Eo biển Hormuz làm thay đổi tư duy an ninh năng lượng toàn cầu

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Cuộc đối đầu tại eo biển Hormuz đang làm đảo chiều một quan điểm tồn tại nhiều thập kỷ về an ninh năng lượng. Nếu trước đây năng lượng tái tạo bị xem là thiếu ổn định thì nay chính chuỗi cung ứng nhiên liệu hóa thạch mới được nhìn nhận là mắt xích dễ tổn thương nhất trước các cú sốc địa chính trị.
Hoa Kỳ kêu gọi Trung Quốc ngăn Iran đóng eo biển Hormuz, tránh nguy cơ khủng hoảng dầu mỏ toàn cầu Eo biển Hormuz và nguy cơ phản ứng dây chuyền trên thị trường năng lượng toàn cầu Eo biển Hormuz tê liệt khiến kế hoạch can thiệp của Mỹ không phát huy hiệu quả
An ninh năng lượng thay đổi sau khủng hoảng eo biển Hormuz (
Ảnh minh họa: Người dân Iran đang ngồi trên bãi biển Suru ở Bandar Abbas dọc theo eo biển Hormuz - Getty.

An ninh năng lượng đang được định nghĩa lại

Cuộc khủng hoảng tại eo biển Hormuz không đơn thuần là một biến động địa chính trị mà đang tạo ra sự thay đổi lớn trong cách thế giới nhìn nhận về an ninh năng lượng. Tuyến đường vận chuyển khoảng 20% lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng toàn cầu bị gián đoạn đã khiến nhiều quốc gia nhận ra rằng điểm yếu lớn nhất của hệ thống năng lượng hiện nay không nằm ở điện gió hay điện mặt trời mà chính là sự phụ thuộc quá lớn vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu.

Trong nhiều năm, các nguồn năng lượng tái tạo thường bị chỉ trích vì phụ thuộc vào thời tiết và khó đảm bảo nguồn cung liên tục. Than đá, dầu mỏ và khí đốt được xem là nền tảng tạo nên sự ổn định của hệ thống điện.

Tuy nhiên, diễn biến tại Trung Đông đã làm thay đổi hoàn toàn lập luận này.

Kingsmill Bond, chiến lược gia năng lượng của Ember, cho rằng nhiên liệu hóa thạch hiện nay mới là nguồn năng lượng thiếu ổn định nhất. Theo ông, cùng với sự phát triển của pin lưu trữ, điện mặt trời và điện gió đã trở nên đáng tin cậy hơn rất nhiều.

Theo Bond, thế giới đang sở hữu một bộ công nghệ hoàn toàn khác so với thời kỳ khủng hoảng dầu mỏ những năm 1973 và 1979. Nếu trước đây các quốc gia phải lựa chọn điện hạt nhân với thời gian xây dựng kéo dài hàng chục năm thì hiện nay điện mặt trời, điện gió, pin lưu trữ và điện hóa có chi phí thấp hơn, triển khai nhanh hơn và có thể mở rộng quy mô dễ dàng.

Từ phụ thuộc dầu mỏ sang tự chủ năng lượng

Cuộc chiến tại Trung Đông khiến giá năng lượng toàn cầu biến động mạnh, kéo theo áp lực lạm phát tại nhiều nền kinh tế.

Các quốc gia châu Á vốn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu dầu và khí đốt trở thành khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp. Trong khi đó, châu Âu và nhiều nước châu Phi cũng phải đối mặt với chi phí nhiên liệu tăng cao, gây áp lực lên sản xuất công nghiệp và an ninh lương thực.

Markus Rauramo, Giám đốc điều hành Fortum, cho rằng giải pháp căn bản để giảm rủi ro không phải là tìm thêm nguồn nhập khẩu mới mà là tăng năng lực sản xuất điện sạch trong nước.

Theo ông, việc phát triển nguồn điện phát thải thấp sẽ giúp các quốc gia giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu có hàm lượng CO2 cao, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc địa chính trị.

Tuy nhiên, lãnh đạo Fortum cũng thừa nhận quá trình chuyển đổi này không thể diễn ra ngay lập tức vì nhiều doanh nghiệp và hộ gia đình vẫn đang phụ thuộc đáng kể vào khí đốt tự nhiên.

