Ngành công nghiệp ô tô: Vì sao lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ còn hạn chế

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Sau gần 30 năm phát triển, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam gặp nhiều khó khăn với mục tiêu cả về tham gia chuỗi cung ứng thị trường thế giới cũng như việc tăng tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm trong nước. Thực tế, có nhiều rào cản khiến ô tô "Made in Vietnam" khó có thể cạnh tranh với ô tô nhập khẩu như mức giá, chính sách thuế phí, công nghiệp hỗ trợ...

nganh cong nghiep o to vi sao linh vuc cong nghiep ho tro con han che

Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam có khoảng trên 40 doanh nghiệp hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô. Tổng công suất lắp ráp theo thiết kế khoảng 755.000 xe/năm, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 35%, doanh nghiệp trong nước chiếm khoảng 65%.

Ôtô sản xuất và lắp ráp trong nước đang vừa phải cạnh tranh với ôtô nhập khẩu nguyên chiếc, vừa cố gắng duy trì sản xuất. Hiện tại, nhiều doanh nghiệp ô tô đang không mặn mà sản xuất trong nước, thiên về nhập khẩu nguyên chiếc. Riêng trong tháng đầu năm nay, cả nước đã nhập khẩu 14.457 ô tô nguyên chiếc các loại, tổng kim ngạch 314,5 triệu USD, tăng mạnh 219% về số lượng và tăng 149% về giá trị kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo VAMA, một chiếc ô tô có khoảng 30.000 linh kiện, nhưng có đến 80% loại phục vụ cho sản xuất lắp ráp xe trong nước là nhập khẩu, số còn lại sản xuất trong nước chủ yếu vẫn là chi tiết cồng kềnh, giản đơn... Việc cạnh tranh khó khăn trong nước khiến các doanh nghiệp lại càng không mặn mà việc đầu tư để gia tăng tỷ lệ nội địa hóa.

Theo ông Đào Phan Long, Chủ tịch Hội cơ khí Việt Nam, kinh tế thế giới và Việt Nam đang có những khó khăn nhất định. Bên cạnh việc khắc phục hậu quả của dịch bệnh, kinh tế Việt Nam còn phải ứng phó với những tác động tiêu cực khác, xuất phát từ khủng hoảng kinh tế và xung đột địa chính trị toàn cầu.

Dự báo trong năm 2023, kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với rất nhiều thách thức đến từ cả yếu tố trong và ngoài nước, nếu chỉ dựa vào nguồn lực và các giải pháp kích cầu riêng lẻ của từng doanh nghiệp, sẽ là không đủ để tạo ra sự ổn định và sức bật giúp thị trường tăng trưởng trở lại, đồng đều và bền vững.

Ông Long đề xuất cần có biện pháp hỗ trợ kích cầu áp dụng riêng với ô tô sản xuất và lắp ráp trong nước. Điều này vừa tạo điều kiện hỗ trợ sản xuất trong nước, vừa giúp đỡ các doanh nghiệp trong thời gian khó khăn hiện tại, giải quyết được nhiều bài toán về an sinh xã hội. Về lâu dài, việc này sẽ hỗ trợ cho việc phát triển công nghiệp ôtô ở Việt Nam.

Lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ (CNHT) cho ngành công nghiệp ô tô còn nhiều hạn chế

Bên cạnh đó, lĩnh vực CNHT cho ngành công nghiệp ô tô cũng còn đó quá nhiều hạn chế dù đã đạt được một số kết quả nhất định trong quá trình phát triển. Cụ thể:

Việt Nam có khoảng hơn 350 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ô tô, nhưng phần lớn có quy mô nhỏ, khó khăn trong tiếp cận vốn, khó có điều kiện đầu tư cho công nghệ và việc liên kết giữa các doanh nghiệp này khá yếu... Khi thị trường gặp khó khăn, rất cần các biện pháp hỗ trợ mạnh hơn từ Chính phủ.

Mặc dù đã có sự gia tăng trong thời gian qua, tuy nhiên doanh nghiệp CNHT cho ngành ô tô Việt Nam phát triển chậm cả về số lượng và chất lượng so với nhiều quốc gia trong khu vực. Hiện nay, chỉ một vài nhà cung cấp trong nước có thể tham gia vào chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô tại Việt Nam. So với Thái Lan, số lượng nhà cung cấp của Việt Nam trong ngành công nghiệp ô tô vẫn còn rất ít. Thái Lan có gần 700 nhà cung cấp cấp 1, nhưng Việt Nam chỉ có chưa đến 100. Thái Lan có khoảng 1.700 nhà cung cấp cấp 2, 3, trong khi Việt Nam chỉ có chưa đến 150.

