09/2026 18:00
24°C
Thứ ba, 01/09/2026 21:00
25°C
Thứ tư, 02/09/2026 00:00
25°C
Thứ tư, 02/09/2026 03:00
31°C
Quảng Bình

25°C

Cảm giác: 26°C
mây đen u ám
Thứ bảy, 29/08/2026 00:00
24°C
Thứ bảy, 29/08/2026 03:00
24°C
Thứ bảy, 29/08/2026 06:00
25°C
Thứ bảy, 29/08/2026 09:00
25°C
Thứ bảy, 29/08/2026 12:00
23°C
Thứ bảy, 29/08/2026 15:00
23°C
Thứ bảy, 29/08/2026 18:00
23°C
Thứ bảy, 29/08/2026 21:00
22°C
Chủ nhật, 30/08/2026 00:00
22°C
Chủ nhật, 30/08/2026 03:00
22°C
Chủ nhật, 30/08/2026 06:00
22°C
Chủ nhật, 30/08/2026 09:00
22°C
Chủ nhật, 30/08/2026 12:00
21°C
Chủ nhật, 30/08/2026 15:00
22°C
Chủ nhật, 30/08/2026 18:00
21°C
Chủ nhật, 30/08/2026 21:00
21°C
Thứ hai, 31/08/2026 00:00
21°C
Thứ hai, 31/08/2026 03:00
23°C
Thứ hai, 31/08/2026 06:00
23°C
Thứ hai, 31/08/2026 09:00
23°C
Thứ hai, 31/08/2026 12:00
22°C
Thứ hai, 31/08/2026 15:00
21°C
Thứ hai, 31/08/2026 18:00
21°C
Thứ hai, 31/08/2026 21:00
21°C
Thứ ba, 01/09/2026 00:00
21°C
Thứ ba, 01/09/2026 03:00
22°C
Thứ ba, 01/09/2026 06:00
21°C
Thứ ba, 01/09/2026 09:00
21°C
Thứ ba, 01/09/2026 12:00
20°C
Thứ ba, 01/09/2026 15:00
20°C
Thứ ba, 01/09/2026 18:00
20°C
Thứ ba, 01/09/2026 21:00
20°C
Thứ tư, 02/09/2026 00:00
20°C
Thứ tư, 02/09/2026 03:00
25°C
Thừa Thiên Huế

36°C

Cảm giác: 38°C
mây đen u ám
Thứ bảy, 29/08/2026 00:00
28°C
Thứ bảy, 29/08/2026 03:00
32°C
Thứ bảy, 29/08/2026 06:00
34°C
Thứ bảy, 29/08/2026 09:00
33°C
Thứ bảy, 29/08/2026 12:00
27°C
Thứ bảy, 29/08/2026 15:00
26°C
Thứ bảy, 29/08/2026 18:00
26°C
Thứ bảy, 29/08/2026 21:00
26°C
Chủ nhật, 30/08/2026 00:00
27°C
Chủ nhật, 30/08/2026 03:00
30°C
Chủ nhật, 30/08/2026 06:00
31°C
Chủ nhật, 30/08/2026 09:00
30°C
Chủ nhật, 30/08/2026 12:00
26°C
Chủ nhật, 30/08/2026 15:00
26°C
Chủ nhật, 30/08/2026 18:00
26°C
Chủ nhật, 30/08/2026 21:00
26°C
Thứ hai, 31/08/2026 00:00
27°C
Thứ hai, 31/08/2026 03:00
30°C
Thứ hai, 31/08/2026 06:00
29°C
Thứ hai, 31/08/2026 09:00
27°C
Thứ hai, 31/08/2026 12:00
26°C
Thứ hai, 31/08/2026 15:00
25°C
Thứ hai, 31/08/2026 18:00
24°C
Thứ hai, 31/08/2026 21:00
24°C
Thứ ba, 01/09/2026 00:00
26°C
Thứ ba, 01/09/2026 03:00
29°C
Thứ ba, 01/09/2026 06:00
33°C
Thứ ba, 01/09/2026 09:00
28°C
Thứ ba, 01/09/2026 12:00
24°C
Thứ ba, 01/09/2026 15:00
23°C
Thứ ba, 01/09/2026 18:00
23°C
Thứ ba, 01/09/2026 21:00
23°C
Thứ tư, 02/09/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 02/09/2026 03:00
30°C
Hà Giang