Pin lưu trữ đang thay đổi cuộc chơi

Một trong những nguyên nhân khiến quan điểm về năng lượng tái tạo thay đổi là sự phát triển nhanh của công nghệ pin lưu trữ.

Birgitte Ringstad Vartdal, Giám đốc điều hành Statkraft, nhà sản xuất năng lượng tái tạo lớn nhất châu Âu, cho rằng pin đã rẻ hơn, tuổi thọ dài hơn và đủ khả năng lưu trữ lượng điện dư thừa từ điện mặt trời và điện gió để sử dụng trong các khung giờ nhu cầu cao.

Tại nhiều quốc gia, các hệ thống pin đã có thể thay thế phần lớn vai trò của các nhà máy điện truyền thống trong các khoảng thời gian giữa giờ cao điểm và giờ thấp điểm.

Điều này giúp khắc phục một trong những hạn chế lớn nhất từng được nhắc đến đối với năng lượng tái tạo là tính biến động theo thời tiết.

Dù vậy, Statkraft vẫn cho rằng hệ thống điện tương lai cần duy trì một tỷ lệ khí đốt nhất định để đảm bảo vận hành trong những giai đoạn kéo dài có sản lượng điện gió và điện mặt trời thấp.

An ninh năng lượng thay đổi sau khủng hoảng eo biển Hormuz (
Công nhân lắp đặt tấm pin năng lượng mặt trời trên mái nhà của một ngôi nhà tại Thành phố Hồ Chí Minh. Việc lắp đặt điện mặt trời trên mái nhà như một phần của nỗ lực rộng lớn hơn hướng tới năng lượng tái tạo và an ninh năng lượng dài hạn. Ảnh: Getty.

Châu Âu đứng trước bài toán LNG của Mỹ

Một xu hướng khác đang xuất hiện là sự dịch chuyển mạnh sang khí tự nhiên hóa lỏng của Mỹ.

Theo Jan Rosenow, giáo sư về chính sách năng lượng và khí hậu tại Đại học Oxford, châu Âu sẽ phải nhập khẩu nhiều LNG hơn trong thời gian tới do những bất ổn tại eo biển Hormuz.

Điều này đồng nghĩa với việc khu vực tiếp tục phụ thuộc vào một nguồn cung bên ngoài thay vì hoàn toàn tự chủ về năng lượng.

Theo Rosenow, điện được sản xuất trong nước từ các nguồn tái tạo không gặp rủi ro địa chính trị tương tự, qua đó tạo lợi thế lớn về an ninh năng lượng trong dài hạn.

Góc nhìn Việt Nam

Đối với Việt Nam, bài học từ eo biển Hormuz không chỉ nằm ở câu chuyện giá dầu mà còn liên quan đến chiến lược chuyển đổi năng lượng.

Việt Nam đang thúc đẩy phát triển điện gió ngoài khơi, điện mặt trời, lưu trữ năng lượng và các dự án LNG nhằm đa dạng hóa nguồn cung. Trong bối cảnh thế giới ngày càng bất ổn, việc tăng tỷ trọng điện sản xuất trong nước từ nguồn tái tạo kết hợp hệ thống lưu trữ có thể giúp giảm rủi ro phụ thuộc vào các tuyến vận tải quốc tế.

Đồng thời, nhu cầu phát triển công nghệ pin, lưới điện thông minh và các nền tảng quản lý năng lượng bằng AI sẽ ngày càng trở thành yếu tố quyết định đối với an ninh năng lượng quốc gia.

Xu hướng năng lượng tái tạo tại Việt Nam

Với đường bờ biển dài và khí hậu nhiệt đới, Việt Nam nhận được lượng nhiệt mặt trời dồi dào. Đây được xem là một trong những tiềm năng lớn để phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo tại nước ta.

Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam là một trong số 14 nước trên thế giới đứng đầu về tiềm năng thủy điện. Hiện nước ta có 387 trạm thủy điện với tổng công suất ước đạt hơn 8.000MW. Lợi thế đường bờ biển dài theo chiều dọc đất nước, Việt Nam có nhiều tiềm năng khai thác năng lượng gió, tập trung chủ yếu ở vùng duyên hải miền trung, miền nam, Tây Nguyên như: Ninh Thuận, Bình Thuận, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu…

Việt Nam nằm ở khu vực cận xích đạo, tổng số giờ nắng cao hơn 2.500 giờ/năm, tổng lượng bức xạ trung bình năm vào khoảng 230-250 kcal/cm2/ngày. Đây là một lợi thế cho Việt Nam khai thác nguồn năng lượng tái tạo này để phục vụ cho nhu cầu sản xuất năng lượng tái tạo.

