43 nhà mạng trên toàn cầu đầu tư 5G RedCap

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Báo cáo tháng 9/2026 của GSA cho thấy 43 nhà mạng tại 28 quốc gia đang đầu tư vào 5G RedCap, công nghệ được triển khai trên mạng 5G độc lập (5G SA). RedCap được kỳ vọng giúp giảm giá thiết bị 5G và mở rộng kết nối thế hệ mới đến cảm biến công nghiệp, camera an ninh, đồng hồ thông minh và điện thoại bàn.
Đà Nẵng dẫn đầu ASEAN về tốc độ Internet di động Trung Quốc đặt bốn định hướng cho viễn thông thời AI Đầu tư viễn thông toàn cầu tăng trở lại

14 nhà mạng đã khai trương dịch vụ 5G RedCap

Khi đánh giá toàn cảnh 5G RedCap vào tháng 9/2026, Hiệp hội Các nhà cung cấp thiết bị di động toàn cầu (GSA) xác định 43 nhà mạng tại 28 quốc gia đang đầu tư vào công nghệ, tính ở mọi giai đoạn cam kết từ thử nghiệm, lên kế hoạch, đang triển khai cho tới đã khai trương dịch vụ thương mại (Số liệu được cập nhật đến ngày 7/9/2026).

Mười bốn nhà mạng đã khai trương dịch vụ 5G RedCap và 13 quốc gia, vùng lãnh thổ có nhà mạng đang thử nghiệm. Đồ họa dựng từ số liệu GSA đến ngày 7/9/2026.
14 nhà mạng đã khai trương dịch vụ 5G RedCap và 13 quốc gia, vùng lãnh thổ có nhà mạng đang thử nghiệm. Đồ họa dựng từ số liệu GSA đến ngày 7/9/2026.

Trong số đó, mười bốn nhà mạng đã đưa dịch vụ 5G RedCap ra thị trường, gồm Optus tại Australia, Telefonica và Deutsche Telekom tại Đức, SoftBank tại Nhật Bản, stc tại Kuwait, Dito tại Philippines, M1 tại Singapore, MasOrange tại Tây Ban Nha, Etisalat (e&) tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, T-Mobile và AT&T tại Hoa Kỳ cùng ba nhà mạng lớn của Trung Quốc là China Unicom, China Telecom và China Mobile.

Cùng với nhóm nhà mạng đã đầu tư, các nhà mạng tại 13 quốc gia và vùng lãnh thổ gồm Bahrain, Czech, Phần Lan, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Oman, Saudi Arabia, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Anh đang thử nghiệm tính khả thi của 5G RedCap trên hạ tầng 5G đang vận hành. Tại Đông Nam Á, Philippines và Singapore đã có dịch vụ 5G RedCap thương mại, còn Indonesia, Malaysia và Thái Lan vẫn trong giai đoạn thử nghiệm và Việt Nam chưa có tên trong danh sách GSA công bố.

GSA nhận định 5G RedCap đang bước vào giai đoạn thương mại hóa ban đầu khi ngày càng nhiều nhà mạng khai trương dịch vụ, song hơn một nửa số nhà mạng đầu tư vẫn mới dừng ở bước thử nghiệm. Phần lớn các dự án này được kỳ vọng chuyển sang cung cấp dịch vụ thương mại trong vài năm tới, trong khi hai nhà mạng khác đang hoàn tất công tác chuẩn bị và dự kiến sớm khai trương.

Mạng 5G độc lập là nền tảng để triển khai 5G RedCap

Muốn triển khai 5G RedCap, nhà mạng phải có mạng 5G độc lập (5G Standalone). Vì vậy, GSA xem mức độ phát triển của 5G độc lập trên thế giới là một chỉ dấu về khả năng triển khai 5G RedCap. Tính đến tháng 9/2026, GSA ghi nhận 189 nhà mạng tại 74 quốc gia và vùng lãnh thổ đang đầu tư vào mạng 5G độc lập, tương đương 28% số nhà mạng được biết đến đang đầu tư vào giấy phép, thử nghiệm hoặc triển khai 5G dưới các hình thức khác nhau. Đặt cạnh con số 43 nhà mạng đầu tư vào RedCap, có thể thấy khoảng 23% số nhà mạng đang đầu tư 5G độc lập đã chuyển sang nghiên cứu hoặc triển khai công nghệ này.