Tỷ lệ nội địa hoá đối với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi còn thấp: mục tiêu đề ra là 30 - 40% vào năm 2020, 40 - 45% vào năm 2025 và 50 – 55% vào năm 2030, tuy nhiên đến nay mới đạt bình quân khoảng 7-10%, trong đó Thaco đạt 15-18%, Toyota Việt Nam đạt 37% đối với riêng dòng xe Innova (theo thông tin từ phía doanh nghiệp), thấp hơn rất nhiều so với mục tiêu đề ra cũng như thấp hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Indonesia và Malaysia.

Phụ tùng linh kiện ô tô hiện đang sản xuất tại Việt Nam chủ yếu là các phụ tùng thâm dụng lao động, công nghệ giản đơn, như ghế ngồi, kính, săm lốp, bánh xe… Việt Nam phải nhập khẩu ròng hầu hết các nhóm sản phẩm CNHT có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, nhất là các bộ phận, linh kiện quan trọng, thuộc hệ thống phanh, ly hợp, hộp số, hệ thống lái, yêu cầu công nghệ chế tạo ở mức cao. Để phục vụ lắp ráp ô tô trong nước, trong giai đoạn 2010 – 2016, Việt Nam đã nhập khẩu các loại phụ tùng, linh kiện khác nhau, với tổng giá trị nhâp khẩu bình quân mỗi năm khoảng 2 tỉ USD, chủ yếu từ Nhật Bản (23%), Trung Quốc (23%), Hàn Quốc (16%) và Thái Lan (16%).

Giá trị sản xuất của CNHT cho ngành công nghiệp ô tô chỉ chiếm khoảng 2,7% tổng giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp. Tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng bình quân của toàn ngành công nghiệp.

Nhìn chung máy móc, công nghệ của các doanh nghiệp CNHT cho ngành công nghiệp ô tô tương đối lạc hậu. Chất lượng sản phẩm CNHT cho ngành công nghiệp ô tô còn khá thấp và giá thành cao. Chất lượng linh kiện phụ tùng của các doanh nghiệp nước ngoài sản xuất có khoảng cách khá xa so với các doanh nghiệp Việt Nam. Hơn nữa, tốc độ trang bị mới của các doanh nghiệp trong ngành cũng ở mức tương đối thấp. Nhiều doanh nghiệp CNHT cho ngành công nghiệp ô tô vẫn chưa đủ năng lực và công nghệ sản xuất để tham gia vào chuỗi giá trị ngành công nghiệp ô tô trong nước.

Tiêu thụ xe nội đìu hiu

Thị trường ô tô lắp ráp trong nước vẫn chứng kiến doanh số ảm đạm. Theo Hiệp hội Các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA), doanh số bán hàng tháng 1 của xe lắp ráp trong nước chỉ đạt 8.086 xe, giảm 54% so với tháng 12/2022.

Với riêng các thành viên VAMA, doanh số bán hàng tháng 1/2023 được công bố là 13.998 xe, giảm 53% so với doanh số bán tháng 1/2022 và giảm 54% so với doanh số bán tháng 12/2022. Các thành viên ngoài VAMA cũng ghi nhận tình trạng bán hàng không khả quan trong tháng đầu năm.

nganh cong nghiep o to vi sao linh vuc cong nghiep ho tro con han che

TC Motor, Thaco, Toyota là những nhà sản xuất có sản lượng xe CKD lớn và chiếm phần lớn thị phần trên thị trường. Thế nhưng, TC Motor - nhà sản xuất và phân phối xe Hyundai tại Việt Nam - chỉ bán được 3.496 xe Hyundai trong tháng 1, bằng 1/3 so với doanh số 9.545 xe bán trong tháng 12/2022.

Mặc dù nhiều hãng ô tô có cho rằng việc nghỉ Tết Nguyên đán dài trong tháng đầu năm đã khiến sức mua suy giảm trên mọi phân khúc và hy vọng giai đoạn tới sẽ có sự khởi sắc của thị trường. Tuy nhiên, xu hướng doanh số giảm liên tiếp các tháng gần đây khiến các doanh nghiệp ngày càng lo lắng.

Cụ thể, vào tháng 11/2022, doanh số bán hàng của toàn thị trường đạt 36.371 xe, giảm 0,5% so với tháng 10/2022 và giảm 6% so với tháng 11/2021.

Tiếp tục sang tháng 12/2022, doanh số bán ô tô toàn thị trường chỉ đạt 35.301 xe, tiếp tục giảm 3% so với tháng 11 trước đó và giảm 24% so với tháng 12/2021. Doanh số bán của xe lắp ráp trong nước đạt 17.666 xe, giảm 6% so với tháng 11/2022.

Nhìn tổng quát, sản lượng tiêu thụ ô tô bắt đầu suy giảm đột ngột từ quý IV/2022, bất chấp sự cải thiện đáng kể về nguồn cung linh kiện cũng như tăng trưởng kinh tế vĩ mô được ghi nhận kết quả tích cực.