Theo báo cáo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, đến cuối năm 2023, tổng công suất nguồn điện (đã COD) toàn hệ thống đạt khoảng 80.555MW, tăng ~2.800MW so năm 2022. Trong đó, tổng công suất các nguồn điện năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời) là 21.664MW, chiếm tỷ trọng 27%, nhiệt điện than là 26.757MW, chiếm tỷ trọng 33,2%; thủy điện (bao gồm thủy điện nhỏ) là 22.872MW, chiếm tỷ trọng 28,4%. Quy mô hệ thống điện Việt Nam đứng đầu khu vực ASEAN về công suất nguồn điện.

Quyết định số 2068/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược phát năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với quan điểm chính là phát triển năng lượng tái tạo với triển khai thực hiện mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường: Kết hợp phát triển năng lượng tái tạo với các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường là cần thiết. Năng lượng tái tạo không chỉ mở rộng quy mô và tăng tỷ lệ trong cung cấp năng lượng, mà còn giải quyết nhu cầu năng lượng cho nông thôn, thúc đẩy sản xuất và xây dựng xã hội tiết kiệm, hiệu quả, thân thiện với môi trường. Phát triển này cần dựa trên nguồn lực và nhu cầu phát triển của từng địa phương.

Bên cạnh đó, phát triển năng lượng tái tạo cần kết hợp với công nghiệp chế tạo thiết bị. Cần ưu tiên các lĩnh vực như điện gió, điện mặt trời và điện sinh khối, mở rộng nhu cầu thị trường và tăng cường hợp tác quốc tế để chuyển giao công nghệ. Mục tiêu là tự chủ công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững ngành công nghiệp năng lượng tái tạo.

Tương lai của năng lượng tái tạo hứa hẹn sẽ mang lại những thay đổi tích cực cho nền kinh tế toàn cầu và môi trường sống. Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và các chính sách hỗ trợ từ chính phủ, năng lượng tái tạo không chỉ trở thành nguồn cung cấp điện chính mà còn góp phần giảm thiểu khí thải carbon và chống biến đổi khí hậu.

Việc đầu tư vào năng lượng tái tạo sẽ không chỉ tạo ra hàng triệu việc làm mới mà còn xây dựng một hệ thống năng lượng bền vững hơn cho các thế hệ tương lai.

3 thay đổi lớn sau khủng hoảng Hormuz

• Nhiên liệu hóa thạch trở thành nguồn rủi ro địa chính trị lớn hơn trước.

• Pin lưu trữ giúp giảm đáng kể nhược điểm của điện mặt trời và điện gió.

• Khái niệm an ninh năng lượng chuyển từ bảo đảm nguồn nhập khẩu sang nâng cao năng lực sản xuất điện sạch trong nước.

Có thể bạn quan tâm

Lãi 2.427 tỷ đồng, KSV đang đầu tư cho công nghệ ra sao?

Lãi 2.427 tỷ đồng, KSV đang đầu tư cho công nghệ ra sao?

Năng lượng
Báo cáo tài chính KSV quý 2/2026 cho thấy Tổng công ty Khoáng sản TKV (VIMICO) lãi 2.427 tỷ đồng, còn phần mềm máy tính chỉ 4,19 tỷ đồng, đất hiếm Đông Pao treo dở dang 97,64 tỷ đồng.
Mỹ và Nga cạnh tranh năng lượng tại Ấn Độ

Mỹ và Nga cạnh tranh năng lượng tại Ấn Độ

Năng lượng
Nga giữ vị trí số một về dầu thô, còn Mỹ dẫn đầu nguồn cung LPG và gia tăng bán LNG cho Ấn Độ. Cuộc cạnh tranh đang đặt New Delhi trước bài toán cân bằng chi phí, kỹ thuật lọc dầu và sức ép thuế quan.
Vertiv ra mắt bộ lưu điện dành cho môi trường AI mật độ cao

Vertiv ra mắt bộ lưu điện dành cho môi trường AI mật độ cao

Năng lượng
Theo đó, bộ lưu điện (UPS) Vertiv™ PowerUPS 9000 công suất 1,8 MW chính thức mang đến giải pháp bảo vệ nguồn điện công suất cao, mật độ cao và có khả năng mở rộng cho các thiết bị trí tuệ nhân tạo (AI) và các ứng dụng trọng yếu khác.
Phát điện 3 có gì đáng chú ý sau khoản lãi tăng gấp đôi?

