Sản lượng smartphone Trung Quốc có thể giảm tới 34%

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Smartphone Trung Quốc được dự báo giảm sản lượng khoảng 15% đến 34% trong năm 2026, đây cũng là nhóm chịu tác động mạnh nhất, do chi phí linh kiện leo thang và sức mua của người tiêu dùng suy yếu kéo cả thị trường toàn cầu đi xuống.
Cận cảnh HONOR Robot Phone, chiếc smartphone hot nhất tuần qua Top 5 điện thoại vừa túi tiền cho sinh viên mùa tựu trường 2026 Xiaomi tăng trưởng mạnh trên toàn cầu, Top 2 thị trường smartphone tại Việt Nam

Những số liệu trên được Counterpoint Research công bố trong báo cáo Smartphone Market Outlook Tracker mới nhất ngày 22/8/2026. Báo cáo dự báo thị trường smartphone toàn cầu giảm 14,3%, xuống còn 1,07 tỷ máy, trong khi các nhà sản xuất Trung Quốc chịu tác động mạnh hơn do phụ thuộc nhiều vào nhóm khách hàng coi trọng giá bán, tập trung vào phân khúc tầm trung và hoạt động mạnh tại các thị trường đang phát triển.

HONOR 600 Series tăng trưởng 145% doanh thu chỉ sau 1 tuần mở bán
HONOR 600 Series tăng trưởng 145% doanh thu chỉ sau 1 tuần mở bán

Diễn biến thị phần cũng phản ánh sự thay đổi này khi sáu hãng smartphone lớn nhất Trung Quốc (Sáu hãng smartphone Trung Quốc lớn nhất gồm HONOR, Huawei, Tập đoàn OPPO (bao gồm OPPO, OnePlus, realme), Tập đoàn Transsion (bao gồm TECNO, Infinix, itel), vivo và Xiaomi) từng chiếm tổng cộng 52,6% thị trường năm 2024 và 50,3% năm 2025, trước khi giảm xuống 45,4% năm 2026 và 44,4% năm 2027.

Nguyên nhân khiến các hãng Trung Quốc chịu tác động mạnh nằm ở cơ cấu sản phẩm. Phần lớn smartphone của nhóm này thuộc phân khúc giá thấp và tầm trung, nơi linh kiện chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi phí sản xuất, khiến nhà sản xuất khó hấp thụ thêm chi phí khi giá đầu vào tăng. Khi nguồn cung bộ nhớ di động trở nên khan hiếm và giá chipset đồng loạt tăng, các mẫu smartphone giá rẻ chịu sức ép lớn nhất, trong khi đây lại là nhóm sản phẩm đóng góp phần lớn doanh số cho nhiều thương hiệu Trung Quốc.

Dự báo sản lượng smartphone toàn cầu giảm 14% năm 2026, ảnh hưởng mạnh tới hãng Trung Quốc.
Dự báo sản lượng smartphone toàn cầu giảm 14% năm 2026, ảnh hưởng mạnh tới hãng Trung Quốc. Nguồn: Counterpoint Research

Mức giảm giữa các hãng có sự khác biệt tùy theo cơ cấu sản phẩm và mức độ phụ thuộc vào các thị trường có thu nhập thấp. Chi phí bộ nhớ và chipset tăng, sức mua của người tiêu dùng suy yếu cùng biên lợi nhuận giảm ở phân khúc giá rẻ đang tạo sức ép lên toàn ngành. Để ứng phó, các hãng có thể giảm dung lượng bộ nhớ, tiếp tục sử dụng những nền tảng phần cứng cũ, điều chỉnh giá bán hoặc ngừng sản xuất những mẫu máy không còn đáp ứng mục tiêu lợi nhuận.