30°C

Cảm giác: 35°C
mây đen u ám
Thứ bảy, 29/08/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 29/08/2026 03:00
25°C
Thứ bảy, 29/08/2026 06:00
26°C
Thứ bảy, 29/08/2026 09:00
25°C
Thứ bảy, 29/08/2026 12:00
25°C
Thứ bảy, 29/08/2026 15:00
24°C
Thứ bảy, 29/08/2026 18:00
24°C
Thứ bảy, 29/08/2026 21:00
23°C
Chủ nhật, 30/08/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 30/08/2026 03:00
33°C
Chủ nhật, 30/08/2026 06:00
37°C
Chủ nhật, 30/08/2026 09:00
33°C
Chủ nhật, 30/08/2026 12:00
29°C
Chủ nhật, 30/08/2026 15:00
27°C
Chủ nhật, 30/08/2026 18:00
25°C
Chủ nhật, 30/08/2026 21:00
24°C
Thứ hai, 31/08/2026 00:00
25°C
Thứ hai, 31/08/2026 03:00
24°C
Thứ hai, 31/08/2026 06:00
24°C
Thứ hai, 31/08/2026 09:00
23°C
Thứ hai, 31/08/2026 12:00
23°C
Thứ hai, 31/08/2026 15:00
23°C
Thứ hai, 31/08/2026 18:00
23°C
Thứ hai, 31/08/2026 21:00
22°C
Thứ ba, 01/09/2026 00:00
22°C
Thứ ba, 01/09/2026 03:00
24°C
Thứ ba, 01/09/2026 06:00
26°C
Thứ ba, 01/09/2026 09:00
29°C
Thứ ba, 01/09/2026 12:00
23°C
Thứ ba, 01/09/2026 15:00
21°C
Thứ ba, 01/09/2026 18:00
20°C
Thứ ba, 01/09/2026 21:00
20°C
Thứ tư, 02/09/2026 00:00
22°C
Thứ tư, 02/09/2026 03:00
31°C
Hải Phòng

31°C

Cảm giác: 38°C
mây đen u ám
Thứ bảy, 29/08/2026 00:00
26°C
Thứ bảy, 29/08/2026 03:00
30°C
Thứ bảy, 29/08/2026 06:00
29°C
Thứ bảy, 29/08/2026 09:00
28°C
Thứ bảy, 29/08/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 29/08/2026 15:00
25°C
Thứ bảy, 29/08/2026 18:00
25°C
Thứ bảy, 29/08/2026 21:00
25°C
Chủ nhật, 30/08/2026 00:00
25°C
Chủ nhật, 30/08/2026 03:00
26°C
Chủ nhật, 30/08/2026 06:00
30°C
Chủ nhật, 30/08/2026 09:00
31°C
Chủ nhật, 30/08/2026 12:00
26°C
Chủ nhật, 30/08/2026 15:00
26°C
Chủ nhật, 30/08/2026 18:00
25°C
Chủ nhật, 30/08/2026 21:00
25°C
Thứ hai, 31/08/2026 00:00
26°C
Thứ hai, 31/08/2026 03:00
28°C
Thứ hai, 31/08/2026 06:00
26°C
Thứ hai, 31/08/2026 09:00
25°C
Thứ hai, 31/08/2026 12:00
24°C
Thứ hai, 31/08/2026 15:00
23°C
Thứ hai, 31/08/2026 18:00
23°C
Thứ hai, 31/08/2026 21:00
23°C
Thứ ba, 01/09/2026 00:00
23°C
Thứ ba, 01/09/2026 03:00
23°C
Thứ ba, 01/09/2026 06:00
26°C
Thứ ba, 01/09/2026 09:00
27°C
Thứ ba, 01/09/2026 12:00
24°C
Thứ ba, 01/09/2026 15:00
24°C
Thứ ba, 01/09/2026 18:00
23°C
Thứ ba, 01/09/2026 21:00
22°C
Thứ tư, 02/09/2026 00:00
24°C
Thứ tư, 02/09/2026 03:00
30°C
Khánh Hòa