Phát điện 3 có gì đáng chú ý sau khoản lãi tăng gấp đôi?

Năng lượng
Báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2026 của Tổng Công ty Phát điện 3 ghi nhận lãi sau thuế 1.435 tỷ đồng, cao hơn 63,6% so với cùng kỳ. Phía sau con số lợi nhuận, dòng tiền kinh doanh sáu tháng chỉ còn 202,9 tỷ đồng, còn khối thiết bị đã khấu hao hết nhưng vẫn đang phát điện có nguyên giá hơn 42.200 tỷ đồng.
REE chi 1.275 tỷ đồng mua sắm tài sản, phần mềm vỏn vẹn 276 triệu đồng

REE chi 1.275 tỷ đồng mua sắm tài sản, phần mềm vỏn vẹn 276 triệu đồng

Năng lượng
Sáu tháng đầu năm 2026, RaEE chi 1.275 tỷ đồng mua sắm tài sản cố định. Trong đó phần mềm vi tính chiếm 276 triệu đồng, tương đương 0,02%.
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Hải Phòng
Khánh Hòa
Nghệ An
Phan Thiết
Quảng Bình
Thừa Thiên Huế
Hà Giang
Hà Nội

26°C

Cảm giác: 26°C
mưa nhẹ
Thứ ba, 15/09/2026 00:00
23°C
Thứ ba, 15/09/2026 03:00
23°C
Thứ ba, 15/09/2026 06:00
24°C
Thứ ba, 15/09/2026 09:00
25°C
Thứ ba, 15/09/2026 12:00
24°C
Thứ ba, 15/09/2026 15:00
24°C
Thứ ba, 15/09/2026 18:00
24°C
Thứ ba, 15/09/2026 21:00
23°C
Thứ tư, 16/09/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 16/09/2026 03:00
24°C
Thứ tư, 16/09/2026 06:00
25°C
Thứ tư, 16/09/2026 09:00
25°C
Thứ tư, 16/09/2026 12:00
24°C
Thứ tư, 16/09/2026 15:00
23°C
Thứ tư, 16/09/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 16/09/2026 21:00
23°C
Thứ năm, 17/09/2026 00:00
24°C
Thứ năm, 17/09/2026 03:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 06:00
26°C
Thứ năm, 17/09/2026 09:00
27°C
Thứ năm, 17/09/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 17/09/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 17/09/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 18/09/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 03:00
29°C
Thứ sáu, 18/09/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 18/09/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 18/09/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 18/09/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 18:00
25°C
TP Hồ Chí Minh

27°C

Cảm giác: 30°C
mây đen u ám
Thứ ba, 15/09/2026 00:00
26°C
Thứ ba, 15/09/2026 03:00
31°C
Thứ ba, 15/09/2026 06:00
34°C
Thứ ba, 15/09/2026 09:00
34°C
Thứ ba, 15/09/2026 12:00
29°C
Thứ ba, 15/09/2026 15:00
27°C
Thứ ba, 15/09/2026 18:00
26°C
Thứ ba, 15/09/2026 21:00
26°C
Thứ tư, 16/09/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 16/09/2026 03:00
31°C
Thứ tư, 16/09/2026 06:00
34°C
Thứ tư, 16/09/2026 09:00
33°C
Thứ tư, 16/09/2026 12:00
30°C
Thứ tư, 16/09/2026 15:00
28°C
Thứ tư, 16/09/2026 18:00
27°C
Thứ tư, 16/09/2026 21:00
26°C
Thứ năm, 17/09/2026 00:00
27°C
Thứ năm, 17/09/2026 03:00
31°C
Thứ năm, 17/09/2026 06:00
33°C
Thứ năm, 17/09/2026 09:00
31°C
Thứ năm, 17/09/2026 12:00
28°C
Thứ năm, 17/09/2026 15:00
27°C
Thứ năm, 17/09/2026 18:00
26°C
Thứ năm, 17/09/2026 21:00
26°C
Thứ sáu, 18/09/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 03:00
26°C
Thứ sáu, 18/09/2026 06:00
29°C
Thứ sáu, 18/09/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 18/09/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 18/09/2026 15:00
26°C
Thứ sáu, 18/09/2026 18:00
25°C
Đà Nẵng

