Cơ chế 'Go/No-Go' mở lối cho công nghệ chiến lược bứt phá
![]() |
| PGS.TS. Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED - Bộ KH&CN). (Ảnh: chinhphu.vn) |
Điểm đáng chú ý của cơ chế mới không chỉ nằm ở việc tăng quyền tự chủ cho tổ chức nghiên cứu hay mở rộng khả năng thuê chuyên gia, mà ở cách ngân sách được gắn trực tiếp với từng gói công việc, từng mốc đánh giá và kết quả công nghệ.
Công nghệ chiến lược cần một “luật chơi” tài chính khác
Theo PGS.TS. Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED - Bộ KH&CN), các nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược có yêu cầu rất khác so với nhiệm vụ khoa học và công nghệ thông thường.
Đây là những nhiệm vụ hướng tới làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền tảng, tạo ra sản phẩm công nghệ chiến lược, có mức độ phức tạp và rủi ro cao. Quá trình thực hiện không chỉ đòi hỏi nghiên cứu mà còn phải tích hợp nhiều hệ thống, huy động nhân lực trình độ cao và đưa kết quả từ phòng thí nghiệm đến sản xuất, chuyển giao, thương mại hóa.
Chính đặc điểm này khiến cách quản lý tài chính theo những định mức cứng và quy trình truyền thống khó đáp ứng yêu cầu của các bài toán công nghệ có tốc độ thay đổi nhanh và mức độ bất định lớn.
Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN được xây dựng nhằm cụ thể hóa các chủ trương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và công nghệ chiến lược, trong đó có Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Điểm xuyên suốt của cơ chế mới là đầu tư linh hoạt hơn nhưng quản trị chặt hơn bằng kết quả.
Thay vì chỉ tập trung kiểm soát từng khoản chi, cơ chế mới cho phép trả thù lao theo vị trí công việc, thuê chuyên gia theo cơ chế thị trường, quản lý kinh phí theo gói công việc và mốc đánh giá, khoán chi theo kết quả, tăng quyền tự chủ, huy động nguồn lực ngoài ngân sách và bố trí kinh phí dự phòng.
Đặc biệt, với những bài toán có nhiều hướng công nghệ khả thi, các phương án nghiên cứu có thể được triển khai độc lập để cùng hướng tới một mục tiêu. Sau từng mốc đánh giá, phương án có kết quả tốt sẽ được tiếp tục, phương án không còn phù hợp có thể được điều chỉnh hoặc dừng.
Đó chính là logic của cơ chế “Go/No-Go”.
Từ “rót kinh phí” sang quản trị từng bước đột phá
Một trong những thay đổi quan trọng nhất là phương thức lập và quản lý kinh phí theo gói công việc (Work Package) và mốc đánh giá (Milestone).
Mỗi gói công việc phải xác định rõ mục tiêu, phạm vi, sản phẩm đầu ra, kinh phí, tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm và thời gian thực hiện. Toàn bộ dự toán được hình thành từ các gói công việc và tổng hợp theo từng mốc đánh giá.
Như vậy, mỗi khoản kinh phí đều được đặt trong một chuỗi logic rõ ràng: chi cho việc gì, tạo ra sản phẩm nào và khi nào phải chứng minh kết quả.
Kết quả tại từng mốc sẽ là căn cứ để thanh toán, quyết toán và quyết định cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo. Đây không đơn thuần là thay đổi thủ tục tài chính, mà là chuyển sang một phương thức quản trị nhiệm vụ nghiên cứu dựa trên kết quả.
Cách làm này đặc biệt phù hợp với công nghệ mới, nơi thất bại ở một hướng nghiên cứu không nhất thiết đồng nghĩa với thất bại của toàn bộ nhiệm vụ. Nếu một phương án không còn khả thi, nguồn lực có thể được dừng lại và chuyển trọng tâm sang hướng có tiềm năng hơn.
Thông tư cũng cho phép đối với những bài toán có nhiều hướng công nghệ khả thi, có thể triển khai nhiều phương án nghiên cứu độc lập. Mỗi phương án được lập dự toán, giao kinh phí, đánh giá và sàng lọc riêng.
Điều này tạo ra một cách tiếp cận gần với thực tế phát triển công nghệ: thử nghiệm nhiều khả năng, đo lường bằng kết quả và chỉ mở rộng đầu tư khi công nghệ chứng minh được tiềm năng.
Thu hút nhân lực giỏi bằng cơ chế sát với giá trị công việc
Cùng với đổi mới cách quản lý tiền, Thông tư 49 thay đổi đáng kể cách tiếp cận đối với nhân lực thực hiện nhiệm vụ công nghệ chiến lược.
