Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc tăng nhờ AI

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc tháng 7 tăng chậm lại, nhưng AI tiếp tục tạo ra khoảng cách lớn giữa nhóm công nghệ cao và các ngành phụ thuộc vào nhu cầu nội địa.
Vì sao đường sắt cao tốc Trung Quốc phát triển nhanh? J-16 Trung Quốc lần đầu bay 6.000 km tới châu Phi tập trận Trung Quốc sẽ thiếu máy bay không người lái khi chiến tranh nổ ra
Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc tăng nhờ AI
Các công nhân đang làm việc trên dây chuyền lắp ráp của một nhà máy thông minh thuộc công ty SERES Automobile Co., Ltd tại Trùng Khánh, Trung Quốc. Ảnh: Getty.

Lợi nhuận tháng 7 tăng chậm lại

Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc tiếp tục tăng trong tháng 7, nhưng tốc độ đã xuống mức thấp nhất trong bảy tháng. Sự phân hóa ngày càng rõ khi điện tử, chip và các ngành liên quan đến trí tuệ nhân tạo tăng nhanh, còn nhiều lĩnh vực phụ thuộc vào bất động sản và tiêu dùng trong nước tiếp tục chịu sức ép.

Ngày 27/8, Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc cho biết lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp quy mô lớn tăng 11,2% trong tháng 7 so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức 15,1% của tháng 6.

Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc tăng mạnh nhờ dầu mỏ và AI
Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc tăng mạnh nhờ dầu mỏ và AI

Trong bảy tháng đầu năm 2026, lợi nhuận của nhóm doanh nghiệp này đạt 4.582,06 tỷ nhân dân tệ, tương đương khoảng 681 tỷ USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ. Mức tăng này thấp hơn 18,7% ghi nhận trong nửa đầu năm. Số liệu bao gồm các doanh nghiệp công nghiệp có doanh thu từ hoạt động chính đạt ít nhất 20 triệu nhân dân tệ mỗi năm.

Tốc độ tăng lợi nhuận giảm không có nghĩa toàn bộ khu vực công nghiệp Trung Quốc đã bước vào suy thoái. Doanh thu của các doanh nghiệp công nghiệp vẫn tăng 6,5% trong bảy tháng, trong khi chi phí trên mỗi 100 nhân dân tệ doanh thu giảm 0,47 nhân dân tệ, xuống còn 85 nhân dân tệ.

Biên lợi nhuận trên doanh thu đạt 5,66%, tăng 0,54 điểm phần trăm so với cùng kỳ và là mức cao nhất trong cùng giai đoạn kể từ năm 2023. Tuy nhiên, đằng sau mức tăng chung là khoảng cách ngày càng lớn giữa các nhóm ngành.

AI trở thành trụ đỡ của ngành công nghiệp

Nhu cầu tính toán phục vụ trí tuệ nhân tạo đang tạo lực đẩy cho ngành điện tử Trung Quốc. Khi các trung tâm dữ liệu, doanh nghiệp công nghệ và nhà cung cấp dịch vụ số đầu tư thêm máy chủ, nhu cầu đối với chip xử lý, chip nhớ, thiết bị mạng và linh kiện điện tử cũng tăng theo.

Trong bảy tháng, lợi nhuận của ngành sản xuất máy tính, thiết bị truyền thông và điện tử tăng 110% so với cùng kỳ. Riêng ngành mạch tích hợp, gồm các nhà sản xuất chip xử lý và chip lưu trữ, ghi nhận lợi nhuận tăng 18,5 lần, không phải tăng 18,5% như một số bản dịch ban đầu.

Ngành mạch tích hợp đóng góp hơn 80% mức tăng lợi nhuận của toàn ngành điện tử. Lợi nhuận của ngành sản xuất máy tính hoàn chỉnh tăng 3,3 lần, thiết bị ngoại vi máy tính tăng 2,5 lần, còn máy tính công nghiệp và hệ thống điều khiển tăng 1,6 lần.

Doanh số bán lẻ và dữ liệu công nghiệp của Trung Quốc không đạt kỳ vọng trong tháng 8
Doanh số bán lẻ và dữ liệu công nghiệp của Trung Quốc không đạt kỳ vọng trong tháng 8

Theo ông Yu Weining, chuyên gia thống kê trưởng thuộc Vụ Công nghiệp của Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc, lợi nhuận ngành điện tử tăng mạnh nhờ nhu cầu về năng lực tính toán tiếp tục mở rộng, kéo theo sản lượng và giá bán của các sản phẩm liên quan đến AI.

