Hải Phòng mở rộng mạng lưới hợp tác quốc tế về công nghệ
![]() |
| Hải Phòng mở rộng mạng lưới hợp tác quốc tế về công nghệ. Ảnh VOV.vn |
Hải Phòng mở rộng mạng lưới hợp tác quốc tế về công nghệ
Hải Phòng đang mở rộng hợp tác khoa học công nghệ với nhiều đối tác quốc tế, chuyển trọng tâm từ tìm kiếm công nghệ sẵn có sang nghiên cứu chung, thử nghiệm, chuyển giao và thương mại hóa. Cách tiếp cận này đặt doanh nghiệp vào vị trí quan trọng trong quá trình đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường.
Mục tiêu của thành phố là tạo ra mạng lưới kết nối giữa nhà khoa học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Trong đó, các công nghệ liên quan đến trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, kinh tế tuần hoàn, logistics thông minh và công nghệ biển đang được ưu tiên.
Nếu triển khai thành công, mô hình này có thể giúp Hải Phòng giải quyết một bài toán lâu nay của hoạt động chuyển giao công nghệ: doanh nghiệp không dừng ở mua máy móc, thiết bị hoặc giải pháp hoàn chỉnh từ nước ngoài, mà từng bước tham gia nghiên cứu, tiếp nhận, cải tiến và làm chủ công nghệ.
Từ chuyển giao công nghệ đến cùng nghiên cứu
Một trong những đối tác Hải Phòng đang thúc đẩy hợp tác là Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc, KIST. Hai bên đã duy trì nhiều hoạt động trao đổi về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời xúc tiến mô hình Trung tâm Công nghệ KIST Hải Phòng.
Điểm đáng quan tâm của mô hình này nằm ở cách tổ chức hợp tác. Trung tâm được kỳ vọng đóng vai trò kết nối nhà khoa học với doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu chung, đào tạo nhân lực, thử nghiệm công nghệ và đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
Các hướng hợp tác dự kiến gồm công nghệ sinh học, y dược, sản phẩm tự nhiên và dược liệu biển, vật liệu mới, công nghệ xanh, kinh tế tuần hoàn, công nghệ số và nông nghiệp thông minh.
Một số kết nối ban đầu đã hình thành. Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Ứng dụng khoa học công nghệ Hải Phòng, Viện Nghiên cứu sản phẩm tự nhiên KIST Gangneung và Công ty ECO-HOPIA đã ký biên bản ghi nhớ để nghiên cứu các sáng kiến hợp tác. Một doanh nghiệp thuộc hệ sinh thái KIST cũng kết nối với doanh nghiệp Hải Phòng về chuyển giao công nghệ sản xuất phân hữu cơ vi sinh thế hệ mới.
Hải Phòng đang khẳng định quyết tâm bứt phá bằng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hướng tới trở ... |
Tiến sĩ Kim Joo-sun, Viện trưởng Viện Nghiên cứu sản phẩm tự nhiên KIST Gangneung cho biết đơn vị đang phối hợp với Hải Phòng nghiên cứu nguyên liệu mới phục vụ y học và chăm sóc sức khỏe từ tài nguyên thiên nhiên. Hai bên cũng thử nghiệm công nghệ nông nghiệp thông minh ứng dụng trí tuệ nhân tạo và nghiên cứu mô hình kinh tế tuần hoàn để chuyển nguồn hữu cơ thành nguyên liệu mới.
Theo ông Kim Joo-sun, Trung tâm Công nghệ KIST Hải Phòng được kỳ vọng trở thành nền tảng để nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hai nước cùng phát triển, thử nghiệm và thương mại hóa công nghệ dựa trên nhu cầu thực tế của Hải Phòng, thay vì vận hành theo mô hình chuyển giao một chiều từ Hàn Quốc sang Việt Nam. Đây là khác biệt quan trọng.
Với cách chuyển giao truyền thống, doanh nghiệp có thể mua máy móc, dây chuyền hoặc quy trình đã hoàn thiện. Khả năng tham gia vào quá trình hình thành công nghệ thường hạn chế. Mô hình nghiên cứu chung tạo cơ hội để doanh nghiệp tham gia sớm hơn, từ xác định bài toán, thử nghiệm giải pháp đến điều chỉnh công nghệ theo điều kiện sản xuất thực tế.
Nếu quá trình này vận hành hiệu quả, giá trị Hải Phòng nhận được sẽ không dừng ở một thiết bị hay một dây chuyền sản xuất. Thành phố có thể tích lũy đội ngũ nhân lực, kinh nghiệm nghiên cứu và khả năng cải tiến công nghệ sau chuyển giao.
![]() |
| Hải Phòng mở rộng mạng lưới hợp tác quốc tế về công nghệ. Ảnh VOV.vn |
Mở thêm hành lang hợp tác AI và dữ liệu lớn
Cùng với Hàn Quốc, Hải Phòng đang mở rộng kết nối công nghệ với Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc.