Số liệu theo quý của GSA cho thấy số nhà mạng đầu tư 5G độc lập tăng đều trong gần bốn năm. Quý I/2023 mới có 76 nhà mạng, con số này tăng lên 96 vào cuối năm 2023, đạt 125 vào cuối năm 2024 và 165 vào cuối năm 2025. Đến quý II/2026, số nhà mạng tăng lên 181 và đạt 189 vào quý III/2026. Qua 15 quý được thống kê, thị trường có thêm 113 nhà mạng đầu tư 5G độc lập, đưa tổng số lên gần 2,5 lần mức đầu kỳ. Chỉ trong một năm từ quý III/2025, khi có 151 nhà mạng, con số này tăng thêm 38, tương đương khoảng 25%.

Số nhà mạng đầu tư mạng 5G độc lập trên thế giới tăng từ 76 ở quý I/2023 lên 189 ở quý III/2026, tạo nền cho việc triển khai 5G RedCap. Đồ họa dựng từ số liệu GSA đến ngày 7/9/2026.
Số nhà mạng đầu tư mạng 5G độc lập trên thế giới tăng từ 76 ở quý I/2023 lên 189 ở quý III/2026, tạo nền cho việc triển khai 5G RedCap. Đồ họa dựng từ số liệu GSA đến ngày 7/9/2026.

5G RedCap, viết tắt của 5G Reduced Capability hay 5G rút gọn tính năng, được giới thiệu trong bộ tiêu chuẩn 3GPP Release 17 nhằm giảm chi phí thiết bị 5G cho các thiết bị có yêu cầu vừa phải về tốc độ và mức tiêu thụ điện năng nhưng vẫn cần kết nối 5G. Theo GSA, RedCap nằm giữa ba nhóm ứng dụng 5G phổ biến gồm băng rộng di động nâng cao (eMBB), truyền thông siêu tin cậy với độ trễ thấp (URLLC) và truyền thông máy quy mô lớn (mMTC), vốn ưu tiên khả năng kết nối nhiều thiết bị với mức tiêu thụ điện năng thấp. Công nghệ này được thiết kế để giúp các thiết bị đang sử dụng LTE Cat-4 chuyển sang 5G với chi phí hợp lý.

Năm 2024, 3GPP tiếp tục đưa ra phiên bản nâng cao mang tên 5G eRedCap trong Release 18, nhằm giảm thêm độ phức tạp và giá thành thiết bị. 5G eRedCap có tốc độ dữ liệu đỉnh thấp hơn, ở mức 10 Mbps cho cả chiều tải xuống lẫn tải lên, tương đương những ứng dụng đang dùng LTE Cat-1 và LTE Cat-1 bis, qua đó dung hòa giữa hiệu năng và giá thành để hệ sinh thái thiết bị 5G có thêm chỗ mở rộng.

5G RedCap mở rộng 5G từ smartphone sang thiết bị phổ thông

GSA cho rằng 5G RedCap phù hợp với những ứng dụng không cần tốc độ cao nhất hoặc độ trễ thấp nhất nhưng vẫn yêu cầu hiệu năng tốt. Trong công nghiệp, 5G RedCap và 5G eRedCap có thể kết nối mạng lưới cảm biến không dây để giám sát và điều khiển máy móc, giúp nhà xưởng vận hành an toàn, hiệu quả hơn. Công nghệ này cũng có thể hỗ trợ giám sát và điều khiển lưới điện thông minh, góp phần nâng cao độ tin cậy của hệ thống. Với camera an ninh, 5G RedCap cho phép truyền hình ảnh theo thời gian thực trên các băng tần dành riêng cho 5G, giúp triển khai hệ thống giám sát với chi phí thấp hơn so với các công nghệ 5G khác.

43 nhà mạng trên toàn cầu đầu tư 5G RedCap

Đối với truy cập vô tuyến cố định (FWA), 5G RedCap giúp nhà mạng có thêm phương án với chi phí thấp hơn để chuyển người dùng từ phổ tần LTE sang các băng tần dung lượng lớn chỉ dành cho 5G. Kỹ thuật cắt lát mạng cũng cho phép tách lưu lượng FWA khỏi các nhóm người dùng khác và thiết lập thông số chất lượng dịch vụ riêng.

Trong lĩnh vực thiết bị đeo, đồng hồ thông minh, vòng theo dõi sức khỏe, thiết bị y tế đeo trên người, kính thông minh cùng thiết bị thực tế tăng cường và thực tế ảo đều có thể sử dụng 5G RedCap. Những thiết bị này có nhu cầu dữ liệu thấp hơn các ứng dụng eMBB và không đòi hỏi độ trễ nghiêm ngặt như các thiết bị cần phản hồi gần như tức thời. Phần cứng đơn giản hơn và chi phí thấp hơn 5G thông thường cũng giúp máy tính xách tay, máy tính bảng giá thấp, thiết bị phát kết nối qua USB và điểm phát băng rộng di động dễ dàng tích hợp kết nối 5G.