Tính chung, ngành điện tử đã kéo mức tăng lợi nhuận của toàn bộ khu vực công nghiệp lên 9,3 điểm phần trăm. Điều này có nghĩa hơn một nửa mức tăng lợi nhuận công nghiệp trong bảy tháng đến từ riêng nhóm điện tử.

Sức tăng cũng lan sang một số ngành sản xuất công nghệ cao. Lợi nhuận của các doanh nghiệp chế tạo công nghệ cao tăng 50,1%, đóng góp 9,6 điểm phần trăm vào tăng trưởng lợi nhuận công nghiệp.

Trong đó, lợi nhuận sản xuất sợi quang tăng 468,4%, tương đương hơn 5,6 lần so với cùng kỳ. Sản xuất cáp quang tăng 62,6% và thiết bị hệ thống truyền thông tăng 55%. Các con số cho thấy làn sóng đầu tư AI không dừng ở chip mà đang mở rộng sang máy chủ, mạng truyền dẫn và hạ tầng dữ liệu.

Một nền công nghiệp vận hành với hai tốc độ

Trong khi điện tử và công nghệ cao tăng nhanh, các ngành phục vụ thị trường nội địa lại đối mặt với nhu cầu yếu. Bất động sản suy giảm làm giảm nhu cầu đối với thép, xi măng, vật liệu xây dựng, đồ nội thất và nhiều sản phẩm gia dụng.

Lợi nhuận ngành luyện kim đen, chủ yếu gồm sắt và thép, giảm 51,2% trong bảy tháng. Ngành sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại, bao gồm xi măng và một số loại vật liệu xây dựng, giảm 48,2%. Lợi nhuận sản xuất ô tô giảm 20,4%, còn sản xuất máy móc điện và thiết bị điện giảm 7,6%.

Sự phân hóa này phản ánh một nền công nghiệp vận hành với hai tốc độ. Nhóm gắn với xuất khẩu, AI và đầu tư công nghệ tiếp tục mở rộng. Nhóm phụ thuộc vào bất động sản, tiêu dùng gia đình và đầu tư tư nhân lại phục hồi chậm.

Rượu Mao Đài mất hào quang khi kinh tế Trung Quốc đổi trục Rượu Mao Đài mất hào quang khi kinh tế Trung Quốc đổi trục

Từng xuất hiện trên bàn tiệc của giới kinh doanh và được xem như biểu tượng của thời kỳ tăng trưởng Trung Quốc, rượu Mao ...

Ông Tianchen Xu, chuyên gia kinh tế cấp cao tại Economist Intelligence Unit, tổ chức nghiên cứu thuộc Economist Group, nhận định đầu tư bất động sản và hạ tầng giảm đã tác động trực tiếp tới lợi nhuận ngành thép và xi măng. Trong khi đó, chuỗi cung ứng nguyên liệu và AI giữ được sức tăng tốt hơn các ngành phục vụ người tiêu dùng.

Giá nguyên liệu đầu vào cũng tạo thêm áp lực. Khi chi phí của kim loại, hóa chất và năng lượng tăng, các doanh nghiệp ở khâu giữa và cuối chuỗi sản xuất khó chuyển toàn bộ phần tăng chi phí sang người mua do nhu cầu còn yếu.

Ở chiều ngược lại, các nhà sản xuất nguyên liệu lại hưởng lợi. Lợi nhuận ngành nguyên liệu thô tăng 55,2%, đóng góp 7,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Ngành luyện kim màu tăng 91,8%, hóa chất tăng 56,6%, còn chế biến dầu mỏ chuyển từ thua lỗ sang lãi 42,21 tỷ nhân dân tệ.

Thách thức nằm ở nhu cầu trong nước

Các số liệu tháng 7 cho thấy động lực từ AI có thể nâng lợi nhuận của một số ngành, nhưng chưa đủ tạo ra sự phục hồi đồng đều cho nền kinh tế Trung Quốc.

Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc thừa nhận tình trạng cung mạnh hơn cầu trong nước vẫn là một ràng buộc lớn. Người dân thận trọng trong chi tiêu, doanh nghiệp dè dặt đầu tư, còn thị trường bất động sản chưa thoát khỏi giai đoạn điều chỉnh kéo dài.