Có thể bạn quan tâm

VietAd 2025: Cơ hội để doanh nghiệp tiếp cận các công nghệ tiên tiến ngành quảng cáo

VietAd 2025: Cơ hội để doanh nghiệp tiếp cận các công nghệ tiên tiến ngành quảng cáo

Chuyển động số
Ngày 1/4, Triển lãm quốc tế Thiết bị và Công nghệ Quảng cáo Việt Nam - VietAd 2025 - Hà Nội đã chính thức khai mạc tại Hà Nội.
VNPT nâng tốc độ internet tối thiểu lên 300Mbps

VNPT nâng tốc độ internet tối thiểu lên 300Mbps

Chuyển động số
Theo đó, bắt đầu từ ngày 1/4/2025, tất cả các gói cước Internet mới của VNPT sẽ được cung cấp với tốc độ tối thiểu 300Mbps, gấp gần 2 lần so với tốc độ trung bình của Internet Việt Nam hiện nay, ghi nhận dấu mốc tốc độ tối thiểu mới cao nhất trong các nhà cung cấp ở thời điểm hiện tại.
Pearson PTE ra mắt trung tâm thi mới

Pearson PTE ra mắt trung tâm thi mới

Chuyển động số
Nhằm tiếp tục mở rộng mạng lưới trung tâm thi tại Việt Nam, cũng như mang đến cơ hội tiếp cận kỳ thi tiếng Anh đạt chuẩn quốc tế cho nhiều người học hơn, Pearson PTE chính thức ra mắt trung tâm thi mới.
Chủ tịch Vingroup Phạm Nhật Vượng tiếp tục nhận thù lao 0 đồng

Chủ tịch Vingroup Phạm Nhật Vượng tiếp tục nhận thù lao 0 đồng

Doanh nghiệp số
Tập đoàn Vingroup vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán năm 2024, trong đó tiết lộ mức thù lao của ban lãnh đạo công ty. Đáng chú ý là ông Phạm Nhật Vượng - Chủ tịch Tập đoàn Vingroup - tiếp tục không nhận thù lao trong năm thứ hai liên tiếp ( 2023 và 2024).
Hơn 150 đơn vị quốc tế tham gia Analytica Viet Nam 2025 tại TP. Hồ Chí Minh

Hơn 150 đơn vị quốc tế tham gia Analytica Viet Nam 2025 tại TP. Hồ Chí Minh

Chuyển động số
Triển lãm quốc tế lần thứ 8 về công nghệ phân tích, thí nghiệm, chẩn đoán và công nghệ sinh học -Analytica Vietnam 2025 diễn ra từ ngày 2- 4/4 tại Trung tâm Hội nghị và Triển lãm Sài Gòn SECC, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh.
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Hải Phòng
Khánh Hòa
Nghệ An
Phan Thiết
Quảng Bình
Thừa Thiên Huế
Hà Giang
Hà Nội

21°C

Cảm giác: 20°C
mây cụm
Thứ sáu, 04/04/2025 00:00
20°C
Thứ sáu, 04/04/2025 03:00
22°C
Thứ sáu, 04/04/2025 06:00
25°C
Thứ sáu, 04/04/2025 09:00
26°C
Thứ sáu, 04/04/2025 12:00
22°C
Thứ sáu, 04/04/2025 15:00
20°C
Thứ sáu, 04/04/2025 18:00
20°C
Thứ sáu, 04/04/2025 21:00
21°C
Thứ bảy, 05/04/2025 00:00
20°C
Thứ bảy, 05/04/2025 03:00
21°C
Thứ bảy, 05/04/2025 06:00
22°C
Thứ bảy, 05/04/2025 09:00
22°C
Thứ bảy, 05/04/2025 12:00
21°C
Thứ bảy, 05/04/2025 15:00
21°C
Thứ bảy, 05/04/2025 18:00
20°C
Thứ bảy, 05/04/2025 21:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 00:00
19°C
Chủ nhật, 06/04/2025 03:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 06:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 09:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 12:00
19°C
Chủ nhật, 06/04/2025 15:00
19°C
Chủ nhật, 06/04/2025 18:00
19°C
Chủ nhật, 06/04/2025 21:00
18°C
Thứ hai, 07/04/2025 00:00
19°C
Thứ hai, 07/04/2025 03:00
19°C
Thứ hai, 07/04/2025 06:00
20°C
Thứ hai, 07/04/2025 09:00
20°C
Thứ hai, 07/04/2025 12:00
20°C
Thứ hai, 07/04/2025 15:00
20°C
Thứ hai, 07/04/2025 18:00
20°C
Thứ hai, 07/04/2025 21:00
20°C
Thứ ba, 08/04/2025 00:00
20°C
TP Hồ Chí Minh

