Nguy cơ thiếu thanh khoản trên thị trường khi chính phủ Mỹ phát hành trái phiếu ồ ạt

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Sau khi Tổng thống Joe Biden ký ban hành thỏa thuận về nợ trần của chính phủ Mỹ vào ngày 3-6, Bộ Tài chính Mỹ đang chuẩn bị cho một "cơn sóng thần" phát hành trái phiếu mới nhằm huy động tiền mặt cho các ngân khố đang gặp khó khăn. Tuy nhiên, động thái này sẽ gây ra tình trạng thiếu thanh khoản trên thị trường và đe dọa đến các tài sản có rủi ro như cổ phiếu.

Nguy cơ khi Mỹ phát hành trái phiếu ồ ạt

Sau khi Quốc hội Mỹ thông qua thỏa thuận về trần nợ công và Tổng thống Joe Biden ký ban hành, Bộ Tài chính Mỹ sẽ tiến hành một cuộc phát hành trái phiếu vốn quy mô lớn nhằm tập trung huy động tiền mặt cho những ngân khố đang gặp khó khăn.

Thỏa thuận về nợ trần của chính phủ Mỹ, được gọi là Đạo luật trách nhiệm tài khóa 2023, đã đình chỉ mức trần nợ công hiện tại của chính phủ Mỹ là 31,4 nghìn tỉ đô la cho đến đầu năm 2025. Thay vì tăng mức trần nợ công, việc đình chỉ nợ trần cho phép Bộ Tài chính Mỹ thoải mái vay tiền để thanh toán các hóa đơn cho đến đầu năm 2025. Giới hạn trần nợ công sẽ được đặt ở mức nào tùy thuộc vào thỏa thuận đình chỉ nợ trần. Đảng Cộng hòa muốn đình chỉ nợ trần hơn là tăng trần nợ công vì lý do chính trị, để có lý lẽ rằng họ không ủng hộ việc tăng nợ công từ mặt kỹ thuật.

Tác động tiêu cực từ cơn sóng phát hành trái phiếu mới của Bộ Tài chính Mỹ có thể vượt qua hậu quả của cuộc đàm phán bế tắc về nợ trần công. Chương trình thắt chặt định lượng của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thông qua việc tăng lãi suất đã làm giảm dự trữ của các ngân hàng. Trong khi đó, các quỹ thị trường tiền tệ đang tích trữ tiền mặt để đề phòng suy thoái kinh tế.

Nikolaos Panigirtzoglou, nhà chiến lược của ngân hàng JPMorgan Chase, dự báo một đợt phát hành ồ ạt trái phiếu chính phủ Mỹ sẽ làm tăng thêm tác động của thắt chặt định lượng đối với thị trường cổ phiếu và trái phiếu. Các lo ngại về tình trạng thiếu thanh khoản có thể kích hoạt làn sóng bán tháo trên hai thị trường này và có thể làm giảm gần 5% hiệu suất kết hợp của chúng trong năm nay.

Các nhà chiến lược vĩ mô của ngân hàng Citigroup cũng đưa ra dự báo tương tự. Họ ước tính lực hút thanh khoản mạnh từ các đợt phát hành trái phiếu mới của Bộ Tài chính Mỹ có thể khiến chỉ số S&P 500 (theo dõi giá cổ phiếu của 500 doanh nghiệp vốn hóa lớn tiêu biểu ở thị trường chứng khoán Mỹ) giảm trung bình 5,4% trong hai tháng.

Đợt bán trái phiếu đầu tiên của Bộ Tài chính Mỹ, diễn ra vào ngày 5-6, sẽ tác động đến mọi lớp tài sản bị hút thanh khoản vốn đang cạn kiệt. JPMorgan Chase ước tính một thước đo thanh khoản thị trường trái phiếu chính phủ Mỹ mà ngân hàng này theo dõi sẽ giảm 1,1 nghìn tỉ đô la từ mức khoảng 25 nghìn tỉ đô la vào đầu năm 2023.