25°C

Cảm giác: 26°C
mây đen u ám
Thứ ba, 15/09/2026 00:00
25°C
Thứ ba, 15/09/2026 03:00
27°C
Thứ ba, 15/09/2026 06:00
28°C
Thứ ba, 15/09/2026 09:00
27°C
Thứ ba, 15/09/2026 12:00
27°C
Thứ ba, 15/09/2026 15:00
26°C
Thứ ba, 15/09/2026 18:00
26°C
Thứ ba, 15/09/2026 21:00
26°C
Thứ tư, 16/09/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 16/09/2026 03:00
27°C
Thứ tư, 16/09/2026 06:00
28°C
Thứ tư, 16/09/2026 09:00
28°C
Thứ tư, 16/09/2026 12:00
28°C
Thứ tư, 16/09/2026 15:00
27°C
Thứ tư, 16/09/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 16/09/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 17/09/2026 03:00
26°C
Thứ năm, 17/09/2026 06:00
27°C
Thứ năm, 17/09/2026 09:00
28°C
Thứ năm, 17/09/2026 12:00
27°C
Thứ năm, 17/09/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 17/09/2026 18:00
26°C
Thứ năm, 17/09/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 18/09/2026 03:00
28°C
Thứ sáu, 18/09/2026 06:00
28°C
Thứ sáu, 18/09/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 18/09/2026 12:00
27°C
Thứ sáu, 18/09/2026 15:00
26°C
Thứ sáu, 18/09/2026 18:00
26°C
Hải Phòng

26°C

Cảm giác: 26°C
mây đen u ám
Thứ ba, 15/09/2026 00:00
25°C
Thứ ba, 15/09/2026 03:00
24°C
Thứ ba, 15/09/2026 06:00
27°C
Thứ ba, 15/09/2026 09:00
31°C
Thứ ba, 15/09/2026 12:00
26°C
Thứ ba, 15/09/2026 15:00
24°C
Thứ ba, 15/09/2026 18:00
24°C
Thứ ba, 15/09/2026 21:00
24°C
Thứ tư, 16/09/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 16/09/2026 03:00
24°C
Thứ tư, 16/09/2026 06:00
26°C
Thứ tư, 16/09/2026 09:00
26°C
Thứ tư, 16/09/2026 12:00
24°C
Thứ tư, 16/09/2026 15:00
24°C
Thứ tư, 16/09/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 16/09/2026 21:00
23°C
Thứ năm, 17/09/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 17/09/2026 06:00
27°C
Thứ năm, 17/09/2026 09:00
28°C
Thứ năm, 17/09/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 17/09/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 18/09/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 03:00
28°C
Thứ sáu, 18/09/2026 06:00
29°C
Thứ sáu, 18/09/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 18/09/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 18/09/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 18:00
25°C
Khánh Hòa

24°C

Cảm giác: 25°C
mây đen u ám
Thứ ba, 15/09/2026 00:00
25°C
Thứ ba, 15/09/2026 03:00
34°C
Thứ ba, 15/09/2026 06:00
36°C
Thứ ba, 15/09/2026 09:00
26°C
Thứ ba, 15/09/2026 12:00
25°C
Thứ ba, 15/09/2026 15:00
24°C
Thứ ba, 15/09/2026 18:00
24°C
Thứ ba, 15/09/2026 21:00
24°C
Thứ tư, 16/09/2026 00:00
25°C
Thứ tư, 16/09/2026 03:00
34°C
Thứ tư, 16/09/2026 06:00
37°C
Thứ tư, 16/09/2026 09:00
27°C
Thứ tư, 16/09/2026 12:00
25°C
Thứ tư, 16/09/2026 15:00
25°C
Thứ tư, 16/09/2026 18:00
24°C
Thứ tư, 16/09/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 17/09/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 17/09/2026 03:00
28°C
Thứ năm, 17/09/2026 06:00
33°C
Thứ năm, 17/09/2026 09:00
27°C
Thứ năm, 17/09/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 17/09/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 18/09/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 03:00
33°C
Thứ sáu, 18/09/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 18/09/2026 09:00
28°C
Thứ sáu, 18/09/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 18/09/2026 18:00
23°C
Nghệ An