Qua khảo sát ngành, Counterpoint cho rằng các hãng smartphone lớn của Trung Quốc sẽ ưu tiên kiểm soát chi phí, tập trung vào những sản phẩm chủ lực và các thị trường quan trọng thay vì cố giữ thị phần bằng mọi giá. Áp lực lên sản lượng có thể kéo dài sang năm 2027, khi một số hãng có khả năng trở lại mức tăng trưởng khiêm tốn, trong khi những hãng khác tiếp tục giảm sản lượng do lượng hàng tồn kho, quá trình điều chỉnh danh mục sản phẩm và sức mua yếu. Counterpoint vẫn xem xu hướng các doanh nghiệp giảm số lượng sản phẩm và tập trung nguồn lực là kịch bản có khả năng xảy ra trong giai đoạn thị trường suy giảm.

Thị phần smartphone Trung Quốc, Samsung và Apple trên thị trường toàn cầu giai đoạn 2024-2027.
* Sáu hãng smartphone Trung Quốc lớn nhất gồm HONOR, Huawei, Tập đoàn OPPO (bao gồm OPPO, OnePlus, realme), Tập đoàn Transsion (bao gồm TECNO, Infinix, itel), vivo và Xiaomi.
Thị phần smartphone Trung Quốc, Samsung và Apple trên thị trường toàn cầu giai đoạn 2024-2027. Nguồn: Counterpoint Research

Huawei là trường hợp khác biệt giữa các hãng smartphone Trung Quốc đang suy giảm. Số lượng máy xuất xưởng của hãng được dự báo tăng khoảng 8% trong năm 2026 và thêm 4,3% trong năm 2027, nhờ nhu cầu tại Trung Quốc duy trì ở mức cao, nguồn cung linh kiện trong nước được cải thiện và dòng vi xử lý HiSilicon tiếp tục được phát triển. Về dài hạn, khả năng tăng trưởng của Huawei có thể phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn cung linh kiện và năng lực sản xuất, trong khi khả năng phục hồi tại các thị trường ngoài Trung Quốc vẫn diễn ra có chọn lọc.

HUAWEI Pura X View mỏng 6,68 mm, pin 7.000 mAh có gì đặc biệt?
HUAWEI Pura X View mỏng 6,68 mm, pin 7.000 mAh có gì đặc biệt?

Sự khác biệt giữa Huawei và các hãng smartphone Trung Quốc còn lại cho thấy khả năng chủ động nguồn linh kiện ngày càng có vai trò quan trọng khi chi phí đầu vào tăng cao. Hãng nào kiểm soát tốt nguồn chip và bộ nhớ có nhiều khả năng duy trì sản lượng, trong khi những hãng phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài phải thu hẹp danh mục sản phẩm và chấp nhận mất thị phần.

Đà giảm của các hãng Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh thị trường smartphone toàn cầu cũng bước vào chu kỳ suy giảm. Sau khi tăng nhẹ trong hai năm 2024 và 2025, lần lượt đạt 1,21 tỷ máy và 1,25 tỷ máy, tương ứng mức tăng 4% và 3%, sản lượng smartphone toàn cầu được dự báo giảm 14% xuống 1,07 tỷ máy trong năm 2026, sau đó tiếp tục giảm 1% xuống 1,06 tỷ máy vào năm 2027.

Động lực kéo thị trường đi xuống lần này chủ yếu bắt nguồn từ phía nguồn cung và chi phí, thay vì chỉ do nhu cầu tiêu dùng yếu đi trong ngắn hạn. Nhu cầu cũng phân hóa rõ giữa các phân khúc khi nhóm smartphone cao cấp vẫn giữ được sức mua, còn các mẫu phổ thông chịu phần lớn mức giảm. Lượng hàng tồn tại các kênh phân phối tăng trong nửa đầu năm 2026, và khi lượng hàng được tích trữ trước đợt tăng chi phí dần được tiêu thụ, giá linh kiện cao, hàng tồn cũ và sức mua yếu có thể tiếp tục kéo sản lượng xuất xưởng và đơn đặt hàng sản xuất giảm mạnh trong nửa cuối năm.