30°C

Cảm giác: 34°C
mây đen u ám
Thứ sáu, 04/04/2025 00:00
27°C
Thứ sáu, 04/04/2025 03:00
32°C
Thứ sáu, 04/04/2025 06:00
35°C
Thứ sáu, 04/04/2025 09:00
33°C
Thứ sáu, 04/04/2025 12:00
28°C
Thứ sáu, 04/04/2025 15:00
27°C
Thứ sáu, 04/04/2025 18:00
27°C
Thứ sáu, 04/04/2025 21:00
26°C
Thứ bảy, 05/04/2025 00:00
27°C
Thứ bảy, 05/04/2025 03:00
33°C
Thứ bảy, 05/04/2025 06:00
37°C
Thứ bảy, 05/04/2025 09:00
33°C
Thứ bảy, 05/04/2025 12:00
29°C
Thứ bảy, 05/04/2025 15:00
27°C
Thứ bảy, 05/04/2025 18:00
27°C
Thứ bảy, 05/04/2025 21:00
26°C
Chủ nhật, 06/04/2025 00:00
27°C
Chủ nhật, 06/04/2025 03:00
32°C
Chủ nhật, 06/04/2025 06:00
37°C
Chủ nhật, 06/04/2025 09:00
33°C
Chủ nhật, 06/04/2025 12:00
29°C
Chủ nhật, 06/04/2025 15:00
28°C
Chủ nhật, 06/04/2025 18:00
27°C
Chủ nhật, 06/04/2025 21:00
27°C
Thứ hai, 07/04/2025 00:00
28°C
Thứ hai, 07/04/2025 03:00
33°C
Thứ hai, 07/04/2025 06:00
37°C
Thứ hai, 07/04/2025 09:00
33°C
Thứ hai, 07/04/2025 12:00
28°C
Thứ hai, 07/04/2025 15:00
27°C
Thứ hai, 07/04/2025 18:00
27°C
Thứ hai, 07/04/2025 21:00
26°C
Thứ ba, 08/04/2025 00:00
27°C
Đà Nẵng

20°C

Cảm giác: 20°C
mây đen u ám
Thứ sáu, 04/04/2025 00:00
21°C
Thứ sáu, 04/04/2025 03:00
24°C
Thứ sáu, 04/04/2025 06:00
24°C
Thứ sáu, 04/04/2025 09:00
24°C
Thứ sáu, 04/04/2025 12:00
23°C
Thứ sáu, 04/04/2025 15:00
22°C
Thứ sáu, 04/04/2025 18:00
22°C
Thứ sáu, 04/04/2025 21:00
21°C
Thứ bảy, 05/04/2025 00:00
22°C
Thứ bảy, 05/04/2025 03:00
24°C
Thứ bảy, 05/04/2025 06:00
24°C
Thứ bảy, 05/04/2025 09:00
25°C
Thứ bảy, 05/04/2025 12:00
24°C
Thứ bảy, 05/04/2025 15:00
23°C
Thứ bảy, 05/04/2025 18:00
23°C
Thứ bảy, 05/04/2025 21:00
23°C
Chủ nhật, 06/04/2025 00:00
24°C
Chủ nhật, 06/04/2025 03:00
24°C
Chủ nhật, 06/04/2025 06:00
24°C
Chủ nhật, 06/04/2025 09:00
25°C
Chủ nhật, 06/04/2025 12:00
24°C
Chủ nhật, 06/04/2025 15:00
24°C
Chủ nhật, 06/04/2025 18:00
23°C
Chủ nhật, 06/04/2025 21:00
23°C
Thứ hai, 07/04/2025 00:00
24°C
Thứ hai, 07/04/2025 03:00
25°C
Thứ hai, 07/04/2025 06:00
26°C
Thứ hai, 07/04/2025 09:00
26°C
Thứ hai, 07/04/2025 12:00
24°C
Thứ hai, 07/04/2025 15:00
23°C
Thứ hai, 07/04/2025 18:00
23°C
Thứ hai, 07/04/2025 21:00
23°C
Thứ ba, 08/04/2025 00:00
24°C
Hải Phòng

23°C

Cảm giác: 23°C
bầu trời quang đãng
Thứ sáu, 04/04/2025 00:00
21°C
Thứ sáu, 04/04/2025 03:00
23°C
Thứ sáu, 04/04/2025 06:00
24°C
Thứ sáu, 04/04/2025 09:00
24°C
Thứ sáu, 04/04/2025 12:00
21°C
Thứ sáu, 04/04/2025 15:00
20°C
Thứ sáu, 04/04/2025 18:00
19°C
Thứ sáu, 04/04/2025 21:00
20°C
Thứ bảy, 05/04/2025 00:00
21°C
Thứ bảy, 05/04/2025 03:00
22°C
Thứ bảy, 05/04/2025 06:00
23°C
Thứ bảy, 05/04/2025 09:00
23°C
Thứ bảy, 05/04/2025 12:00
22°C
Thứ bảy, 05/04/2025 15:00
22°C
Thứ bảy, 05/04/2025 18:00
21°C
Thứ bảy, 05/04/2025 21:00
21°C
Chủ nhật, 06/04/2025 00:00
21°C
Chủ nhật, 06/04/2025 03:00
22°C
Chủ nhật, 06/04/2025 06:00
22°C
Chủ nhật, 06/04/2025 09:00
22°C
Chủ nhật, 06/04/2025 12:00
21°C
Chủ nhật, 06/04/2025 15:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 18:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 21:00
20°C
Thứ hai, 07/04/2025 00:00
20°C
Thứ hai, 07/04/2025 03:00
21°C
Thứ hai, 07/04/2025 06:00
23°C
Thứ hai, 07/04/2025 09:00
22°C
Thứ hai, 07/04/2025 12:00
21°C
Thứ hai, 07/04/2025 15:00
21°C
Thứ hai, 07/04/2025 18:00
21°C
Thứ hai, 07/04/2025 21:00
21°C
Thứ ba, 08/04/2025 00:00
21°C
Khánh Hòa