“Đây là một đợt rút thanh khoản rất lớn. Chúng tôi hiếm khi thấy một quy mô rút thanh khoản lớn như vậy. Chỉ trong những vụ sụp đổ nghiêm trọng như cú sụp đổ của ngân hàng đầu tư Lehman năm 2008, bạn mới thấy mức độ thanh khoản co lại như vậy”, nhà chiến lược Panigirtzoglou nói

Theo ước tính của JPMorgan, động thái bán trái phiếu mới của Bộ Tài chính Mỹ cùng với việc Fed thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ khiến thước đo thanh khoản của thị trường trái phiếu giảm 6% trong năm nay, trái ngược với mức tăng trưởng hàng năm trong hầu hết các năm trong thập niên qua.

Mỹ dựa vào các biện pháp quản lý đặc biệt để trang trải các hóa đơn trong những tháng gần đây khi Nhà Trắng và phe Cộng hòa gặp bế tắc trong đàm phán về nợ trần.

Với rủi ro vỡ nợ đã được loại bỏ nhờ thỏa thuận nợ trần đạt được trước thời hạn cuối 5-6, Bộ Tài chính Mỹ sẽ khởi động đợt bán trái phiếu mới với tổng giá trị lên đến 1.000 tỉ đô la Mỹ cho đến cuối quí 3, theo ước tính của của một số nhà phân tích ở Phố Wall. Bộ này sẽ bắt đầu bán đấu giá các lộ trái phiếu vào ngày 5-6 với tổng trị giá khoảng 170 tỉ đô la.

Điều gì xảy ra khi hàng tỉ đô la chạy qua hệ thống tài chính để rót vào lượng trái phiếu này không dễ dự đoán. Có nhiều khách mua trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn ngắn: ngân hàng, quỹ thị trường tiền tệ và nhiều người mua được phân loại “phi ngân hàng”, gồm hộ gia đình, quỹ hưu trí và doanh nghiệp.

Hiện tại, các ngân hàng không có nhu cầu lớn về trái phiếu chính phủ Mỹ vì lợi suất của chúng không cao bằng lãi suất cho vay.

Nhưng ngay cả khi các ngân hàng đứng ngoài cuộc, thì việc khách hàng rút tiền gửi ở ngân hàng để mua trái phiếu chính phủ Mỹ cũng làm hao hụt đáng kể nguồn dự trữ của họ.

Kịch bản tốt đẹp nhất là các quỹ thị trường trường tiền tệ sử dụng ngân quỹ của họ để mua phần lớn trái phiếu chính phủ Mỹ. Tuy nhiên, nếu các quỹ này không mua nhiều trái phiếu nhiều như kỳ vọng, thì các khách mua tiềm năng sẽ là hộ gia đình, quỹ hưu trí và doanh nghiệp. Những khách mua này có thể rút tiền gửi từ ngân hàng để thực hiện các giao dịch mua trái phiếu chính phủ Mỹ, làm trầm trọng thêm làn sóng rút tiền từ các ngân hàng khu vực trong thời gian gần đây.

Theo Althea Spinozzi, nhà chiến lược thu nhập cố định của Saxo Bank, các khách hàng đấu giá gián tiếp (các thực thể nước ngoài mua trái phiếu chính phủ Mỹ qua các kênh trung gian như công ty môi giới) cũng có thể là nguồn lực lớn . Bà nói: “Trong vài tuần qua, chúng tôi chứng kiến số lượng khách đấu giá gián tiếp ở mức kỷ lục trong các cuộc đấu giá bán trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ. Có vẻ như họ cũng sẽ hấp thụ một phần lớn trái phiếu chính phủ Mỹ trong các đợt phát hành sắp tới”.