21°C

Cảm giác: 21°C
mây đen u ám
Thứ ba, 15/09/2026 00:00
21°C
Thứ ba, 15/09/2026 03:00
22°C
Thứ ba, 15/09/2026 06:00
22°C
Thứ ba, 15/09/2026 09:00
22°C
Thứ ba, 15/09/2026 12:00
21°C
Thứ ba, 15/09/2026 15:00
21°C
Thứ ba, 15/09/2026 18:00
21°C
Thứ ba, 15/09/2026 21:00
21°C
Thứ tư, 16/09/2026 00:00
21°C
Thứ tư, 16/09/2026 03:00
26°C
Thứ tư, 16/09/2026 06:00
25°C
Thứ tư, 16/09/2026 09:00
25°C
Thứ tư, 16/09/2026 12:00
22°C
Thứ tư, 16/09/2026 15:00
22°C
Thứ tư, 16/09/2026 18:00
22°C
Thứ tư, 16/09/2026 21:00
21°C
Thứ năm, 17/09/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 17/09/2026 03:00
26°C
Thứ năm, 17/09/2026 06:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 09:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 12:00
22°C
Thứ năm, 17/09/2026 15:00
23°C
Thứ năm, 17/09/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 17/09/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 18/09/2026 00:00
22°C
Thứ sáu, 18/09/2026 03:00
23°C
Thứ sáu, 18/09/2026 06:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 09:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 12:00
22°C
Thứ sáu, 18/09/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 18/09/2026 18:00
21°C
Phan Thiết

25°C

Cảm giác: 26°C
mây đen u ám
Thứ ba, 15/09/2026 00:00
26°C
Thứ ba, 15/09/2026 03:00
31°C
Thứ ba, 15/09/2026 06:00
32°C
Thứ ba, 15/09/2026 09:00
31°C
Thứ ba, 15/09/2026 12:00
27°C
Thứ ba, 15/09/2026 15:00
26°C
Thứ ba, 15/09/2026 18:00
25°C
Thứ ba, 15/09/2026 21:00
24°C
Thứ tư, 16/09/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 16/09/2026 03:00
31°C
Thứ tư, 16/09/2026 06:00
33°C
Thứ tư, 16/09/2026 09:00
29°C
Thứ tư, 16/09/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 16/09/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 16/09/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 16/09/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 17/09/2026 03:00
28°C
Thứ năm, 17/09/2026 06:00
29°C
Thứ năm, 17/09/2026 09:00
28°C
Thứ năm, 17/09/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 03:00
29°C
Thứ sáu, 18/09/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 18/09/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 18/09/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 18/09/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 18:00
25°C
Quảng Bình

20°C

Cảm giác: 21°C
mây đen u ám
Thứ ba, 15/09/2026 00:00
21°C
Thứ ba, 15/09/2026 03:00
23°C
Thứ ba, 15/09/2026 06:00
24°C
Thứ ba, 15/09/2026 09:00
23°C
Thứ ba, 15/09/2026 12:00
21°C
Thứ ba, 15/09/2026 15:00
21°C
Thứ ba, 15/09/2026 18:00
21°C
Thứ ba, 15/09/2026 21:00
21°C
Thứ tư, 16/09/2026 00:00
22°C
Thứ tư, 16/09/2026 03:00
26°C
Thứ tư, 16/09/2026 06:00
25°C
Thứ tư, 16/09/2026 09:00
24°C
Thứ tư, 16/09/2026 12:00
22°C
Thứ tư, 16/09/2026 15:00
21°C
Thứ tư, 16/09/2026 18:00
21°C
Thứ tư, 16/09/2026 21:00
21°C
Thứ năm, 17/09/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 17/09/2026 03:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 06:00
25°C
Thứ năm, 17/09/2026 09:00
23°C
Thứ năm, 17/09/2026 12:00
22°C
Thứ năm, 17/09/2026 15:00
21°C
Thứ năm, 17/09/2026 18:00
21°C
Thứ năm, 17/09/2026 21:00
20°C
Thứ sáu, 18/09/2026 00:00
22°C
Thứ sáu, 18/09/2026 03:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 06:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 09:00
25°C
Thứ sáu, 18/09/2026 12:00
22°C
Thứ sáu, 18/09/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 18/09/2026 18:00
21°C
Thừa Thiên Huế