Ông Yang Wang, chuyên gia phân tích trưởng của Counterpoint, nhìn nhận rằng mức giảm của năm 2026 phản ánh nhiều hơn một đợt suy yếu nhu cầu tạm thời. Theo ông, chi phí linh kiện tăng đang buộc nhà sản xuất loại bỏ những sản phẩm và cấu hình không còn khả thi về mặt kinh tế, nhất là ở phân khúc giá thấp. Ông cho rằng dù khả năng nhìn thấu nguồn cung có thể cải thiện trong năm 2027, sức mua sẽ hồi phục chậm hơn vì lượng hàng tồn giá cao phải tiêu thụ hết trong kênh trước đã.

Galaxy Z Flip8: thay đổi ít, trải nghiệm nhiều
Galaxy Z Flip8: thay đổi ít, trải nghiệm nhiều

Samsung được dự báo trở lại vị trí dẫn đầu thị trường smartphone toàn cầu trong năm 2026, khi sản lượng tăng khoảng 0,8%, đưa thị phần từ 19,2% năm 2025 lên 22,6% năm 2026 và 23% năm 2027. Samsung duy trì sức cạnh tranh nhờ mạng lưới hoạt động rộng, chuỗi cung ứng quy mô lớn, khả năng tự sản xuất nhiều linh kiện và quan hệ lâu năm với các nhà mạng cùng hệ thống bán lẻ, qua đó giúp hãng chủ động nguồn hàng và linh hoạt phân bổ sản phẩm giữa các thị trường. Phần thị phần các hãng Trung Quốc để mất đang chuyển sang Samsung và Apple.

Apple vẫn giữ được vị thế tương đối ổn định, dù triển vọng tăng trưởng kém hơn Samsung. Sản lượng iPhone được dự báo giảm khoảng 2,1% trong năm 2026 trước khi tăng trở lại 2,8% vào năm 2027, trong khi thị phần của Apple tiếp tục tăng từ 19,7% năm 2025 lên 22,5% năm 2026 và 23,5% năm 2027. Hãng duy trì lợi thế nhờ định vị ở phân khúc cao cấp, lượng khách hàng trung thành, các chương trình trả góp và khả năng tiếp cận sớm với những linh kiện quan trọng, trong đó nhu cầu đối với dòng iPhone 17 vẫn ở mức cao. Apple cũng được dự báo ra mắt mẫu iPhone gập đầu tiên trong quý III/2026 với sản lượng vài triệu máy, chưa đủ để thay đổi xu hướng chung nhưng có thể tạo nền tảng để hãng mở rộng danh mục sản phẩm trong những năm tiếp theo.

Xiaomi tăng trưởng mạnh trên toàn cầu, Top 2 thị trường smartphone tại Việt Nam
Xiaomi tăng trưởng mạnh trên toàn cầu, Top 2 thị trường smartphone tại Việt Nam

Cộng lại, Samsung và Apple tăng thị phần từ 38,9% năm 2025 lên 45,1% năm 2026, cho thấy áp lực chi phí đang tạo lợi thế cho các hãng có khả năng chủ động nguồn linh kiện và tập trung ở phân khúc cao cấp.

Thị trường được dự báo phục hồi rõ hơn từ năm 2028, khi lượng smartphone xuất xưởng toàn cầu tăng khoảng 4,8% lên 1,11 tỷ máy nhờ nguồn cung linh kiện cải thiện, giá bán lẻ dần ổn định và nhu cầu mua sắm bị trì hoãn trong giai đoạn 2026-2027 quay trở lại. Dù vậy, mức 1,11 tỷ máy của năm 2028 vẫn thấp hơn đỉnh 1,25 tỷ máy của năm 2025, cho thấy thị trường cần thêm thời gian để trở lại quy mô trước đây.

Smartphone gập và các tính năng trí tuệ nhân tạo xử lý trực tiếp trên thiết bị có thể tạo khác biệt giữa các sản phẩm và thúc đẩy xu hướng chuyển lên phân khúc cao cấp, nhưng chưa đủ sức tạo ra một chu kỳ tăng trưởng mạnh trên toàn thị trường. Đến khoảng năm 2030, khi thiết bị hỗ trợ 6G được thương mại hóa, thị trường có thể hình thành thêm một chu kỳ nâng cấp mới.