Bài toán của Bắc Kinh vì thế không nằm ở việc mở rộng thêm năng lực sản xuất đơn thuần. Nếu nhu cầu tiêu dùng và đầu tư tư nhân không cải thiện, công suất mới có thể làm cạnh tranh về giá gay gắt hơn, thu hẹp biên lợi nhuận tại những ngành đã dư cung.

Chính quyền Trung Quốc được dự báo sẽ đẩy nhanh giải ngân tài khóa, hỗ trợ một số dự án hạ tầng và triển khai các biện pháp kích thích có mục tiêu. Tuy nhiên, khả năng xuất hiện một chu kỳ phục hồi mạnh vẫn bị hạn chế bởi thị trường nhà ở suy yếu, niềm tin của hộ gia đình thấp và đầu tư tư nhân thiếu động lực.

Doanh nghiệp Việt Nam cần theo dõi điều gì?

Đà tăng của ngành điện tử Trung Quốc cho thấy nhu cầu đối với máy chủ, linh kiện bán dẫn, thiết bị mạng và hạ tầng trung tâm dữ liệu tại châu Á có thể tiếp tục mở rộng. Đây là cơ hội đối với doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng điện tử, lắp ráp thiết bị, sản xuất linh kiện và cung cấp dịch vụ trung tâm dữ liệu.

Tuy nhiên, năng lực sản xuất dư thừa tại Trung Quốc cũng có thể khiến giá thiết bị điện tử, vật liệu, ô tô và máy móc xuất khẩu giảm. Doanh nghiệp Việt Nam sẽ hưởng lợi nếu nhập được đầu vào rẻ hơn, nhưng các nhà sản xuất trong nước có thể chịu áp lực cạnh tranh lớn hơn.

Khoảng cách lợi nhuận giữa ngành AI và nhóm sản xuất truyền thống cũng mang lại một cảnh báo. Đầu tư vào trí tuệ nhân tạo chỉ tạo hiệu quả khi đi kèm nhu cầu thực, hạ tầng tính toán, dữ liệu, nhân lực và thị trường đầu ra. Nếu chạy theo công suất mà thiếu người mua, doanh nghiệp vẫn có thể rơi vào cuộc chiến giá giống những gì đang diễn ra ở một số ngành công nghiệp Trung Quốc.

Những con số chính

Lợi nhuận công nghiệp tháng 7 tăng 11,2%, thấp hơn mức 15,1% trong tháng 6. Lợi nhuận bảy tháng đạt 4.582,06 tỷ nhân dân tệ, tăng 17,6%. Ngành điện tử tăng 110%, ngành mạch tích hợp tăng 18,5 lần. Công nghệ cao tăng 50,1%, nguyên liệu thô tăng 55,2%. Ngành ô tô giảm 20,4%, khoáng phi kim loại giảm 48,2%, sắt thép giảm 51,2%.

https://www.cnbc.com/2026/08/27/china-industrial-profits-july-factory-production-.html

Có thể bạn quan tâm

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam cần chuyển từ lắp ráp sang làm chủ năng lực

Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam cần chuyển từ lắp ráp sang làm chủ năng lực

E-Fashion
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu đổi mới cách phát triển công nghiệp hỗ trợ, tập trung làm chủ công nghệ, nâng năng lực doanh nghiệp trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tìm giải pháp đột phá phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam

Tìm giải pháp đột phá phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam

Công nghiệp 4.0
Sáng 30/9, tại Phú Thọ, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với Tỉnh ủy Phú Thọ và Bộ Công Thương tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia
Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc tăng thấp nhất năm

Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc tăng thấp nhất năm

Công nghiệp 4.0
Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc chỉ tăng 4,2% trong tháng 8, mức thấp nhất từ đầu năm, khi nhu cầu nội địa yếu gây sức ép lên nhiều ngành sản xuất, trong khi nhóm công nghệ cao liên quan AI tiếp tục tăng trưởng mạnh.
Microchip ra mắt chip giám sát nguồn điện cho hệ thống nguồn 48V

Microchip ra mắt chip giám sát nguồn điện cho hệ thống nguồn 48V

Công nghiệp 4.0
Ngày 28/9/2026, Microchip Technology giới thiệu hai dòng chip giám sát nguồn điện kỹ thuật số 65V mang mã PAC1761 và PAC1861, dành cho các hệ thống nguồn 48V đang lan nhanh trong ô tô, trung tâm dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo, hạ tầng mạng và nhà máy công nghiệp.
Muốn nâng giá trị công nghiệp vật liệu phải làm chủ công nghệ