Hiện tại, cơn phấn khích của giới đầu tư về triển vọng của trí tuệ nhân tạo đã đưa chỉ số S&P 500 lên đỉnh của một thị trường giá lên sau ba tuần tăng điểm. Trong khi đó, thanh khoản đối với các cổ phiếu riêng lẻ đang được cải thiện, đi ngược lại xu hướng chung.

Nhưng điều đó không dập tắt được nỗi sợ hãi về những gì thường xảy ra khi dự trữ của các ngân hàng sụt giảm rõ rệt: Cổ phiếu giảm giá và các tài sản rủi ro hơn sẽ chịu mức thua lỗ lớn.

“Chúng tôi nghĩ rằng giá cổ phiếu sẽ giảm dần và không có sự bùng nổ tăng giá nào nào do thanh khoản cạn kiệt”, Ulrich Urbahn, người đứng đầu bộ phận chiến lược đa tài sản của ngân hàng Berenberg, nhận định.

Có thể bạn quan tâm

Nhiều cơ hội đầu tư trong năm

Nhiều cơ hội đầu tư trong năm 'bản lề' 2026

Thị trường
Năm 2026 được xem là một cột mốc đặc biệt trong tiến trình phát triển kinh tế của Việt Nam. Đây là năm mở đầu của Kế hoạch 5 năm (2026 – 2030) và là thời điểm Việt Nam chính thức đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong nhiều năm liên tiếp.

'Tết đỏ đủ đầy' cùng Di Động Việt

Thị trường
Như thường lệ, thị trường bán lẻ công nghệ gần tết Nguyên đán đã nhộn nhịp trở lại. Ngoài các đợt giảm giá sâu để kích cầu tiêu dùng thì đây cũng được xem là “thời điểm vàng” để người dùng nâng cấp thiết bị với chi phí tiết kiệm nhất trong năm.
Ghi nhận chung về lợi nhuận tại các startup công nghệ Đông Nam Á

Ghi nhận chung về lợi nhuận tại các startup công nghệ Đông Nam Á

Kinh tế số
Sau hơn một thập kỷ tăng trưởng nóng dựa vào vốn đầu tư mạo hiểm, hệ sinh thái khởi nghiệp công nghệ Đông Nam Á đang bước vào giai đoạn bản lề. Đáng chú ý, một số startup và tập đoàn công nghệ lớn trong khu vực đã bắt đầu thoát lỗ, thậm chí ghi nhận lợi nhuận, đánh dấu sự thay đổi rõ rệt trong tư duy tăng trưởng.
Lazada khởi động chiến dịch

Lazada khởi động chiến dịch 'Siêu Sale Tết' 2026

Kinh tế số
Trong thời gian này, trên Lazada sẽ có loạt ưu đãi nổi bật như giảm giá đến 88%, voucher lên đến 8 triệu đồng, trợ giá đến 8 triệu đồng cùng freeship toàn sàn, chiến dịch mang đến cho người tiêu dùng cơ hội chủ động lên kế hoạch mua sắm sớm, tối ưu chi tiêu cho một mùa Tết trọn vẹn trong bối cảnh nhịp sống ngày càng bận rộn.
Thủ tướng: Phát triển dữ liệu, kinh tế dữ liệu với những đột phá và cải cách mạnh mẽ, toàn diện hơn

Thủ tướng: Phát triển dữ liệu, kinh tế dữ liệu với những đột phá và cải cách mạnh mẽ, toàn diện hơn

Không gian số
Kết luận phiên họp Ban Chỉ đạo quốc gia về dữ liệu, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, cần phát triển dữ liệu, kinh tế dữ liệu với những đột phá và cải cách mạnh mẽ, toàn diện hơn nữa để Việt Nam bắt kịp, tiến cùng và vươn lên trên các lĩnh vực, là động lực quan trọng góp phần tăng trưởng 2 con số thời gian tới, Thủ tướng nêu rõ 5 đột phá chiến lược về dữ liệu số, với tinh thần
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Khánh Hòa
Nghệ An
Phan Thiết
Quảng Bình
Thừa Thiên Huế
Hà Giang
Hải Phòng
Hà Nội