Với người tiêu dùng trong nước, hệ quả trực tiếp dễ nhận thấy nhất là giá bán các dòng máy phổ thông và tầm trung có xu hướng nhích lên, kèm theo khả năng nhà sản xuất cắt giảm cấu hình bộ nhớ hoặc quay lại dùng nền tảng chip đời cũ để giữ giá.

Nhóm khách hàng mua smartphone giá rẻ, hiện chiếm tỷ trọng lớn tại Việt Nam, có thể chịu tác động rõ hơn do đây cũng là phân khúc các hãng Trung Quốc đang giảm sản phẩm mạnh. Người mua ở phân khúc cao cấp ít bị ảnh hưởng hơn, nhưng cũng khó tránh khỏi mặt bằng giá mới nếu iPhone 18 và các dòng đầu bảng khác được định giá cao hơn như dự báo.

Có thể bạn quan tâm

Nhận định chứng khoán 08/10: VN-Index kiểm định vùng 1.740-1.765 điểm

Nhận định chứng khoán 08/10: VN-Index kiểm định vùng 1.740-1.765 điểm

Thị trường
Phiên 08/10, VN-Index có thể tiếp tục giằng co trong vùng 1.740-1.765 điểm; thanh khoản, khối ngoại và nhóm vốn hóa lớn sẽ quyết định nhịp đi tiếp.
Chứng khoán 07/10: VN-Index giảm 5,69 điểm, dòng tiền phân hóa

Chứng khoán 07/10: VN-Index giảm 5,69 điểm, dòng tiền phân hóa

Thị trường
VN-Index giảm 5,69 điểm trong phiên 07/10, thanh khoản hạ nhiệt và khối ngoại bán ròng mạnh, trong khi dòng tiền tiếp tục phân hóa theo nhóm ngành.
Vàng Nga đổ vào Hồng Kông, dòng chảy vàng toàn cầu đổi hướng

Vàng Nga đổ vào Hồng Kông, dòng chảy vàng toàn cầu đổi hướng

Thị trường
Hồng Kông nhập 112,7 tấn vàng có nguồn gốc từ Nga trong 7 tháng đầu năm 2026, vượt cả năm 2025, cho thấy các lệnh trừng phạt phương Tây đang định hình lại tuyến thương mại vàng toàn cầu.
World Bank nâng dự báo Việt Nam lên 7,4% nhờ xuất khẩu AI

World Bank nâng dự báo Việt Nam lên 7,4% nhờ xuất khẩu AI

Kinh tế số
World Bank nâng tăng trưởng Đông Á - Thái Bình Dương năm 2026 lên 4,5%, trong đó Việt Nam đạt 7,4%. Tuy nhiên, phụ thuộc lớn vào xuất khẩu hàng hóa phục vụ AI có thể khiến khu vực dễ tổn thương nếu đầu tư công nghệ toàn cầu đảo chiều.
Nhận định chứng khoán 07/10: VN-Index thử thách vùng 1.770 điểm

Nhận định chứng khoán 07/10: VN-Index thử thách vùng 1.770 điểm

Thị trường
Sau phiên đảo chiều tăng 5,88 điểm, VN-Index có thể tiếp tục hồi phục trong ngày 07/10, nhưng vùng 1.770 - 1.780 điểm sẽ là thử thách quan trọng.
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Nghệ An
Phan Thiết
Quảng Bình
Thừa Thiên Huế
Hà Giang
Hải Phòng
Khánh Hòa
Hà Nội

25°C

Cảm giác: 26°C
mưa nhẹ
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
29°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
32°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
31°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
27°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
24°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
24°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
30°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
32°C
Thứ hai, 12/10/2026 09:00
31°C
Thứ hai, 12/10/2026 12:00
28°C
Thứ hai, 12/10/2026 15:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 18:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 21:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
30°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
33°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
33°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
28°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
30°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
33°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
30°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
24°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
24°C
TP Hồ Chí Minh