Nhà mạng lớn nhất Singapore gia nhập nền kinh tế token Nhà mạng lớn nhất Singapore gia nhập nền kinh tế token

Hai hướng ứng dụng khác được GSA nhấn mạnh là dự phòng kết nối và thay thế đường dây đồng. Khi cáp quang, cáp truyền hình hoặc đường băng rộng cố định gặp sự cố, kết nối 5G RedCap chỉ được kích hoạt trong thời gian gián đoạn để duy trì dịch vụ thay vì xử lý lưu lượng chính. Nhờ đó, thiết bị vẫn đáp ứng nhu cầu sử dụng mà chi phí không tăng cao. Khi các mạng cáp đồng cũ dần được thay thế, 5G RedCap trở thành lựa chọn không dây với chi phí hợp lý cho điện thoại bàn tại gia đình và văn phòng. Những thiết bị chủ yếu phục vụ thoại không cần toàn bộ năng lực của 5G NR hiệu năng cao nhưng vẫn yêu cầu kết nối ổn định. GSA cũng liệt kê nhiều ứng dụng khác như máy thanh toán tại điểm bán, thiết bị giám sát phương tiện từ xa và đồng hồ đo thông minh.

Trái với tốc độ đầu tư còn chậm của các nhà mạng, nhiều hãng thiết bị đang đẩy nhanh việc hoàn thiện hệ sinh thái cho 5G RedCap. Tuy nhiên, GSA đánh giá hệ sinh thái chip và thiết bị RedCap vẫn ở giai đoạn đầu, với 9 chipset tương thích cùng một số mô đun và thiết bị đầu cuối được ghi nhận. Với 5G eRedCap, đến tháng 9/2026 chưa có thiết bị nào được thương mại hóa và cũng chưa có thông báo về thiết bị tiền thương mại, dù những sản phẩm đầu tiên được kỳ vọng xuất hiện trong năm 2026. GSA tiếp tục cập nhật danh sách thiết bị trên cơ sở dữ liệu GAMBoD và dự báo hệ sinh thái 5G RedCap cùng 5G eRedCap sẽ mở rộng trong những tháng tới.

Khan hiếm bộ nhớ khiến 5G RedCap được chú ý

Một yếu tố đang thúc đẩy đầu tư vào 5G RedCap là tình trạng thiếu hụt bộ nhớ kéo dài. Theo GSA, các dịch vụ 5G truyền thống yêu cầu thiết bị có dung lượng bộ nhớ lớn hơn, khiến chi phí phần cứng tăng. Giá bộ nhớ tiếp tục tăng càng làm chi phí thiết bị 5G cao hơn, trong khi một số sản phẩm khó đáp ứng nhu cầu thị trường. Trong bối cảnh đó, 5G RedCap được xem là một phương án khả thi nhờ yêu cầu phần cứng thấp hơn.

GSA dự báo vai trò của 5G RedCap sẽ tiếp tục mở rộng trong vài năm tới và giữ vị trí quan trọng trong phân khúc IoT 5G tầm trung nhờ khả năng cân bằng giữa hiệu năng và chi phí. Công nghệ này đặc biệt phù hợp với thiết bị di động doanh nghiệp, ứng dụng công nghiệp và những kịch bản cần băng thông vừa phải nhưng không cần toàn bộ khả năng của 5G. 5G RedCap cũng tạo ra hướng chuyển đổi từ LTE sang 5G với chi phí hợp lý, giúp thay thế các thiết bị đời cũ trong quá trình mạng LTE được tái quy hoạch và phổ tần được phân bổ lại. Trong khi đó, 5G eRedCap bổ sung cho hệ sinh thái ở phân khúc thiết bị IoT có mức tiêu thụ điện năng thấp và nhạy cảm với chi phí.

Với hệ sinh thái thiết bị ngày càng hoàn thiện và mạng 5G độc lập tiếp tục mở rộng, GSA cho rằng 5G RedCap có cơ sở để trở thành một trong những hướng tăng trưởng mới của 5G trong những năm tới. Công nghệ này cũng được kỳ vọng giữ vai trò quan trọng trong việc mở rộng 5G sang các nhóm thiết bị và ứng dụng có yêu cầu vừa phải về hiệu năng và chi phí. GSA cho biết sẽ tiếp tục theo dõi quá trình phát triển của 5G RedCap trong năm 2027.