24°C

Cảm giác: 25°C
mây đen u ám
Thứ sáu, 04/04/2025 00:00
23°C
Thứ sáu, 04/04/2025 03:00
29°C
Thứ sáu, 04/04/2025 06:00
32°C
Thứ sáu, 04/04/2025 09:00
29°C
Thứ sáu, 04/04/2025 12:00
22°C
Thứ sáu, 04/04/2025 15:00
22°C
Thứ sáu, 04/04/2025 18:00
21°C
Thứ sáu, 04/04/2025 21:00
21°C
Thứ bảy, 05/04/2025 00:00
24°C
Thứ bảy, 05/04/2025 03:00
32°C
Thứ bảy, 05/04/2025 06:00
35°C
Thứ bảy, 05/04/2025 09:00
31°C
Thứ bảy, 05/04/2025 12:00
24°C
Thứ bảy, 05/04/2025 15:00
23°C
Thứ bảy, 05/04/2025 18:00
22°C
Thứ bảy, 05/04/2025 21:00
22°C
Chủ nhật, 06/04/2025 00:00
25°C
Chủ nhật, 06/04/2025 03:00
33°C
Chủ nhật, 06/04/2025 06:00
34°C
Chủ nhật, 06/04/2025 09:00
30°C
Chủ nhật, 06/04/2025 12:00
25°C
Chủ nhật, 06/04/2025 15:00
23°C
Chủ nhật, 06/04/2025 18:00
23°C
Chủ nhật, 06/04/2025 21:00
22°C
Thứ hai, 07/04/2025 00:00
25°C
Thứ hai, 07/04/2025 03:00
32°C
Thứ hai, 07/04/2025 06:00
34°C
Thứ hai, 07/04/2025 09:00
31°C
Thứ hai, 07/04/2025 12:00
23°C
Thứ hai, 07/04/2025 15:00
22°C
Thứ hai, 07/04/2025 18:00
21°C
Thứ hai, 07/04/2025 21:00
21°C
Thứ ba, 08/04/2025 00:00
25°C
Nghệ An

23°C

Cảm giác: 22°C
bầu trời quang đãng
Thứ sáu, 04/04/2025 00:00
17°C
Thứ sáu, 04/04/2025 03:00
27°C
Thứ sáu, 04/04/2025 06:00
32°C
Thứ sáu, 04/04/2025 09:00
28°C
Thứ sáu, 04/04/2025 12:00
21°C
Thứ sáu, 04/04/2025 15:00
19°C
Thứ sáu, 04/04/2025 18:00
19°C
Thứ sáu, 04/04/2025 21:00
18°C
Thứ bảy, 05/04/2025 00:00
20°C
Thứ bảy, 05/04/2025 03:00
24°C
Thứ bảy, 05/04/2025 06:00
24°C
Thứ bảy, 05/04/2025 09:00
22°C
Thứ bảy, 05/04/2025 12:00
20°C
Thứ bảy, 05/04/2025 15:00
19°C
Thứ bảy, 05/04/2025 18:00
19°C
Thứ bảy, 05/04/2025 21:00
19°C
Chủ nhật, 06/04/2025 00:00
19°C
Chủ nhật, 06/04/2025 03:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 06:00
21°C
Chủ nhật, 06/04/2025 09:00
21°C
Chủ nhật, 06/04/2025 12:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 15:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 18:00
19°C
Chủ nhật, 06/04/2025 21:00
19°C
Thứ hai, 07/04/2025 00:00
19°C
Thứ hai, 07/04/2025 03:00
20°C
Thứ hai, 07/04/2025 06:00
20°C
Thứ hai, 07/04/2025 09:00
21°C
Thứ hai, 07/04/2025 12:00
20°C
Thứ hai, 07/04/2025 15:00
19°C
Thứ hai, 07/04/2025 18:00
19°C
Thứ hai, 07/04/2025 21:00
19°C
Thứ ba, 08/04/2025 00:00
20°C
Phan Thiết