Muốn nâng giá trị công nghiệp vật liệu phải làm chủ công nghệ

Công nghiệp 4.0
Muốn nâng giá trị vật liệu, công nghiệp vật liệu Việt Nam phải thôi bán tài nguyên thô và làm chủ công nghệ lõi, phấn đấu nội địa hóa 50% một số vật liệu chiến lược vào năm 2030, theo ý kiến của cơ quan quản lý và các nhà khoa học tại hội thảo chiều 24/9 ở Hà Nội.
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Nghệ An
Phan Thiết
Quảng Bình
Thừa Thiên Huế
Hà Giang
Hải Phòng
Khánh Hòa
Hà Nội

32°C

Cảm giác: 35°C
bầu trời quang đãng
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
30°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
33°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
33°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
28°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
31°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
34°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
32°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
28°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 15/10/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 15/10/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 15/10/2026 06:00
34°C
Thứ năm, 15/10/2026 09:00
32°C
Thứ năm, 15/10/2026 12:00
27°C
Thứ năm, 15/10/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 15/10/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 15/10/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 16/10/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 16/10/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 16/10/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 16/10/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 16/10/2026 12:00
27°C
Thứ sáu, 16/10/2026 15:00
26°C
Thứ sáu, 16/10/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 16/10/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 17/10/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 17/10/2026 03:00
30°C
Thứ bảy, 17/10/2026 06:00
33°C
TP Hồ Chí Minh

33°C

Cảm giác: 40°C
mưa nhẹ
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
29°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
32°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
29°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
27°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
27°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
30°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
32°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
29°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 15/10/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 15/10/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 15/10/2026 06:00
33°C
Thứ năm, 15/10/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 15/10/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 15/10/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 15/10/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 15/10/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 16/10/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 16/10/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 16/10/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 16/10/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 16/10/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 16/10/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 16/10/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 16/10/2026 21:00
25°C
Thứ bảy, 17/10/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 17/10/2026 03:00
30°C
Thứ bảy, 17/10/2026 06:00
31°C
Đà Nẵng

28°C

Cảm giác: 33°C
mưa nhẹ
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
28°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
27°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
28°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
27°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
27°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
27°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
28°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 15/10/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 15/10/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 15/10/2026 06:00
28°C
Thứ năm, 15/10/2026 09:00
27°C
Thứ năm, 15/10/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 15/10/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 15/10/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 15/10/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 16/10/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 16/10/2026 03:00
26°C
Thứ sáu, 16/10/2026 06:00
27°C
Thứ sáu, 16/10/2026 09:00
27°C
Thứ sáu, 16/10/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 16/10/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 16/10/2026 18:00
24°C
Thứ sáu, 16/10/2026 21:00
23°C
Thứ bảy, 17/10/2026 00:00
24°C
Thứ bảy, 17/10/2026 03:00
27°C
Thứ bảy, 17/10/2026 06:00
27°C
Nghệ An

30°C

Cảm giác: 31°C
mây cụm
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
29°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
29°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
21°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
21°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
20°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
21°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
28°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
31°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
28°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
23°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
22°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
21°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
20°C
Thứ năm, 15/10/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 15/10/2026 03:00
28°C
Thứ năm, 15/10/2026 06:00
29°C
Thứ năm, 15/10/2026 09:00
28°C
Thứ năm, 15/10/2026 12:00
22°C
Thứ năm, 15/10/2026 15:00
21°C
Thứ năm, 15/10/2026 18:00
21°C
Thứ năm, 15/10/2026 21:00
21°C
Thứ sáu, 16/10/2026 00:00
22°C
Thứ sáu, 16/10/2026 03:00
28°C
Thứ sáu, 16/10/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 16/10/2026 09:00
28°C
Thứ sáu, 16/10/2026 12:00
22°C
Thứ sáu, 16/10/2026 15:00
21°C
Thứ sáu, 16/10/2026 18:00
21°C
Thứ sáu, 16/10/2026 21:00
21°C
Thứ bảy, 17/10/2026 00:00
21°C
Thứ bảy, 17/10/2026 03:00
28°C
Thứ bảy, 17/10/2026 06:00
30°C
Phan Thiết