20°C

Cảm giác: 21°C
sương mờ
Chủ nhật, 18/01/2026 00:00
19°C
Chủ nhật, 18/01/2026 03:00
20°C
Chủ nhật, 18/01/2026 06:00
23°C
Chủ nhật, 18/01/2026 09:00
26°C
Chủ nhật, 18/01/2026 12:00
23°C
Chủ nhật, 18/01/2026 15:00
21°C
Chủ nhật, 18/01/2026 18:00
20°C
Chủ nhật, 18/01/2026 21:00
19°C
Thứ hai, 19/01/2026 00:00
19°C
Thứ hai, 19/01/2026 03:00
23°C
Thứ hai, 19/01/2026 06:00
25°C
Thứ hai, 19/01/2026 09:00
25°C
Thứ hai, 19/01/2026 12:00
23°C
Thứ hai, 19/01/2026 15:00
20°C
Thứ hai, 19/01/2026 18:00
20°C
Thứ hai, 19/01/2026 21:00
20°C
Thứ ba, 20/01/2026 00:00
19°C
Thứ ba, 20/01/2026 03:00
20°C
Thứ ba, 20/01/2026 06:00
21°C
Thứ ba, 20/01/2026 09:00
21°C
Thứ ba, 20/01/2026 12:00
21°C
Thứ ba, 20/01/2026 15:00
20°C
Thứ ba, 20/01/2026 18:00
20°C
Thứ ba, 20/01/2026 21:00
20°C
Thứ tư, 21/01/2026 00:00
19°C
Thứ tư, 21/01/2026 03:00
20°C
Thứ tư, 21/01/2026 06:00
21°C
Thứ tư, 21/01/2026 09:00
21°C
Thứ tư, 21/01/2026 12:00
20°C
Thứ tư, 21/01/2026 15:00
20°C
Thứ tư, 21/01/2026 18:00
19°C
Thứ tư, 21/01/2026 21:00
18°C
Thứ năm, 22/01/2026 00:00
17°C
Thứ năm, 22/01/2026 03:00
17°C
TP Hồ Chí Minh

28°C

Cảm giác: 31°C
mây cụm
Chủ nhật, 18/01/2026 00:00
22°C
Chủ nhật, 18/01/2026 03:00
29°C
Chủ nhật, 18/01/2026 06:00
32°C
Chủ nhật, 18/01/2026 09:00
29°C
Chủ nhật, 18/01/2026 12:00
25°C
Chủ nhật, 18/01/2026 15:00
23°C
Chủ nhật, 18/01/2026 18:00
23°C
Chủ nhật, 18/01/2026 21:00
22°C
Thứ hai, 19/01/2026 00:00
23°C
Thứ hai, 19/01/2026 03:00
29°C
Thứ hai, 19/01/2026 06:00
33°C
Thứ hai, 19/01/2026 09:00
29°C
Thứ hai, 19/01/2026 12:00
24°C
Thứ hai, 19/01/2026 15:00
24°C
Thứ hai, 19/01/2026 18:00
23°C
Thứ hai, 19/01/2026 21:00
22°C
Thứ ba, 20/01/2026 00:00
23°C
Thứ ba, 20/01/2026 03:00
28°C
Thứ ba, 20/01/2026 06:00
30°C
Thứ ba, 20/01/2026 09:00
29°C
Thứ ba, 20/01/2026 12:00
24°C
Thứ ba, 20/01/2026 15:00
23°C
Thứ ba, 20/01/2026 18:00
23°C
Thứ ba, 20/01/2026 21:00
22°C
Thứ tư, 21/01/2026 00:00
22°C
Thứ tư, 21/01/2026 03:00
28°C
Thứ tư, 21/01/2026 06:00
33°C
Thứ tư, 21/01/2026 09:00
33°C
Thứ tư, 21/01/2026 12:00
25°C
Thứ tư, 21/01/2026 15:00
23°C
Thứ tư, 21/01/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 21/01/2026 21:00
22°C
Thứ năm, 22/01/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 22/01/2026 03:00
28°C
Đà Nẵng