Viettel giữ vững vai trò doanh nghiệp lớn nhất ngành Viễn thông Việt Nam
Viettel với vai trò doanh nghiệp lớn nhất ngành Viễn thông Việt Nam

Nhìn vào bản đồ triển khai 5G RedCap của GSA, việc Việt Nam chưa xuất hiện trong danh sách 28 quốc gia đầu tư vào công nghệ này khiến không ít người đặt câu hỏi về mức độ sẵn sàng của thị trường trong nước. Ba nhà mạng Viettel, VNPT và MobiFone đã thương mại hóa 5G và triển khai gần 40.000 trạm 5G trên toàn quốc. Đến tháng 8/2026, số thuê bao 5G tại Việt Nam đã đạt 27,2 triệu, tăng khoảng 94% so với cùng kỳ năm trước. Những con số này cho thấy thị trường 5G trong nước đã có quy mô đủ lớn để mở rộng sang các nhóm ứng dụng ngoài điện thoại thông minh (smartphone).

MobiFone gia nhập thị trường Internet 5G không dây FWA MobiFone gia nhập thị trường Internet 5G không dây FWA

Về hạ tầng 5G độc lập, tính đến cuối tháng 12/2025, Viettel đã triển khai hơn 30.000 trạm với trạm gốc và mạng lõi do Viettel High Tech phát triển, còn VNPT và MobiFone tiếp tục mở rộng vùng phủ, trong đó MobiFone tập trung vào các khu công nghiệp và đô thị lớn. Tuy nhiên, đến nay Viettel, VNPT và MobiFone chưa công bố thử nghiệm 5G RedCap, dù GSA đã tính cả những nhà mạng mới dừng ở bước lên kế hoạch. Như vậy, các nhà mạng Việt Nam đã có nền tảng 5G độc lập nhưng chưa cho thấy bước chuyển tương ứng sang RedCap, trong khi để đưa công nghệ này vào khai thác, họ còn phải phát triển hệ sinh thái thiết bị và xác định những ứng dụng đủ rõ để tạo dịch vụ và doanh thu mới.

Trong khu vực Đông Nam Á, Philippines và Singapore đã cung cấp dịch vụ thương mại, còn Indonesia, Malaysia và Thái Lan đang thử nghiệm. Khoảng cách này cho thấy hạ tầng 5G độc lập mới là điều kiện cần, còn việc khai thác được nguồn thu mới từ 5G đòi hỏi nhà mạng phải tìm được những ứng dụng và thiết bị phù hợp. Với các khu công nghiệp có nhu cầu kết nối cảm biến, đô thị triển khai camera giám sát hay lưới điện chuyển sang đồng hồ đo thông minh, 5G RedCap có thể mở thêm thị trường IoT cho các nhà mạng Việt Nam.

Về hệ sinh thái phần cứng, GSA thống kê 9 chipset, 34 module, 46 thiết bị CPE, 4 thiết bị đeo và 4 thiết bị công nghiệp hỗ trợ RedCap, cho thấy hệ sinh thái vẫn đang trong quá trình hình thành. Đây có thể là dư địa để các doanh nghiệp công nghệ trong nước, đã tham gia phát triển thiết bị 5G, tiếp tục nghiên cứu mô đun và thiết bị đầu cuối RedCap cho thị trường Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm

Đầu tư viễn thông toàn cầu tăng trở lại

Đầu tư viễn thông toàn cầu tăng trở lại

Viễn thông - Internet
Đầu tư viễn thông toàn cầu tăng khoảng 5% trong nửa đầu năm 2026, kéo theo doanh thu thiết bị viễn thông tăng tương ứng. Tuy nhiên, xu hướng dài hạn vẫn chưa khởi sắc do các nhà mạng chuyển trọng tâm từ mở rộng vùng phủ sang tăng dung lượng mạng.
Nhà mạng lớn nhất Singapore gia nhập nền kinh tế token

Nhà mạng lớn nhất Singapore gia nhập nền kinh tế token

Viễn thông - Internet
Singtel vừa ra mắt dịch vụ token AI đầu tiên tại Singapore, cho phép doanh nghiệp sử dụng trí tuệ nhân tạo và thanh toán theo lượng token thực tế. Sự xuất hiện của dịch vụ này diễn ra trong bối cảnh Huawei cùng nhiều nhà mạng trên thế giới đang tìm cách khai thác mô hình kinh doanh dựa trên token AI.
Bài 2: MobiFone Hải Phòng bảo đảm mạch sóng