31°C

Cảm giác: 38°C
mây đen u ám
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
27°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
29°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
30°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
28°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
29°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
29°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
28°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 15/10/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 15/10/2026 03:00
29°C
Thứ năm, 15/10/2026 06:00
30°C
Thứ năm, 15/10/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 15/10/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 15/10/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 15/10/2026 18:00
26°C
Thứ năm, 15/10/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 16/10/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 16/10/2026 03:00
29°C
Thứ sáu, 16/10/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 16/10/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 16/10/2026 12:00
27°C
Thứ sáu, 16/10/2026 15:00
26°C
Thứ sáu, 16/10/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 16/10/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 17/10/2026 00:00
26°C
Thứ bảy, 17/10/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 17/10/2026 06:00
30°C
Quảng Bình

26°C

Cảm giác: 26°C
mưa nhẹ
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
21°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
21°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
21°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
22°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
27°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
21°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
21°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
20°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
20°C
Thứ năm, 15/10/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 15/10/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 15/10/2026 06:00
29°C
Thứ năm, 15/10/2026 09:00
26°C
Thứ năm, 15/10/2026 12:00
21°C
Thứ năm, 15/10/2026 15:00
20°C
Thứ năm, 15/10/2026 18:00
20°C
Thứ năm, 15/10/2026 21:00
19°C
Thứ sáu, 16/10/2026 00:00
21°C
Thứ sáu, 16/10/2026 03:00
27°C
Thứ sáu, 16/10/2026 06:00
28°C
Thứ sáu, 16/10/2026 09:00
25°C
Thứ sáu, 16/10/2026 12:00
20°C
Thứ sáu, 16/10/2026 15:00
20°C
Thứ sáu, 16/10/2026 18:00
21°C
Thứ sáu, 16/10/2026 21:00
21°C
Thứ bảy, 17/10/2026 00:00
21°C
Thứ bảy, 17/10/2026 03:00
27°C
Thứ bảy, 17/10/2026 06:00
28°C
Thừa Thiên Huế

29°C

Cảm giác: 34°C
mây đen u ám
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
28°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
27°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
23°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
22°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
30°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
29°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
27°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
23°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
22°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
22°C
Thứ năm, 15/10/2026 00:00
23°C
Thứ năm, 15/10/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 15/10/2026 06:00
31°C
Thứ năm, 15/10/2026 09:00
27°C
Thứ năm, 15/10/2026 12:00
23°C
Thứ năm, 15/10/2026 15:00
22°C
Thứ năm, 15/10/2026 18:00
21°C
Thứ năm, 15/10/2026 21:00
20°C
Thứ sáu, 16/10/2026 00:00
23°C
Thứ sáu, 16/10/2026 03:00
29°C
Thứ sáu, 16/10/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 16/10/2026 09:00
27°C
Thứ sáu, 16/10/2026 12:00
23°C
Thứ sáu, 16/10/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 16/10/2026 18:00
21°C
Thứ sáu, 16/10/2026 21:00
20°C
Thứ bảy, 17/10/2026 00:00
22°C
Thứ bảy, 17/10/2026 03:00
30°C
Thứ bảy, 17/10/2026 06:00
31°C
Hà Giang

32°C

Cảm giác: 33°C
bầu trời quang đãng
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
30°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
33°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
32°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
23°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
21°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
30°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
33°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
32°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
23°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
24°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
22°C
Thứ năm, 15/10/2026 00:00
23°C
Thứ năm, 15/10/2026 03:00
29°C
Thứ năm, 15/10/2026 06:00
29°C
Thứ năm, 15/10/2026 09:00
28°C
Thứ năm, 15/10/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 15/10/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 15/10/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 15/10/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 16/10/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 16/10/2026 03:00
27°C
Thứ sáu, 16/10/2026 06:00
28°C
Thứ sáu, 16/10/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 16/10/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 16/10/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 16/10/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 16/10/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 17/10/2026 00:00
23°C
Thứ bảy, 17/10/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 17/10/2026 06:00
31°C
Hải Phòng

31°C

Cảm giác: 34°C
mây rải rác
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
30°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
33°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
30°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
24°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
31°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
33°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
30°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 15/10/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 15/10/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 15/10/2026 06:00
31°C
Thứ năm, 15/10/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 15/10/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 15/10/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 15/10/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 15/10/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 16/10/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 16/10/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 16/10/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 16/10/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 16/10/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 16/10/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 16/10/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 16/10/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 17/10/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 17/10/2026 03:00
31°C
Thứ bảy, 17/10/2026 06:00
33°C
Khánh Hòa