24°C

Cảm giác: 24°C
mây rải rác
Chủ nhật, 18/01/2026 00:00
20°C
Chủ nhật, 18/01/2026 03:00
22°C
Chủ nhật, 18/01/2026 06:00
22°C
Chủ nhật, 18/01/2026 09:00
23°C
Chủ nhật, 18/01/2026 12:00
22°C
Chủ nhật, 18/01/2026 15:00
21°C
Chủ nhật, 18/01/2026 18:00
20°C
Chủ nhật, 18/01/2026 21:00
19°C
Thứ hai, 19/01/2026 00:00
19°C
Thứ hai, 19/01/2026 03:00
23°C
Thứ hai, 19/01/2026 06:00
24°C
Thứ hai, 19/01/2026 09:00
23°C
Thứ hai, 19/01/2026 12:00
22°C
Thứ hai, 19/01/2026 15:00
21°C
Thứ hai, 19/01/2026 18:00
21°C
Thứ hai, 19/01/2026 21:00
20°C
Thứ ba, 20/01/2026 00:00
20°C
Thứ ba, 20/01/2026 03:00
22°C
Thứ ba, 20/01/2026 06:00
24°C
Thứ ba, 20/01/2026 09:00
24°C
Thứ ba, 20/01/2026 12:00
22°C
Thứ ba, 20/01/2026 15:00
22°C
Thứ ba, 20/01/2026 18:00
21°C
Thứ ba, 20/01/2026 21:00
20°C
Thứ tư, 21/01/2026 00:00
20°C
Thứ tư, 21/01/2026 03:00
22°C
Thứ tư, 21/01/2026 06:00
22°C
Thứ tư, 21/01/2026 09:00
23°C
Thứ tư, 21/01/2026 12:00
22°C
Thứ tư, 21/01/2026 15:00
22°C
Thứ tư, 21/01/2026 18:00
22°C
Thứ tư, 21/01/2026 21:00
22°C
Thứ năm, 22/01/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 22/01/2026 03:00
23°C
Khánh Hòa

28°C

Cảm giác: 29°C
mây đen u ám
Chủ nhật, 18/01/2026 00:00
19°C
Chủ nhật, 18/01/2026 03:00
26°C
Chủ nhật, 18/01/2026 06:00
30°C
Chủ nhật, 18/01/2026 09:00
27°C
Chủ nhật, 18/01/2026 12:00
21°C
Chủ nhật, 18/01/2026 15:00
19°C
Chủ nhật, 18/01/2026 18:00
18°C
Chủ nhật, 18/01/2026 21:00
18°C
Thứ hai, 19/01/2026 00:00
19°C
Thứ hai, 19/01/2026 03:00
28°C
Thứ hai, 19/01/2026 06:00
30°C
Thứ hai, 19/01/2026 09:00
27°C
Thứ hai, 19/01/2026 12:00
21°C
Thứ hai, 19/01/2026 15:00
19°C
Thứ hai, 19/01/2026 18:00
18°C
Thứ hai, 19/01/2026 21:00
17°C
Thứ ba, 20/01/2026 00:00
18°C
Thứ ba, 20/01/2026 03:00
27°C
Thứ ba, 20/01/2026 06:00
30°C
Thứ ba, 20/01/2026 09:00
27°C
Thứ ba, 20/01/2026 12:00
20°C
Thứ ba, 20/01/2026 15:00
18°C
Thứ ba, 20/01/2026 18:00
17°C
Thứ ba, 20/01/2026 21:00
16°C
Thứ tư, 21/01/2026 00:00
18°C
Thứ tư, 21/01/2026 03:00
27°C
Thứ tư, 21/01/2026 06:00
28°C
Thứ tư, 21/01/2026 09:00
27°C
Thứ tư, 21/01/2026 12:00
20°C
Thứ tư, 21/01/2026 15:00
19°C
Thứ tư, 21/01/2026 18:00
19°C
Thứ tư, 21/01/2026 21:00
18°C
Thứ năm, 22/01/2026 00:00
20°C
Thứ năm, 22/01/2026 03:00
26°C
Nghệ An