Hai địa phương vốn có nền tảng hợp tác trong cảng biển, logistics, thương mại và đầu tư. Từ đầu năm 2026, các cuộc trao đổi chuyên môn đã mở rộng sang trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và chuyển đổi số.
Tại Techfest Hải Phòng 2026, các doanh nghiệp công nghệ Trung Quốc giới thiệu nhiều giải pháp liên quan đến chính quyền số, giao thông thông minh, trí tuệ nhân tạo và thương mại điện tử xuyên biên giới.
Ông Chu Hậu Nham, Kỹ sư trưởng Cục Phát triển Dữ liệu lớn Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây cho biết hai bên đã bước đầu hình thành các dự án hợp tác về chính quyền số, du lịch thông minh, số hóa khu công nghiệp và phòng thí nghiệm AI.
Phía Quảng Tây cũng đề xuất mở rộng sang dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, logistics số và thương mại điện tử xuyên biên giới, qua đó tăng kết nối trên hành lang kinh tế số giữa Trung Quốc và Việt Nam.
Đối với Hải Phòng, các lĩnh vực này gắn trực tiếp với lợi thế của một trung tâm công nghiệp, cảng biển và logistics.
Trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn có thể được ứng dụng trong quản lý giao thông, điều phối hàng hóa, tối ưu hoạt động cảng, quản trị khu công nghiệp, dịch vụ công và thương mại xuyên biên giới. Vì vậy, giá trị của hợp tác sẽ phụ thuộc nhiều vào khả năng chuyển những cuộc trao đổi và trình diễn công nghệ thành các dự án thử nghiệm thực tế.
Mạng lưới hợp tác mở rộng ra nhiều quốc gia
Mạng lưới hợp tác khoa học và công nghệ của Hải Phòng hiện không giới hạn ở Hàn Quốc và Trung Quốc. Thành phố đã kết nối với các tổ chức và đối tác đến từ Nhật Bản, Bỉ, Singapore, Đài Loan (Trung Quốc), Hoa Kỳ và một số quốc gia khác.
Các chương trình tập trung vào kết nối cung cầu công nghệ, xúc tiến chuyển giao, đào tạo nhân lực và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận giải pháp mới.
Nhiều lĩnh vực được lựa chọn gắn với những vấn đề mà một thành phố công nghiệp và cảng biển phải giải quyết, gồm chuyển đổi năng lượng xanh, đô thị thông minh, giảm phát thải carbon, xử lý chất thải bằng công nghệ cao, logistics xanh, công nghệ biển và chuyển đổi số.
Việc lựa chọn lĩnh vực theo nhu cầu địa phương có ý nghĩa quan trọng. Một công nghệ tiên tiến chưa chắc tạo ra giá trị nếu doanh nghiệp không có nhu cầu sử dụng hoặc thiếu nhân lực, hạ tầng và nguồn vốn để tiếp nhận.
Vì vậy, bài toán tiếp theo của Hải Phòng là xây dựng năng lực hấp thụ công nghệ cho doanh nghiệp địa phương.
Năng lực này có thể hiểu đơn giản là khả năng tiếp nhận một công nghệ từ bên ngoài, vận hành được công nghệ đó, sau đó cải tiến và từng bước làm chủ. Đây cũng là điểm phân biệt giữa nhập khẩu công nghệ với phát triển năng lực công nghệ.
Tạo khung hợp tác đến năm 2030
Ngày 2/6/2026, UBND thành phố Hải Phòng ban hành Quyết định số 2061/QĐ-UBND phê duyệt Chương trình đẩy mạnh hợp tác trong nước và quốc tế về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026 đến 2030.
Theo chương trình, Hải Phòng đặt mục tiêu tranh thủ nguồn lực bên ngoài, tiếp thu và làm chủ công nghệ mới, đồng thời nâng cao năng lực khoa học và công nghệ nội sinh.
Khung chính sách này tạo cơ sở để thành phố chuyển từ những hoạt động kết nối riêng lẻ sang chương trình hợp tác dài hạn.
| Hải Phòng: Một bước tiến mới đưa công nghệ lượng tử vào giảng đường |
Ông Hoàng Minh Cường, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng cho biết thành phố sẽ tăng cường hợp tác nghiên cứu và phát triển công nghệ với các đối tác có tiềm lực, đồng thời kết nối chuyên gia, nhà khoa học và trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia nghiên cứu, giảng dạy, tư vấn chính sách và chuyển giao công nghệ.
Các lĩnh vực Hải Phòng muốn xây dựng quan hệ hợp tác lâu dài gồm trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, logistics thông minh và công nghệ biển.
Theo ông Cường, thành phố mong muốn cùng các đối tác thiết lập những hành lang chuyển giao công nghệ lõi thực tế hơn và tạo môi trường thuận lợi cho dòng tri thức quốc tế đi vào Hải Phòng.