25°C

Cảm giác: 26°C
mây đen u ám
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
30°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
31°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
27°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
30°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
32°C
Thứ hai, 12/10/2026 09:00
31°C
Thứ hai, 12/10/2026 12:00
27°C
Thứ hai, 12/10/2026 15:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 18:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 21:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
30°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
31°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
29°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
24°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
29°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
30°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
30°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
24°C
Đà Nẵng

26°C

Cảm giác: 27°C
mưa nhẹ
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
27°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
27°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
28°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
29°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
27°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
27°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
27°C
Thứ hai, 12/10/2026 09:00
27°C
Thứ hai, 12/10/2026 12:00
27°C
Thứ hai, 12/10/2026 15:00
27°C
Thứ hai, 12/10/2026 18:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 21:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
28°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
28°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
27°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
28°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
28°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
27°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
24°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
24°C
Nghệ An

21°C

Cảm giác: 22°C
mưa cường độ nặng
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
21°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
28°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
22°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
20°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
20°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
19°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
21°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
27°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
29°C
Thứ hai, 12/10/2026 09:00
28°C
Thứ hai, 12/10/2026 12:00
22°C
Thứ hai, 12/10/2026 15:00
21°C
Thứ hai, 12/10/2026 18:00
21°C
Thứ hai, 12/10/2026 21:00
21°C
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
28°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
28°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
21°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
21°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
20°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
21°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
28°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
30°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
28°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
22°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
21°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
21°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
20°C
Phan Thiết

25°C

Cảm giác: 26°C
mây cụm
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
28°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
30°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
29°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
27°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
24°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
29°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
30°C
Thứ hai, 12/10/2026 09:00
29°C
Thứ hai, 12/10/2026 12:00
27°C
Thứ hai, 12/10/2026 15:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 18:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 21:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
29°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
30°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
29°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
29°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
29°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
29°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
25°C
Quảng Bình

21°C

Cảm giác: 22°C
mưa cường độ nặng
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
21°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
24°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
24°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
21°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
21°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
20°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
20°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
21°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 09:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 12:00
22°C
Thứ hai, 12/10/2026 15:00
21°C
Thứ hai, 12/10/2026 18:00
21°C
Thứ hai, 12/10/2026 21:00
21°C
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
27°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
21°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
20°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
20°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
22°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
27°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
21°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
20°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
20°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
19°C
Thừa Thiên Huế

25°C

Cảm giác: 26°C
mưa vừa
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
28°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
28°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
22°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
21°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
22°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
23°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
27°C
Thứ hai, 12/10/2026 09:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 12:00
23°C
Thứ hai, 12/10/2026 15:00
22°C
Thứ hai, 12/10/2026 18:00
22°C
Thứ hai, 12/10/2026 21:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
23°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
29°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
29°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
27°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
23°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
21°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
29°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
30°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
27°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
22°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
21°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
20°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
20°C
Hà Giang

20°C

Cảm giác: 20°C
bầu trời quang đãng
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
27°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
28°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
30°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
24°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
22°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
22°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
21°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
22°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
29°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
32°C
Thứ hai, 12/10/2026 09:00
29°C
Thứ hai, 12/10/2026 12:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 15:00
23°C
Thứ hai, 12/10/2026 18:00
22°C
Thứ hai, 12/10/2026 21:00
21°C
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
22°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
30°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
32°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
28°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
24°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
23°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
23°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
23°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
24°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
30°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
32°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
29°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
24°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
24°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
24°C
Hải Phòng

24°C

Cảm giác: 25°C
mây đen u ám
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
29°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
31°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
29°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
24°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
24°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
23°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
29°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
31°C
Thứ hai, 12/10/2026 09:00
29°C
Thứ hai, 12/10/2026 12:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 15:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 18:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 21:00
24°C
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
30°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
32°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
29°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
24°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
30°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
32°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
30°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
24°C
Khánh Hòa