23°C

Cảm giác: 23°C
mây thưa
Chủ nhật, 18/01/2026 00:00
18°C
Chủ nhật, 18/01/2026 03:00
20°C
Chủ nhật, 18/01/2026 06:00
27°C
Chủ nhật, 18/01/2026 09:00
26°C
Chủ nhật, 18/01/2026 12:00
19°C
Chủ nhật, 18/01/2026 15:00
17°C
Chủ nhật, 18/01/2026 18:00
16°C
Chủ nhật, 18/01/2026 21:00
15°C
Thứ hai, 19/01/2026 00:00
15°C
Thứ hai, 19/01/2026 03:00
23°C
Thứ hai, 19/01/2026 06:00
27°C
Thứ hai, 19/01/2026 09:00
26°C
Thứ hai, 19/01/2026 12:00
19°C
Thứ hai, 19/01/2026 15:00
16°C
Thứ hai, 19/01/2026 18:00
16°C
Thứ hai, 19/01/2026 21:00
15°C
Thứ ba, 20/01/2026 00:00
17°C
Thứ ba, 20/01/2026 03:00
21°C
Thứ ba, 20/01/2026 06:00
21°C
Thứ ba, 20/01/2026 09:00
21°C
Thứ ba, 20/01/2026 12:00
19°C
Thứ ba, 20/01/2026 15:00
18°C
Thứ ba, 20/01/2026 18:00
18°C
Thứ ba, 20/01/2026 21:00
18°C
Thứ tư, 21/01/2026 00:00
17°C
Thứ tư, 21/01/2026 03:00
19°C
Thứ tư, 21/01/2026 06:00
22°C
Thứ tư, 21/01/2026 09:00
22°C
Thứ tư, 21/01/2026 12:00
18°C
Thứ tư, 21/01/2026 15:00
18°C
Thứ tư, 21/01/2026 18:00
18°C
Thứ tư, 21/01/2026 21:00
17°C
Thứ năm, 22/01/2026 00:00
17°C
Thứ năm, 22/01/2026 03:00
21°C
Phan Thiết

27°C

Cảm giác: 28°C
mây cụm
Chủ nhật, 18/01/2026 00:00
21°C
Chủ nhật, 18/01/2026 03:00
25°C
Chủ nhật, 18/01/2026 06:00
27°C
Chủ nhật, 18/01/2026 09:00
25°C
Chủ nhật, 18/01/2026 12:00
22°C
Chủ nhật, 18/01/2026 15:00
22°C
Chủ nhật, 18/01/2026 18:00
22°C
Chủ nhật, 18/01/2026 21:00
21°C
Thứ hai, 19/01/2026 00:00
21°C
Thứ hai, 19/01/2026 03:00
26°C
Thứ hai, 19/01/2026 06:00
27°C
Thứ hai, 19/01/2026 09:00
26°C
Thứ hai, 19/01/2026 12:00
22°C
Thứ hai, 19/01/2026 15:00
22°C
Thứ hai, 19/01/2026 18:00
21°C
Thứ hai, 19/01/2026 21:00
20°C
Thứ ba, 20/01/2026 00:00
21°C
Thứ ba, 20/01/2026 03:00
26°C
Thứ ba, 20/01/2026 06:00
26°C
Thứ ba, 20/01/2026 09:00
25°C
Thứ ba, 20/01/2026 12:00
22°C
Thứ ba, 20/01/2026 15:00
22°C
Thứ ba, 20/01/2026 18:00
21°C
Thứ ba, 20/01/2026 21:00
20°C
Thứ tư, 21/01/2026 00:00
21°C
Thứ tư, 21/01/2026 03:00
27°C
Thứ tư, 21/01/2026 06:00
28°C
Thứ tư, 21/01/2026 09:00
26°C
Thứ tư, 21/01/2026 12:00
23°C
Thứ tư, 21/01/2026 15:00
22°C
Thứ tư, 21/01/2026 18:00
21°C
Thứ tư, 21/01/2026 21:00
20°C
Thứ năm, 22/01/2026 00:00
21°C
Thứ năm, 22/01/2026 03:00
26°C
Quảng Bình