![]() |
| Hải Phòng mở rộng mạng lưới hợp tác quốc tế về công nghệ. Ảnh VOV.vn |
Thước đo không nằm ở số biên bản ghi nhớ
Việc mở rộng mạng lưới đối tác tạo thêm cơ hội để Hải Phòng tiếp cận tri thức và công nghệ quốc tế. Tuy nhiên, số quốc gia tham gia hay số biên bản ghi nhớ chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả của quá trình này.
Thước đo quan trọng hơn là số công nghệ được đưa vào thử nghiệm, số kết quả nghiên cứu được thương mại hóa, số kỹ sư và chuyên gia được đào tạo, số doanh nghiệp tiếp nhận thành công công nghệ và khả năng doanh nghiệp tiếp tục cải tiến sau khi chuyên gia nước ngoài rút khỏi dự án. Đây cũng là bài toán khó hơn so với mua một dây chuyền hoặc nhập khẩu thiết bị.
Doanh nghiệp muốn làm chủ công nghệ cần nhân lực đủ trình độ, nguồn vốn dành cho nghiên cứu và thử nghiệm, hệ thống quản trị phù hợp và khả năng chấp nhận rủi ro khi một công nghệ mới chưa tạo ra doanh thu ngay lập tức.
Ở phía cơ quan quản lý, thành phố cần tạo môi trường để viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp gặp nhau trên những bài toán cụ thể của thị trường.
Một công nghệ xử lý chất thải, chẳng hạn, cần được thử nghiệm tại môi trường thực tế. Công nghệ logistics thông minh cần dữ liệu và hệ thống hạ tầng để kiểm chứng hiệu quả. Giải pháp AI cho khu công nghiệp cũng cần doanh nghiệp tham gia cung cấp bài toán, dữ liệu và đánh giá kết quả.
Điều đó có nghĩa hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ cần đi qua một chuỗi khá dài: xác định nhu cầu, nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá, hoàn thiện, chuyển giao và cuối cùng là thương mại hóa.
Từ công nghệ nhập khẩu đến năng lực công nghệ của Hải Phòng
Hợp tác quốc tế cũng là một trong những công cụ để Hải Phòng cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Với một thành phố có thế mạnh về công nghiệp, cảng biển và logistics, nhu cầu công nghệ không nằm ở một lĩnh vực riêng lẻ. AI có thể tham gia quản lý cảng và khu công nghiệp. Công nghệ xanh liên quan trực tiếp đến yêu cầu giảm phát thải. Dữ liệu lớn có thể phục vụ logistics. Công nghệ sinh học và kinh tế tuần hoàn có thể mở ra những sản phẩm mới từ nguồn tài nguyên và phụ phẩm hiện có.
Vì vậy, giá trị lớn nhất của mạng lưới hợp tác quốc tế sẽ xuất hiện khi các công nghệ này đi vào hoạt động kinh tế thực tế.
Hải Phòng đang đặt nền móng cho quá trình đó bằng việc mở rộng đối tác, hình thành các trung tâm kết nối và xây dựng chương trình hợp tác đến năm 2030. Giai đoạn tiếp theo sẽ cần trả lời câu hỏi khó hơn: bao nhiêu dự án nghiên cứu chung tạo ra sản phẩm, bao nhiêu công nghệ được doanh nghiệp sử dụng và bao nhiêu công nghệ sau chuyển giao có thể được đội ngũ trong nước tiếp tục phát triển.
Khi nhà khoa học nước ngoài cùng nghiên cứu với kỹ sư Việt Nam, công nghệ được thử nghiệm tại doanh nghiệp Hải Phòng và sản phẩm cuối cùng có thể bước ra thị trường, hợp tác quốc tế mới chuyển hóa thành năng lực công nghệ của chính địa phương.
Hải Phòng ưu tiên những lĩnh vực công nghệ nào?Theo nội dung chương trình và các hoạt động hợp tác đang được triển khai, Hải Phòng tập trung vào trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, y dược, vật liệu mới, công nghệ xanh, kinh tế tuần hoàn, logistics thông minh, công nghệ biển, nông nghiệp thông minh và chuyển đổi số. Các lĩnh vực này có điểm chung là gắn với nhu cầu phát triển của Hải Phòng trong vai trò trung tâm công nghiệp, cảng biển và logistics, đồng thời tạo dư địa để doanh nghiệp địa phương tham gia quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và tiếp nhận công nghệ. |
Có thể bạn quan tâm
Conviction 2026 chính thức khai mạc tại Thiskyhall Thành phố Hồ Chí Minh
Đổi mới sáng tạo
Lần đầu tiên tổ chức Diễn đàn Trí tuệ nhân tạo (AI) quốc tế WAN-IFRA tại Việt Nam
AI
Doanh nghiệp nhà nước phải kiểm định an ninh thiết bị từ 01/5/2027
Bảo mật