36°C

Cảm giác: 39°C
mây đen u ám
Thứ bảy, 29/08/2026 00:00
29°C
Thứ bảy, 29/08/2026 03:00
33°C
Thứ bảy, 29/08/2026 06:00
36°C
Thứ bảy, 29/08/2026 09:00
34°C
Thứ bảy, 29/08/2026 12:00
30°C
Thứ bảy, 29/08/2026 15:00
29°C
Thứ bảy, 29/08/2026 18:00
28°C
Thứ bảy, 29/08/2026 21:00
26°C
Chủ nhật, 30/08/2026 00:00
28°C
Chủ nhật, 30/08/2026 03:00
36°C
Chủ nhật, 30/08/2026 06:00
38°C
Chủ nhật, 30/08/2026 09:00
37°C
Chủ nhật, 30/08/2026 12:00
26°C
Chủ nhật, 30/08/2026 15:00
25°C
Chủ nhật, 30/08/2026 18:00
25°C
Chủ nhật, 30/08/2026 21:00
25°C
Thứ hai, 31/08/2026 00:00
28°C
Thứ hai, 31/08/2026 03:00
37°C
Thứ hai, 31/08/2026 06:00
39°C
Thứ hai, 31/08/2026 09:00
35°C
Thứ hai, 31/08/2026 12:00
29°C
Thứ hai, 31/08/2026 15:00
27°C
Thứ hai, 31/08/2026 18:00
26°C
Thứ hai, 31/08/2026 21:00
25°C
Thứ ba, 01/09/2026 00:00
29°C
Thứ ba, 01/09/2026 03:00
35°C
Thứ ba, 01/09/2026 06:00
37°C
Thứ ba, 01/09/2026 09:00
34°C
Thứ ba, 01/09/2026 12:00
29°C
Thứ ba, 01/09/2026 15:00
27°C
Thứ ba, 01/09/2026 18:00
25°C
Thứ ba, 01/09/2026 21:00
26°C
Thứ tư, 02/09/2026 00:00
28°C
Thứ tư, 02/09/2026 03:00
31°C

Giá vàngTỷ giá

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,100 ▼300K 149,600 ▼300K
Hà Nội - PNJ 146,100 ▼300K 149,600 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 146,100 ▼300K 149,600 ▼300K
Miền Tây - PNJ 146,100 ▼300K 149,600 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 146,100 ▼300K 149,600 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,100 ▼300K 149,600 ▼300K
Cập nhật: 28/08/2026 10:00
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,670 ▼30K 14,970 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,670 ▼30K 14,970 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,670 ▼30K 14,970 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,670 ▼30K 15,070 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,670 ▼30K 15,070 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,670 ▼30K 15,070 ▼30K
NL 99.99 14,150 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▼50K
Trang sức 99.9 14,380 ▼30K 14,980 ▼30K
Trang sức 99.99 14,390 ▼30K 14,990 ▼30K
Cập nhật: 28/08/2026 10:00
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,467 ▲1320K 14,972 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,467 ▲1320K 14,973 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,462 ▼3K 1,492 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,462 ▼3K 1,493 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,437 ▲1293K 1,482 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,733 ▲125730K 146,733 ▲132030K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,511 ▼225K 111,311 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,136 ▲82002K 100,936 ▲90822K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,761 ▼183K 90,561 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,759 ▼175K 86,559 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,156 ▼125K 61,956 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,467 ▲1320K 1,497 ▲1347K
Cập nhật: 28/08/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18241 18516 19099
CAD 18299 18575 19196
CHF 31787 32168 32814
CNY 0 3839 3935
EUR 29764 29987 31065
GBP 34653 35045 35986
HKD 0 3197 3400
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15233 15823
SGD 19993 20275 20844
THB 707 771 824
USD (1,2) 25828 0 0
USD (5,10,20) 25868 0 0
USD (50,100) 25896 25910 26278
Cập nhật: 28/08/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,790 29,814 31,227
JPY 159.15 159.44 169.06
GBP 34,811 34,905 36,121
AUD 18,417 18,484 19,190
CAD 18,477 18,536 19,219
CHF 32,025 32,125 33,083
SGD 20,096 20,158 20,946
CNY - 3,806 3,952
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.43 18.18 19.78
THB 755.78 765.11 818.95
NZD 15,189 15,330 15,792
SEK - 2,693 2,789
DKK - 3,996 4,137
NOK - 2,749 2,847
LAK - 0.88 1.23
MYR 6,048.9 - 6,830.67
TWD 744.09 - 901.46
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Cập nhật: 28/08/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Cập nhật: 28/08/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26270
AUD 18418 18518 19444
CAD 18479 18579 19590
CHF 32023 32053 33643
CNY 3820.7 3845.7 3980.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29939 29969 31691
GBP 34948 34998 36766
HKD 0 3330 0
JPY 160.16 160.66 171.17
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15329 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20141 20271 20994
THB 0 737.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14600000 14600000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Cập nhật: 28/08/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,912 25,912 26,300
USD20 25,862 25,912 26,841
USD1 25,812 25,912 26,891
AUD 18,424 18,524 19,638
EUR 29,741 29,841 31,501
CAD 18,382 18,482 19,865
SGD 20,226 20,376 21,630
JPY 160.66 162.16 167.71
GBP 34,832 34,982 36,300
XAU 14,738,000 0 15,042,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 774 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/08/2026 10:00