24°C

Cảm giác: 24°C
bầu trời quang đãng
Chủ nhật, 18/01/2026 00:00
15°C
Chủ nhật, 18/01/2026 03:00
22°C
Chủ nhật, 18/01/2026 06:00
25°C
Chủ nhật, 18/01/2026 09:00
22°C
Chủ nhật, 18/01/2026 12:00
17°C
Chủ nhật, 18/01/2026 15:00
16°C
Chủ nhật, 18/01/2026 18:00
15°C
Chủ nhật, 18/01/2026 21:00
14°C
Thứ hai, 19/01/2026 00:00
15°C
Thứ hai, 19/01/2026 03:00
23°C
Thứ hai, 19/01/2026 06:00
25°C
Thứ hai, 19/01/2026 09:00
23°C
Thứ hai, 19/01/2026 12:00
17°C
Thứ hai, 19/01/2026 15:00
16°C
Thứ hai, 19/01/2026 18:00
16°C
Thứ hai, 19/01/2026 21:00
16°C
Thứ ba, 20/01/2026 00:00
17°C
Thứ ba, 20/01/2026 03:00
21°C
Thứ ba, 20/01/2026 06:00
22°C
Thứ ba, 20/01/2026 09:00
21°C
Thứ ba, 20/01/2026 12:00
17°C
Thứ ba, 20/01/2026 15:00
15°C
Thứ ba, 20/01/2026 18:00
15°C
Thứ ba, 20/01/2026 21:00
15°C
Thứ tư, 21/01/2026 00:00
15°C
Thứ tư, 21/01/2026 03:00
21°C
Thứ tư, 21/01/2026 06:00
23°C
Thứ tư, 21/01/2026 09:00
21°C
Thứ tư, 21/01/2026 12:00
16°C
Thứ tư, 21/01/2026 15:00
16°C
Thứ tư, 21/01/2026 18:00
16°C
Thứ tư, 21/01/2026 21:00
16°C
Thứ năm, 22/01/2026 00:00
16°C
Thứ năm, 22/01/2026 03:00
21°C
Thừa Thiên Huế