29°C

Cảm giác: 32°C
mây đen u ám
Thứ sáu, 04/04/2025 00:00
25°C
Thứ sáu, 04/04/2025 03:00
30°C
Thứ sáu, 04/04/2025 06:00
30°C
Thứ sáu, 04/04/2025 09:00
29°C
Thứ sáu, 04/04/2025 12:00
26°C
Thứ sáu, 04/04/2025 15:00
25°C
Thứ sáu, 04/04/2025 18:00
25°C
Thứ sáu, 04/04/2025 21:00
24°C
Thứ bảy, 05/04/2025 00:00
26°C
Thứ bảy, 05/04/2025 03:00
30°C
Thứ bảy, 05/04/2025 06:00
30°C
Thứ bảy, 05/04/2025 09:00
29°C
Thứ bảy, 05/04/2025 12:00
25°C
Thứ bảy, 05/04/2025 15:00
25°C
Thứ bảy, 05/04/2025 18:00
24°C
Thứ bảy, 05/04/2025 21:00
24°C
Chủ nhật, 06/04/2025 00:00
26°C
Chủ nhật, 06/04/2025 03:00
30°C
Chủ nhật, 06/04/2025 06:00
31°C
Chủ nhật, 06/04/2025 09:00
30°C
Chủ nhật, 06/04/2025 12:00
27°C
Chủ nhật, 06/04/2025 15:00
26°C
Chủ nhật, 06/04/2025 18:00
25°C
Chủ nhật, 06/04/2025 21:00
25°C
Thứ hai, 07/04/2025 00:00
26°C
Thứ hai, 07/04/2025 03:00
30°C
Thứ hai, 07/04/2025 06:00
31°C
Thứ hai, 07/04/2025 09:00
29°C
Thứ hai, 07/04/2025 12:00
26°C
Thứ hai, 07/04/2025 15:00
25°C
Thứ hai, 07/04/2025 18:00
24°C
Thứ hai, 07/04/2025 21:00
24°C
Thứ ba, 08/04/2025 00:00
25°C
Quảng Bình

18°C

Cảm giác: 18°C
mây đen u ám
Thứ sáu, 04/04/2025 00:00
18°C
Thứ sáu, 04/04/2025 03:00
22°C
Thứ sáu, 04/04/2025 06:00
28°C
Thứ sáu, 04/04/2025 09:00
25°C
Thứ sáu, 04/04/2025 12:00
19°C
Thứ sáu, 04/04/2025 15:00
18°C
Thứ sáu, 04/04/2025 18:00
18°C
Thứ sáu, 04/04/2025 21:00
18°C
Thứ bảy, 05/04/2025 00:00
20°C
Thứ bảy, 05/04/2025 03:00
25°C
Thứ bảy, 05/04/2025 06:00
23°C
Thứ bảy, 05/04/2025 09:00
21°C
Thứ bảy, 05/04/2025 12:00
19°C
Thứ bảy, 05/04/2025 15:00
19°C
Thứ bảy, 05/04/2025 18:00
19°C
Thứ bảy, 05/04/2025 21:00
19°C
Chủ nhật, 06/04/2025 00:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 03:00
22°C
Chủ nhật, 06/04/2025 06:00
24°C
Chủ nhật, 06/04/2025 09:00
22°C
Chủ nhật, 06/04/2025 12:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 15:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 18:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 21:00
20°C
Thứ hai, 07/04/2025 00:00
20°C
Thứ hai, 07/04/2025 03:00
21°C
Thứ hai, 07/04/2025 06:00
22°C
Thứ hai, 07/04/2025 09:00
21°C
Thứ hai, 07/04/2025 12:00
20°C
Thứ hai, 07/04/2025 15:00
19°C
Thứ hai, 07/04/2025 18:00
19°C
Thứ hai, 07/04/2025 21:00
19°C
Thứ ba, 08/04/2025 00:00
19°C
Thừa Thiên Huế