Bài 2: MobiFone Hải Phòng bảo đảm mạch sóng

Viễn thông - Internet
Sau 5 ngày diễn ra với nhiều hoạt động trọng điểm, hạ tầng viễn thông tại Lễ hội mùa Thu Côn Sơn - Kiếp Bạc 2026 vẫn được các nhà mạng chủ động giám sát, tối ưu để đáp ứng lượng người tập trung lớn và nhu cầu sử dụng dữ liệu tăng cao.
Gần 17.000 vệ tinh hoạt động quanh Trái Đất

Gần 17.000 vệ tinh hoạt động quanh Trái Đất

Vũ trụ - Thiên văn
Trái Đất hiện có 16.819 vệ tinh hoạt động, tăng 29% so với một năm trước, trong đó mạng Starlink vận hành 11.041 vệ tinh, theo số liệu mới nhất do công ty Look Up của Pháp công bố cùng tuần báo Le Point.
Viễn thông Trung Quốc 7 tháng đầu 2026, thuê bao 5G vượt 70% nhưng doanh thu đi lùi

Viễn thông Trung Quốc 7 tháng đầu 2026, thuê bao 5G vượt 70% nhưng doanh thu đi lùi

Viễn thông - Internet
Bảy tháng đầu năm 2026, ngành viễn thông Trung Quốc ghi nhận doanh thu 1,02 nghìn tỷ nhân dân tệ (khoảng 152 tỷ USD), giảm 2,1%, trong khi thuê bao 5G đạt 1,303 tỷ, chiếm 70,5% tổng số thuê bao di động. Độ phủ 5G tăng nhanh trong khi doanh thu vẫn đi xuống, cho thấy lượng thuê bao chuyển sang công nghệ mới chưa tạo ra mức tăng tương ứng về doanh thu.
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Hải Phòng
Khánh Hòa
Nghệ An
Phan Thiết
Quảng Bình
Thừa Thiên Huế
Hà Giang
Hà Nội

31°C

Cảm giác: 30°C
bầu trời quang đãng
Thứ năm, 08/10/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 08/10/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 08/10/2026 06:00
33°C
Thứ năm, 08/10/2026 09:00
30°C
Thứ năm, 08/10/2026 12:00
27°C
Thứ năm, 08/10/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 08/10/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 08/10/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 09/10/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 09/10/2026 03:00
29°C
Thứ sáu, 09/10/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 09/10/2026 09:00
26°C
Thứ sáu, 09/10/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 09/10/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 10/10/2026 00:00
24°C
Thứ bảy, 10/10/2026 03:00
26°C
Thứ bảy, 10/10/2026 06:00
25°C
Thứ bảy, 10/10/2026 09:00
24°C
Thứ bảy, 10/10/2026 12:00
24°C
Thứ bảy, 10/10/2026 15:00
23°C
Thứ bảy, 10/10/2026 18:00
23°C
Thứ bảy, 10/10/2026 21:00
23°C
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
29°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
32°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
32°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
27°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
24°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
29°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
32°C
TP Hồ Chí Minh

34°C

Cảm giác: 41°C
mây đen u ám
Thứ năm, 08/10/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 08/10/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 08/10/2026 06:00
28°C
Thứ năm, 08/10/2026 09:00
27°C
Thứ năm, 08/10/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 08/10/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 08/10/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 08/10/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 09/10/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 03:00
27°C
Thứ sáu, 09/10/2026 06:00
28°C
Thứ sáu, 09/10/2026 09:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 18:00
24°C
Thứ sáu, 09/10/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 10/10/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 10/10/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 10/10/2026 06:00
29°C
Thứ bảy, 10/10/2026 09:00
27°C
Thứ bảy, 10/10/2026 12:00
25°C
Thứ bảy, 10/10/2026 15:00
25°C
Thứ bảy, 10/10/2026 18:00
25°C
Thứ bảy, 10/10/2026 21:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
30°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
30°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
29°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
24°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
30°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
32°C
Đà Nẵng