25°C

Cảm giác: 26°C
mây đen u ám
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
28°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
33°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
31°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
28°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
24°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
24°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
23°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
23°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
33°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
34°C
Thứ hai, 12/10/2026 09:00
28°C
Thứ hai, 12/10/2026 12:00
24°C
Thứ hai, 12/10/2026 15:00
24°C
Thứ hai, 12/10/2026 18:00
23°C
Thứ hai, 12/10/2026 21:00
23°C
Thứ ba, 13/10/2026 00:00
25°C
Thứ ba, 13/10/2026 03:00
31°C
Thứ ba, 13/10/2026 06:00
28°C
Thứ ba, 13/10/2026 09:00
26°C
Thứ ba, 13/10/2026 12:00
24°C
Thứ ba, 13/10/2026 15:00
24°C
Thứ ba, 13/10/2026 18:00
23°C
Thứ ba, 13/10/2026 21:00
22°C
Thứ tư, 14/10/2026 00:00
25°C
Thứ tư, 14/10/2026 03:00
33°C
Thứ tư, 14/10/2026 06:00
29°C
Thứ tư, 14/10/2026 09:00
27°C
Thứ tư, 14/10/2026 12:00
24°C
Thứ tư, 14/10/2026 15:00
24°C
Thứ tư, 14/10/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 14/10/2026 21:00
23°C

Giá vàngTỷ giá

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 144,300
Hà Nội - PNJ 141,300 144,300
Đà Nẵng - PNJ 141,300 144,300
Miền Tây - PNJ 141,300 144,300
Tây Nguyên - PNJ 141,300 144,300
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 144,300
Cập nhật: 10/10/2026 05:45
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 14,480
Miếng SJC Nghệ An 14,180 14,480
Miếng SJC Thái Bình 14,180 14,480
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 14,430
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,710 14,310
Trang sức 99.99 13,720 14,320
Cập nhật: 10/10/2026 05:45
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 14,482
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 14,483
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 1,444
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 1,433
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 141,881
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 107,636
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 97,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 87,572
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 83,702
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 59,912
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Cập nhật: 10/10/2026 05:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17514 17787 18369
CAD 17643 17917 18540
CHF 30492 30868 31516
CNY 0 3824 3921
EUR 28373 28590 29678
GBP 33421 33809 34748
HKD 0 3166 3370
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14202 14793
SGD 19667 19949 20532
THB 687 750 804
USD (1,2) 25615 0 0
USD (5,10,20) 25653 0 0
USD (50,100) 25681 25695 26070
Cập nhật: 10/10/2026 05:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,680 25,680 26,060
USD(1-2-5) 24,653 - -
USD(10-20) 24,653 - -
EUR 28,478 28,501 29,853
JPY 158.92 159.21 168.83
GBP 33,636 33,727 34,902
AUD 17,723 17,787 18,463
CAD 17,847 17,904 18,564
CHF 30,771 30,867 31,774
SGD 19,792 19,854 20,633
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,229 3,239 3,375
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 735.57 744.65 797.37
NZD 14,203 14,335 14,761
SEK - 2,554 2,647
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,656 2,750
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,913.29 - 6,676.54
TWD 731.04 - 885.19
SAR - 6,772.25 7,134.18
KWD - 81,689 86,930
AED - 6,788 7,314
Cập nhật: 10/10/2026 05:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,453 28,596 29,820
GBP 33,629 33,798 34,828
HKD 3,227 3,243 3,360
CHF 30,600 30,754 31,700
JPY 159.18 160.30 168.28
AUD 17,715 17,804 18,401
SGD 19,848 19,948 20,542
THB 751 755 793
CAD 17,851 17,941 18,537
NZD 14,277 14,832
KRW 18.61 20.59
Cập nhật: 10/10/2026 05:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25680 25680 26080
AUD 17705 17805 18730
CAD 17830 17930 18944
CHF 30737 30767 32345
CNY 3806.8 3831.8 3967
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28564 28594 30317
GBP 33747 33797 35555
HKD 0 3315 0
JPY 159.95 160.45 170.98
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14318 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19836 19966 20687
THB 0 716.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Cập nhật: 10/10/2026 05:45