Thù lao được xác định theo vị trí công việc, yêu cầu chuyên môn, trách nhiệm, thời gian tham gia và sản phẩm đầu ra thay vì chủ yếu dựa trên chức danh hành chính hoặc ngày công.
Theo đó, mức trần thù lao được đề xuất gồm: Tổng công trình sư tối đa 300 triệu đồng/tháng; Chủ nhiệm nhiệm vụ tối đa 150 triệu đồng/tháng; thành viên chính tối đa 120 triệu đồng hoặc 100 triệu đồng/tháng tùy vị trí; thành viên trực tiếp thực hiện từ 70-90 triệu đồng/tháng; kỹ thuật viên, nhân viên hỗ trợ chuyên môn tối đa 45 triệu đồng/tháng.
Đây là mức trần để lập, thẩm định và phê duyệt dự toán; mức thực tế phụ thuộc vị trí, thời gian và tỷ lệ tham gia của từng cá nhân.
Đáng chú ý, Bộ KH&CN đã tham chiếu mô hình nhân lực nghiên cứu của Cơ quan Khoa học, Công nghệ và Nghiên cứu Singapore (A*STAR), đồng thời đối sánh thu nhập theo sức mua tương đương (PPP), thay vì quy đổi đơn thuần theo tỷ giá.
Đối với những lĩnh vực Việt Nam chưa có đủ chuyên gia, tổ chức chủ trì được thuê chuyên gia trong nước và quốc tế theo cơ chế thỏa thuận, căn cứ vào trình độ, năng lực, kinh nghiệm, yêu cầu công việc và mặt bằng giá thị trường.
Trong trường hợp cần thiết, mức thuê chuyên gia có thể lên tới mức tương đương thù lao Tổng công trình sư, tức tối đa 300 triệu đồng/tháng.
Thông điệp ở đây khá rõ: muốn làm chủ công nghệ chiến lược phải có cơ chế đủ sức thu hút người có khả năng làm chủ công nghệ đó.
Chấp nhận rủi ro để có cơ hội tạo đột phá
Nghiên cứu công nghệ mới luôn đi kèm bất định. Vì vậy, cơ chế tài chính mới không đặt mục tiêu loại bỏ hoàn toàn rủi ro mà hướng tới chấp nhận rủi ro trong phạm vi được kiểm soát.
Thông tư cho phép bố trí kinh phí dự phòng, tối đa không quá 10% tổng dự toán kinh phí từ ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ, để xử lý những phát sinh trong quá trình nghiên cứu.
Tổ chức chủ trì cũng có thể sử dụng nguồn tài chính hợp pháp của mình hoặc các nguồn vốn hợp pháp khác để ứng trước kinh phí cho những nội dung cấp bách trước khi ngân sách nhà nước được cấp.
Nguồn lực xã hội cũng được mở rộng. Doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có thể đóng góp bằng tiền, thiết bị, dây chuyền công nghệ, phòng thí nghiệm, hạ tầng kỹ thuật, quyền sở hữu trí tuệ, phần mềm, nhân lực và các nguồn lực hợp pháp khác.
Đặc biệt, trường hợp nhiệm vụ gặp rủi ro thuộc diện được pháp luật chấp nhận, tổ chức chủ trì không phải hoàn trả phần kinh phí ngân sách đã sử dụng đúng mục tiêu, đúng nội dung và đúng quy định.
Tuy nhiên, chấp nhận rủi ro không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Kinh phí sử dụng sai mục đích hoặc sai quy định vẫn phải hoàn trả; gian lận hoặc cố ý vi phạm vẫn bị xử lý.
Như vậy, cơ chế mới đang hình thành một cách tiếp cận “hai chiều”: trao quyền nhiều hơn cho người làm công nghệ nhưng đồng thời yêu cầu trách nhiệm giải trình cao hơn về kết quả.
Từ cách trả thù lao theo vị trí, thuê chuyên gia theo giá trị, đến Work Package, Milestone và “Go/No-Go”, Thông tư 49/2026/TT-BKHCN đang thử nghiệm một cách làm mới để giải bài toán cũ: làm thế nào để nguồn lực nhà nước có thể đi nhanh hơn cùng công nghệ.
Đích đến cuối cùng không phải là giải ngân nhiều hơn, mà là làm chủ được công nghệ, tạo ra sản phẩm, thúc đẩy chuyển giao và thương mại hóa, qua đó hình thành năng lực công nghệ thực chất cho Việt Nam.
Có thể bạn quan tâm
Đề xuất cắt giảm 47 điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ
Chính sách số
Kết nối nguồn lực kiều bào, thúc đẩy công nghệ chiến lược
Chính sách số
Bộ Khoa học và Công nghệ mở rộng hợp tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo với Australia
Chính sách số