24°C

Cảm giác: 25°C
mưa vừa
Thứ năm, 08/10/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 08/10/2026 03:00
25°C
Thứ năm, 08/10/2026 06:00
24°C
Thứ năm, 08/10/2026 09:00
24°C
Thứ năm, 08/10/2026 12:00
24°C
Thứ năm, 08/10/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 08/10/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 08/10/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 03:00
27°C
Thứ sáu, 09/10/2026 06:00
27°C
Thứ sáu, 09/10/2026 09:00
27°C
Thứ sáu, 09/10/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 09/10/2026 15:00
26°C
Thứ sáu, 09/10/2026 18:00
26°C
Thứ sáu, 09/10/2026 21:00
26°C
Thứ bảy, 10/10/2026 00:00
26°C
Thứ bảy, 10/10/2026 03:00
27°C
Thứ bảy, 10/10/2026 06:00
27°C
Thứ bảy, 10/10/2026 09:00
27°C
Thứ bảy, 10/10/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 10/10/2026 15:00
26°C
Thứ bảy, 10/10/2026 18:00
26°C
Thứ bảy, 10/10/2026 21:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
27°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
27°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
28°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
27°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
27°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
28°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
28°C
Hải Phòng

31°C

Cảm giác: 30°C
bầu trời quang đãng
Thứ năm, 08/10/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 08/10/2026 03:00
32°C
Thứ năm, 08/10/2026 06:00
35°C
Thứ năm, 08/10/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 08/10/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 08/10/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 08/10/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 08/10/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 09/10/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 09/10/2026 03:00
28°C
Thứ sáu, 09/10/2026 06:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 09:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 09/10/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 18:00
24°C
Thứ sáu, 09/10/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 10/10/2026 00:00
24°C
Thứ bảy, 10/10/2026 03:00
25°C
Thứ bảy, 10/10/2026 06:00
25°C
Thứ bảy, 10/10/2026 09:00
24°C
Thứ bảy, 10/10/2026 12:00
23°C
Thứ bảy, 10/10/2026 15:00
23°C
Thứ bảy, 10/10/2026 18:00
22°C
Thứ bảy, 10/10/2026 21:00
22°C
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
23°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
29°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
31°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
29°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
24°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
23°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
30°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
31°C
Khánh Hòa

28°C

Cảm giác: 33°C
mưa vừa
Thứ năm, 08/10/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 08/10/2026 03:00
32°C
Thứ năm, 08/10/2026 06:00
31°C
Thứ năm, 08/10/2026 09:00
27°C
Thứ năm, 08/10/2026 12:00
24°C
Thứ năm, 08/10/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 08/10/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 08/10/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 09/10/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 09/10/2026 03:00
31°C
Thứ sáu, 09/10/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 09/10/2026 09:00
28°C
Thứ sáu, 09/10/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 09/10/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 09/10/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 09/10/2026 21:00
23°C
Thứ bảy, 10/10/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 10/10/2026 03:00
31°C
Thứ bảy, 10/10/2026 06:00
32°C
Thứ bảy, 10/10/2026 09:00
29°C
Thứ bảy, 10/10/2026 12:00
24°C
Thứ bảy, 10/10/2026 15:00
24°C
Thứ bảy, 10/10/2026 18:00
23°C
Thứ bảy, 10/10/2026 21:00
23°C
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
32°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
32°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
28°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
24°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
23°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
23°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
33°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
30°C
Nghệ An

28°C

Cảm giác: 28°C
bầu trời quang đãng
Thứ năm, 08/10/2026 00:00
19°C
Thứ năm, 08/10/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 08/10/2026 06:00
29°C
Thứ năm, 08/10/2026 09:00
27°C
Thứ năm, 08/10/2026 12:00
21°C
Thứ năm, 08/10/2026 15:00
20°C
Thứ năm, 08/10/2026 18:00
20°C
Thứ năm, 08/10/2026 21:00
20°C
Thứ sáu, 09/10/2026 00:00
20°C
Thứ sáu, 09/10/2026 03:00
23°C
Thứ sáu, 09/10/2026 06:00
21°C
Thứ sáu, 09/10/2026 09:00
20°C
Thứ sáu, 09/10/2026 12:00
20°C
Thứ sáu, 09/10/2026 15:00
20°C
Thứ sáu, 09/10/2026 18:00
20°C
Thứ sáu, 09/10/2026 21:00
20°C
Thứ bảy, 10/10/2026 00:00
21°C
Thứ bảy, 10/10/2026 03:00
21°C
Thứ bảy, 10/10/2026 06:00
21°C
Thứ bảy, 10/10/2026 09:00
21°C
Thứ bảy, 10/10/2026 12:00
20°C
Thứ bảy, 10/10/2026 15:00
20°C
Thứ bảy, 10/10/2026 18:00
20°C
Thứ bảy, 10/10/2026 21:00
19°C
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
20°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
27°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
28°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
22°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
21°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
20°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
19°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
21°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
27°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
30°C
Phan Thiết