26°C

Cảm giác: 27°C
mây đen u ám
Thứ ba, 15/09/2026 00:00
23°C
Thứ ba, 15/09/2026 03:00
29°C
Thứ ba, 15/09/2026 06:00
30°C
Thứ ba, 15/09/2026 09:00
24°C
Thứ ba, 15/09/2026 12:00
23°C
Thứ ba, 15/09/2026 15:00
23°C
Thứ ba, 15/09/2026 18:00
22°C
Thứ ba, 15/09/2026 21:00
22°C
Thứ tư, 16/09/2026 00:00
24°C
Thứ tư, 16/09/2026 03:00
30°C
Thứ tư, 16/09/2026 06:00
29°C
Thứ tư, 16/09/2026 09:00
26°C
Thứ tư, 16/09/2026 12:00
24°C
Thứ tư, 16/09/2026 15:00
23°C
Thứ tư, 16/09/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 16/09/2026 21:00
22°C
Thứ năm, 17/09/2026 00:00
24°C
Thứ năm, 17/09/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 17/09/2026 06:00
29°C
Thứ năm, 17/09/2026 09:00
27°C
Thứ năm, 17/09/2026 12:00
24°C
Thứ năm, 17/09/2026 15:00
23°C
Thứ năm, 17/09/2026 18:00
22°C
Thứ năm, 17/09/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 18/09/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 18/09/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 18/09/2026 06:00
29°C
Thứ sáu, 18/09/2026 09:00
27°C
Thứ sáu, 18/09/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 18/09/2026 15:00
23°C
Thứ sáu, 18/09/2026 18:00
23°C
Hà Giang

24°C

Cảm giác: 24°C
mây đen u ám
Thứ ba, 15/09/2026 00:00
23°C
Thứ ba, 15/09/2026 03:00
26°C
Thứ ba, 15/09/2026 06:00
29°C
Thứ ba, 15/09/2026 09:00
25°C
Thứ ba, 15/09/2026 12:00
23°C
Thứ ba, 15/09/2026 15:00
23°C
Thứ ba, 15/09/2026 18:00
23°C
Thứ ba, 15/09/2026 21:00
23°C
Thứ tư, 16/09/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 16/09/2026 03:00
24°C
Thứ tư, 16/09/2026 06:00
25°C
Thứ tư, 16/09/2026 09:00
28°C
Thứ tư, 16/09/2026 12:00
23°C
Thứ tư, 16/09/2026 15:00
23°C
Thứ tư, 16/09/2026 18:00
22°C
Thứ tư, 16/09/2026 21:00
23°C
Thứ năm, 17/09/2026 00:00
23°C
Thứ năm, 17/09/2026 03:00
24°C
Thứ năm, 17/09/2026 06:00
29°C
Thứ năm, 17/09/2026 09:00
28°C
Thứ năm, 17/09/2026 12:00
24°C
Thứ năm, 17/09/2026 15:00
23°C
Thứ năm, 17/09/2026 18:00
22°C
Thứ năm, 17/09/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 18/09/2026 00:00
23°C
Thứ sáu, 18/09/2026 03:00
26°C
Thứ sáu, 18/09/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 18/09/2026 09:00
28°C
Thứ sáu, 18/09/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 18/09/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 18/09/2026 18:00
23°C

Giá vàngTỷ giá

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
Cập nhật: 14/09/2026 03:45
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
Cập nhật: 14/09/2026 03:45
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 14/09/2026 03:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Cập nhật: 14/09/2026 03:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Cập nhật: 14/09/2026 03:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Cập nhật: 14/09/2026 03:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 14/09/2026 03:45