18°C

Cảm giác: 18°C
mây đen u ám
Thứ sáu, 04/04/2025 00:00
20°C
Thứ sáu, 04/04/2025 03:00
28°C
Thứ sáu, 04/04/2025 06:00
30°C
Thứ sáu, 04/04/2025 09:00
27°C
Thứ sáu, 04/04/2025 12:00
22°C
Thứ sáu, 04/04/2025 15:00
21°C
Thứ sáu, 04/04/2025 18:00
21°C
Thứ sáu, 04/04/2025 21:00
20°C
Thứ bảy, 05/04/2025 00:00
23°C
Thứ bảy, 05/04/2025 03:00
30°C
Thứ bảy, 05/04/2025 06:00
31°C
Thứ bảy, 05/04/2025 09:00
27°C
Thứ bảy, 05/04/2025 12:00
22°C
Thứ bảy, 05/04/2025 15:00
22°C
Thứ bảy, 05/04/2025 18:00
21°C
Thứ bảy, 05/04/2025 21:00
21°C
Chủ nhật, 06/04/2025 00:00
22°C
Chủ nhật, 06/04/2025 03:00
28°C
Chủ nhật, 06/04/2025 06:00
28°C
Chủ nhật, 06/04/2025 09:00
24°C
Chủ nhật, 06/04/2025 12:00
22°C
Chủ nhật, 06/04/2025 15:00
22°C
Chủ nhật, 06/04/2025 18:00
22°C
Chủ nhật, 06/04/2025 21:00
21°C
Thứ hai, 07/04/2025 00:00
23°C
Thứ hai, 07/04/2025 03:00
29°C
Thứ hai, 07/04/2025 06:00
27°C
Thứ hai, 07/04/2025 09:00
26°C
Thứ hai, 07/04/2025 12:00
23°C
Thứ hai, 07/04/2025 15:00
21°C
Thứ hai, 07/04/2025 18:00
21°C
Thứ hai, 07/04/2025 21:00
20°C
Thứ ba, 08/04/2025 00:00
23°C
Hà Giang

24°C

Cảm giác: 24°C
mây thưa
Thứ sáu, 04/04/2025 00:00
18°C
Thứ sáu, 04/04/2025 03:00
26°C
Thứ sáu, 04/04/2025 06:00
31°C
Thứ sáu, 04/04/2025 09:00
31°C
Thứ sáu, 04/04/2025 12:00
23°C
Thứ sáu, 04/04/2025 15:00
20°C
Thứ sáu, 04/04/2025 18:00
21°C
Thứ sáu, 04/04/2025 21:00
20°C
Thứ bảy, 05/04/2025 00:00
20°C
Thứ bảy, 05/04/2025 03:00
23°C
Thứ bảy, 05/04/2025 06:00
26°C
Thứ bảy, 05/04/2025 09:00
25°C
Thứ bảy, 05/04/2025 12:00
22°C
Thứ bảy, 05/04/2025 15:00
21°C
Thứ bảy, 05/04/2025 18:00
20°C
Thứ bảy, 05/04/2025 21:00
19°C
Chủ nhật, 06/04/2025 00:00
19°C
Chủ nhật, 06/04/2025 03:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 06:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 09:00
20°C
Chủ nhật, 06/04/2025 12:00
19°C
Chủ nhật, 06/04/2025 15:00
19°C
Chủ nhật, 06/04/2025 18:00
19°C
Chủ nhật, 06/04/2025 21:00
19°C
Thứ hai, 07/04/2025 00:00
19°C
Thứ hai, 07/04/2025 03:00
20°C
Thứ hai, 07/04/2025 06:00
24°C
Thứ hai, 07/04/2025 09:00
25°C
Thứ hai, 07/04/2025 12:00
22°C
Thứ hai, 07/04/2025 15:00
21°C
Thứ hai, 07/04/2025 18:00
21°C
Thứ hai, 07/04/2025 21:00
20°C
Thứ ba, 08/04/2025 00:00
21°C