31°C

Cảm giác: 36°C
mưa nhẹ
Thứ năm, 08/10/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 08/10/2026 03:00
28°C
Thứ năm, 08/10/2026 06:00
29°C
Thứ năm, 08/10/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 08/10/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 08/10/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 08/10/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 08/10/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 03:00
26°C
Thứ sáu, 09/10/2026 06:00
27°C
Thứ sáu, 09/10/2026 09:00
26°C
Thứ sáu, 09/10/2026 12:00
26°C
Thứ sáu, 09/10/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 21:00
25°C
Thứ bảy, 10/10/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 10/10/2026 03:00
26°C
Thứ bảy, 10/10/2026 06:00
27°C
Thứ bảy, 10/10/2026 09:00
28°C
Thứ bảy, 10/10/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 10/10/2026 15:00
26°C
Thứ bảy, 10/10/2026 18:00
25°C
Thứ bảy, 10/10/2026 21:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
29°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
30°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
29°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
25°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
26°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
29°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
30°C
Quảng Bình

25°C

Cảm giác: 25°C
mưa nhẹ
Thứ năm, 08/10/2026 00:00
19°C
Thứ năm, 08/10/2026 03:00
22°C
Thứ năm, 08/10/2026 06:00
24°C
Thứ năm, 08/10/2026 09:00
21°C
Thứ năm, 08/10/2026 12:00
21°C
Thứ năm, 08/10/2026 15:00
21°C
Thứ năm, 08/10/2026 18:00
21°C
Thứ năm, 08/10/2026 21:00
21°C
Thứ sáu, 09/10/2026 00:00
20°C
Thứ sáu, 09/10/2026 03:00
20°C
Thứ sáu, 09/10/2026 06:00
20°C
Thứ sáu, 09/10/2026 09:00
20°C
Thứ sáu, 09/10/2026 12:00
20°C
Thứ sáu, 09/10/2026 15:00
20°C
Thứ sáu, 09/10/2026 18:00
20°C
Thứ sáu, 09/10/2026 21:00
20°C
Thứ bảy, 10/10/2026 00:00
20°C
Thứ bảy, 10/10/2026 03:00
21°C
Thứ bảy, 10/10/2026 06:00
21°C
Thứ bảy, 10/10/2026 09:00
21°C
Thứ bảy, 10/10/2026 12:00
21°C
Thứ bảy, 10/10/2026 15:00
21°C
Thứ bảy, 10/10/2026 18:00
21°C
Thứ bảy, 10/10/2026 21:00
20°C
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
20°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
21°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
22°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
22°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
20°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
20°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
20°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
19°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
21°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
27°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
27°C
Thừa Thiên Huế

25°C

Cảm giác: 25°C
mây đen u ám
Thứ năm, 08/10/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 08/10/2026 03:00
22°C
Thứ năm, 08/10/2026 06:00
22°C
Thứ năm, 08/10/2026 09:00
22°C
Thứ năm, 08/10/2026 12:00
22°C
Thứ năm, 08/10/2026 15:00
22°C
Thứ năm, 08/10/2026 18:00
22°C
Thứ năm, 08/10/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 09/10/2026 00:00
23°C
Thứ sáu, 09/10/2026 03:00
27°C
Thứ sáu, 09/10/2026 06:00
26°C
Thứ sáu, 09/10/2026 09:00
25°C
Thứ sáu, 09/10/2026 12:00
23°C
Thứ sáu, 09/10/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 09/10/2026 18:00
22°C
Thứ sáu, 09/10/2026 21:00
21°C
Thứ bảy, 10/10/2026 00:00
23°C
Thứ bảy, 10/10/2026 03:00
28°C
Thứ bảy, 10/10/2026 06:00
27°C
Thứ bảy, 10/10/2026 09:00
26°C
Thứ bảy, 10/10/2026 12:00
23°C
Thứ bảy, 10/10/2026 15:00
22°C
Thứ bảy, 10/10/2026 18:00
22°C
Thứ bảy, 10/10/2026 21:00
22°C
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
23°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
29°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
27°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
26°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
23°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
23°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
22°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
22°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
23°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
27°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
27°C
Hà Giang