31°C

Cảm giác: 38°C
mưa vừa
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
27°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
29°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
29°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
28°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
24°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
24°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
23°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
23°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
32°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
32°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
28°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
24°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
24°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
23°C
Thứ năm, 15/10/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 15/10/2026 03:00
32°C
Thứ năm, 15/10/2026 06:00
29°C
Thứ năm, 15/10/2026 09:00
27°C
Thứ năm, 15/10/2026 12:00
24°C
Thứ năm, 15/10/2026 15:00
23°C
Thứ năm, 15/10/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 15/10/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 16/10/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 16/10/2026 03:00
32°C
Thứ sáu, 16/10/2026 06:00
33°C
Thứ sáu, 16/10/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 16/10/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 16/10/2026 15:00
23°C
Thứ sáu, 16/10/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 16/10/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 17/10/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 17/10/2026 03:00
32°C
Thứ bảy, 17/10/2026 06:00
31°C

Giá vàngTỷ giá

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,000 ▼300K 144,000 ▼300K
Hà Nội - PNJ 141,000 ▼300K 144,000 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 141,000 ▼300K 144,000 ▼300K
Miền Tây - PNJ 141,000 ▼300K 144,000 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 141,000 ▼300K 144,000 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,000 ▼300K 144,000 ▼300K
Cập nhật: 12/10/2026 13:00
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 14,480
Miếng SJC Nghệ An 14,180 14,480
Miếng SJC Thái Bình 14,180 14,480
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 14,430
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,710 14,310
Trang sức 99.99 13,720 14,320
Cập nhật: 12/10/2026 13:00
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 14,482
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 14,483
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 1,444
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 1,433
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 141,881
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 107,636
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 97,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 87,572
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 83,702
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 59,912
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Cập nhật: 12/10/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17534 17807 18391
CAD 17633 17906 18526
CHF 30541 30917 31563
CNY 0 3827 3924
EUR 28396 28613 29696
GBP 33490 33878 34826
HKD 0 3170 3372
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14206 14796
SGD 19695 19976 20555
THB 688 751 804
USD (1,2) 25640 0 0
USD (5,10,20) 25678 0 0
USD (50,100) 25706 25720 26090
Cập nhật: 12/10/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,433 28,456 29,806
JPY 159.03 159.32 168.95
GBP 33,648 33,739 34,914
AUD 17,726 17,790 18,471
CAD 17,806 17,863 18,527
CHF 30,781 30,877 31,796
SGD 19,802 19,864 20,645
CNY - 3,792 3,937
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.86 18.63 20.27
THB 735.93 745.02 797.76
NZD 14,190 14,322 14,746
SEK - 2,545 2,635
DKK - 3,814 3,949
NOK - 2,660 2,755
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,921.68 - 6,687.65
TWD 731.73 - 886.58
SAR - 6,772.31 7,134.79
KWD - 81,705 86,947
AED - 6,790 7,317
Cập nhật: 12/10/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,426 28,569 29,793
GBP 33,643 33,812 34,842
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,648 30,802 31,750
JPY 158.85 160.45 168.43
AUD 17,719 17,844 18,441
SGD 19,779 19,959 20,553
THB 741 756 793
CAD 17,814 17,904 18,499
NZD 14,290 14,845
KRW 18.72 20.72
Cập nhật: 12/10/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25650 25680 26040
AUD 17720 17820 18742
CAD 17790 17890 18905
CHF 30773 30803 32377
CNY 3803.2 3828.2 3963.4
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28545 28575 30297
GBP 33749 33799 35570
HKD 0 3315 0
JPY 160 160.5 171.01
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14314 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19833 19963 20684
THB 0 716.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14420000
SBJ 12500000 12500000 14420000
Cập nhật: 12/10/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,573 25,693 25,980
USD20 25,543 25,693 25,980
USD1 24,340 25,693 25,980
AUD 17,755 17,855 18,960
EUR 28,335 28,435 30,093
CAD 17,737 17,837 19,140
SGD 19,909 20,059 20,990
JPY 160.41 161.91 167.45
GBP 33,645 33,795 34,854
XAU 14,178,000 0 14,482,000
CNY 0 3,714 0
THB 0 752 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/10/2026 13:00