Tỷ giáGiá vàng

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 15688 15953 16588
CAD 17454 17727 18350
CHF 28548 28916 29572
CNY 0 3358 3600
EUR 27323 27585 28626
GBP 32581 32965 33918
HKD 0 3178 3381
JPY 164 168 174
KRW 0 0 19
NZD 0 14462 15052
SGD 18646 18924 19455
THB 670 733 787
USD (1,2) 25487 0 0
USD (5,10,20) 25524 0 0
USD (50,100) 25551 25585 25940
Cập nhật: 03/04/2025 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,540 25,540 25,900
USD(1-2-5) 24,518 - -
USD(10-20) 24,518 - -
GBP 33,127 33,204 34,105
HKD 3,248 3,255 3,354
CHF 28,904 28,933 29,753
JPY 170.25 170.53 178.15
THB 688.05 722.29 772.42
AUD 15,945 15,969 16,406
CAD 17,841 17,866 18,348
SGD 18,773 18,850 19,450
SEK - 2,565 2,656
LAK - 0.91 1.26
DKK - 3,694 3,822
NOK - 2,433 2,520
CNY - 3,501 3,597
RUB - - -
NZD 14,481 14,572 15,000
KRW 15.39 17 18.26
EUR 27,578 27,622 28,801
TWD 700.48 - 847.6
MYR 5,369.08 - 6,057.26
SAR - 6,738.38 7,097.56
KWD - 81,164 86,424
XAU - - -
Cập nhật: 03/04/2025 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,440 25,460 25,800
EUR 27,105 27,214 28,326
GBP 32,475 32,605 33,567
HKD 3,228 3,241 3,348
CHF 28,443 28,557 29,454
JPY 166.98 167.65 174.83
AUD 15,758 15,821 16,342
SGD 18,715 18,790 19,327
THB 729 732 764
CAD 17,589 17,660 18,173
NZD 14,368 14,870
KRW 16.67 18.37
Cập nhật: 03/04/2025 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25570 25570 25930
AUD 15798 15898 16460
CAD 17714 17814 18365
CHF 28908 28938 29831
CNY 0 3507.6 0
CZK 0 1058 0
DKK 0 3700 0
EUR 27602 27702 28575
GBP 33086 33136 34238
HKD 0 3295 0
JPY 171.06 171.56 178.07
KHR 0 6.032 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.141 0
MYR 0 5920 0
NOK 0 2432 0
NZD 0 14565 0
PHP 0 420 0
SEK 0 2542 0
SGD 18755 18885 19615
THB 0 693.5 0
TWD 0 765 0
XAU 9920000 9920000 10250000
XBJ 8800000 8800000 10225000
Cập nhật: 03/04/2025 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,460 25,510 25,750
USD20 25,460 25,510 25,750
USD1 25,460 25,510 25,750
AUD 15,865 16,015 17,078
EUR 27,373 27,523 28,688
CAD 17,512 17,612 18,924
SGD 18,777 18,927 19,393
JPY 168.29 169.79 174.41
GBP 32,732 32,882 33,658
XAU 9,908,000 0 10,182,000
CNY 0 3,375 0
THB 0 731 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/04/2025 09:00
DOJI Giá mua Giá bán
AVPL/SJC HN 99,800 ▲700K 102,500 ▲700K
AVPL/SJC HCM 99,800 ▲700K 102,500 ▲700K
AVPL/SJC ĐN 99,800 ▲700K 102,500 ▲700K
Nguyên liệu 9999 - HN 99,200 ▲700K 10,120 ▲70K
Nguyên liệu 999 - HN 99,100 ▲700K 10,110 ▲70K
Cập nhật: 03/04/2025 09:00
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 99.800 ▲700K 102.500 ▲700K
TPHCM - SJC 99.800 ▲700K 102.500 ▲700K
Hà Nội - PNJ 99.800 ▲700K 102.500 ▲700K
Hà Nội - SJC 99.800 ▲700K 102.500 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 99.800 ▲700K 102.500 ▲700K
Đà Nẵng - SJC 99.800 ▲700K 102.500 ▲700K
Miền Tây - PNJ 99.800 ▲700K 102.500 ▲700K
Miền Tây - SJC 99.800 ▲700K 102.500 ▲700K
Giá vàng nữ trang - PNJ 99.800 ▲700K 102.500 ▲700K
Giá vàng nữ trang - SJC 99.800 ▲700K 102.500 ▲700K
Giá vàng nữ trang - Đông Nam Bộ PNJ 99.800 ▲700K
Giá vàng nữ trang - SJC 99.800 ▲700K 102.500 ▲700K
Giá vàng nữ trang - Giá vàng nữ trang Nhẫn Trơn PNJ 999.9 99.800 ▲700K
Giá vàng nữ trang - Vàng nữ trang 999.9 99.800 ▲700K 102.300 ▲700K
Giá vàng nữ trang - Vàng nữ trang 999 99.700 ▲700K 102.200 ▲700K
Giá vàng nữ trang - Vàng nữ trang 99 98.880 ▲700K 101.380 ▲700K
Giá vàng nữ trang - Vàng 916 (22K) 91.310 ▲640K 93.810 ▲640K
Giá vàng nữ trang - Vàng 750 (18K) 74.380 ▲530K 76.880 ▲530K
Giá vàng nữ trang - Vàng 680 (16.3K) 67.210 ▲470K 69.710 ▲470K
Giá vàng nữ trang - Vàng 650 (15.6K) 64.150 ▲460K 66.650 ▲460K
Giá vàng nữ trang - Vàng 610 (14.6K) 60.050 ▲420K 62.550 ▲420K
Giá vàng nữ trang - Vàng 585 (14K) 57.500 ▲410K 60.000 ▲410K
Giá vàng nữ trang - Vàng 416 (10K) 40.210 ▲290K 42.710 ▲290K
Giá vàng nữ trang - Vàng 375 (9K) 36.010 ▲260K 38.510 ▲260K
Giá vàng nữ trang - Vàng 333 (8K) 31.410 ▲230K 33.910 ▲230K
Cập nhật: 03/04/2025 09:00
AJC Giá mua Giá bán
Trang sức 99.99 9,820 ▲70K 10,230 ▲80K
Trang sức 99.9 9,810 ▲70K 10,220 ▲80K
NL 99.99 9,820 ▲70K
Nhẫn tròn ko ép vỉ T.Bình 9,820 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 9,950 ▲70K 10,240 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 9,950 ▲70K 10,240 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 9,950 ▲70K 10,240 ▲80K
Miếng SJC Thái Bình 9,950 ▲40K 10,240 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 9,950 ▲40K 10,240 ▲60K
Miếng SJC Hà Nội 9,950 ▲40K 10,240 ▲60K
Cập nhật: 03/04/2025 09:00