31°C

Cảm giác: 30°C
bầu trời quang đãng
Thứ năm, 08/10/2026 00:00
20°C
Thứ năm, 08/10/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 08/10/2026 06:00
30°C
Thứ năm, 08/10/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 08/10/2026 12:00
22°C
Thứ năm, 08/10/2026 15:00
20°C
Thứ năm, 08/10/2026 18:00
19°C
Thứ năm, 08/10/2026 21:00
19°C
Thứ sáu, 09/10/2026 00:00
20°C
Thứ sáu, 09/10/2026 03:00
28°C
Thứ sáu, 09/10/2026 06:00
31°C
Thứ sáu, 09/10/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 09/10/2026 12:00
23°C
Thứ sáu, 09/10/2026 15:00
21°C
Thứ sáu, 09/10/2026 18:00
22°C
Thứ sáu, 09/10/2026 21:00
21°C
Thứ bảy, 10/10/2026 00:00
22°C
Thứ bảy, 10/10/2026 03:00
30°C
Thứ bảy, 10/10/2026 06:00
31°C
Thứ bảy, 10/10/2026 09:00
27°C
Thứ bảy, 10/10/2026 12:00
24°C
Thứ bảy, 10/10/2026 15:00
23°C
Thứ bảy, 10/10/2026 18:00
22°C
Thứ bảy, 10/10/2026 21:00
22°C
Chủ nhật, 11/10/2026 00:00
23°C
Chủ nhật, 11/10/2026 03:00
28°C
Chủ nhật, 11/10/2026 06:00
32°C
Chủ nhật, 11/10/2026 09:00
30°C
Chủ nhật, 11/10/2026 12:00
25°C
Chủ nhật, 11/10/2026 15:00
24°C
Chủ nhật, 11/10/2026 18:00
22°C
Chủ nhật, 11/10/2026 21:00
21°C
Thứ hai, 12/10/2026 00:00
23°C
Thứ hai, 12/10/2026 03:00
29°C
Thứ hai, 12/10/2026 06:00
30°C

Giá vàngTỷ giá

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▼500K 142,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▼500K 142,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▼500K 142,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▼500K 142,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▼500K 142,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▼500K 142,500 ▼500K
Cập nhật: 07/10/2026 14:00
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
Cập nhật: 07/10/2026 14:00
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 140 ▼1265K 14,302 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 140 ▼1265K 14,303 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,395 ▲1255K 1,425 ▲1282K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,395 ▲1255K 1,426 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 ▼1238K 1,415 ▲1273K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 ▼495K 140,099 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 ▼375K 106,286 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 ▼34K 9,638 ▼34K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 ▼305K 86,474 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 ▼291K 82,653 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 ▲44404K 59,161 ▲53224K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Cập nhật: 07/10/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17850 18425
CAD 17735 18009 18626
CHF 30526 30902 31548
CNY 0 3833 3928
EUR 28557 28774 29851
GBP 33617 34005 34948
HKD 0 3180 3382
JPY 157 160 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14251 14840
SGD 19776 20057 20623
THB 687 750 803
USD (1,2) 25723 0 0
USD (5,10,20) 25762 0 0
USD (50,100) 25790 25804 26168
Cập nhật: 07/10/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,652 28,675 30,034
JPY 159.49 159.78 169.43
GBP 33,837 33,929 35,105
AUD 17,803 17,867 18,542
CAD 17,938 17,996 18,662
CHF 30,818 30,914 31,833
SGD 19,906 19,968 20,751
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.9 18.67 20.31
THB 736.59 745.69 798.42
NZD 14,274 14,407 14,840
SEK - 2,552 2,643
DKK - 3,843 3,979
NOK - 2,672 2,767
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 737.47 - 893.49
SAR - 6,804.8 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Cập nhật: 07/10/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 28,738 28,853 30,060
GBP 33,869 34,005 35,038
HKD 3,245 3,258 3,375
CHF 30,710 30,833 31,779
JPY 160.38 161.02 169
AUD 17,840 17,912 18,511
SGD 19,996 20,076 20,673
THB 754 757 794
CAD 17,969 18,041 18,640
NZD 14,361 14,917
KRW 18.73 20.71
Cập nhật: 07/10/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25765 25795 26155
AUD 17783 17883 18808
CAD 17923 18023 19037
CHF 30782 30812 32401
CNY 3814.2 3839.2 3974.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28751 28781 30506
GBP 33943 33993 35751
HKD 0 3315 0
JPY 160.55 161.05 171.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14385 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19940 20070 20792
THB 0 716.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,697 25,817 26,190
USD20 25,667 25,817 26,190
USD1 24,363 25,817 26,190
AUD 17,810 17,910 19,015
EUR 28,572 28,672 30,331
CAD 17,806 17,906 19,212
SGD 20,023 20,173 21,340
JPY 161.24 162.74 168.3
GBP 33,820 33,970 35,280
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/10/2026 14:00