24°C

Cảm giác: 24°C
mây rải rác
Chủ nhật, 18/01/2026 00:00
18°C
Chủ nhật, 18/01/2026 03:00
24°C
Chủ nhật, 18/01/2026 06:00
26°C
Chủ nhật, 18/01/2026 09:00
23°C
Chủ nhật, 18/01/2026 12:00
18°C
Chủ nhật, 18/01/2026 15:00
18°C
Chủ nhật, 18/01/2026 18:00
17°C
Chủ nhật, 18/01/2026 21:00
17°C
Thứ hai, 19/01/2026 00:00
17°C
Thứ hai, 19/01/2026 03:00
25°C
Thứ hai, 19/01/2026 06:00
27°C
Thứ hai, 19/01/2026 09:00
24°C
Thứ hai, 19/01/2026 12:00
19°C
Thứ hai, 19/01/2026 15:00
18°C
Thứ hai, 19/01/2026 18:00
17°C
Thứ hai, 19/01/2026 21:00
17°C
Thứ ba, 20/01/2026 00:00
17°C
Thứ ba, 20/01/2026 03:00
24°C
Thứ ba, 20/01/2026 06:00
26°C
Thứ ba, 20/01/2026 09:00
23°C
Thứ ba, 20/01/2026 12:00
19°C
Thứ ba, 20/01/2026 15:00
18°C
Thứ ba, 20/01/2026 18:00
17°C
Thứ ba, 20/01/2026 21:00
16°C
Thứ tư, 21/01/2026 00:00
16°C
Thứ tư, 21/01/2026 03:00
24°C
Thứ tư, 21/01/2026 06:00
24°C
Thứ tư, 21/01/2026 09:00
23°C
Thứ tư, 21/01/2026 12:00
19°C
Thứ tư, 21/01/2026 15:00
18°C
Thứ tư, 21/01/2026 18:00
19°C
Thứ tư, 21/01/2026 21:00
19°C
Thứ năm, 22/01/2026 00:00
19°C
Thứ năm, 22/01/2026 03:00
24°C
Hà Giang

20°C

Cảm giác: 20°C
mây đen u ám
Chủ nhật, 18/01/2026 00:00
15°C
Chủ nhật, 18/01/2026 03:00
20°C
Chủ nhật, 18/01/2026 06:00
23°C
Chủ nhật, 18/01/2026 09:00
23°C
Chủ nhật, 18/01/2026 12:00
18°C
Chủ nhật, 18/01/2026 15:00
17°C
Chủ nhật, 18/01/2026 18:00
17°C
Chủ nhật, 18/01/2026 21:00
16°C
Thứ hai, 19/01/2026 00:00
17°C
Thứ hai, 19/01/2026 03:00
21°C
Thứ hai, 19/01/2026 06:00
23°C
Thứ hai, 19/01/2026 09:00
22°C
Thứ hai, 19/01/2026 12:00
20°C
Thứ hai, 19/01/2026 15:00
19°C
Thứ hai, 19/01/2026 18:00
18°C
Thứ hai, 19/01/2026 21:00
18°C
Thứ ba, 20/01/2026 00:00
18°C
Thứ ba, 20/01/2026 03:00
21°C
Thứ ba, 20/01/2026 06:00
23°C
Thứ ba, 20/01/2026 09:00
22°C
Thứ ba, 20/01/2026 12:00
19°C
Thứ ba, 20/01/2026 15:00
18°C
Thứ ba, 20/01/2026 18:00
18°C
Thứ ba, 20/01/2026 21:00
18°C
Thứ tư, 21/01/2026 00:00
17°C
Thứ tư, 21/01/2026 03:00
18°C
Thứ tư, 21/01/2026 06:00
17°C
Thứ tư, 21/01/2026 09:00
17°C
Thứ tư, 21/01/2026 12:00
17°C
Thứ tư, 21/01/2026 15:00
17°C
Thứ tư, 21/01/2026 18:00
17°C
Thứ tư, 21/01/2026 21:00
16°C
Thứ năm, 22/01/2026 00:00
16°C
Thứ năm, 22/01/2026 03:00
16°C
Hải Phòng

23°C

Cảm giác: 23°C
mây thưa
Chủ nhật, 18/01/2026 00:00
19°C
Chủ nhật, 18/01/2026 03:00
21°C
Chủ nhật, 18/01/2026 06:00
25°C
Chủ nhật, 18/01/2026 09:00
24°C
Chủ nhật, 18/01/2026 12:00
21°C
Chủ nhật, 18/01/2026 15:00
19°C
Chủ nhật, 18/01/2026 18:00
19°C
Chủ nhật, 18/01/2026 21:00
18°C
Thứ hai, 19/01/2026 00:00
18°C
Thứ hai, 19/01/2026 03:00
24°C
Thứ hai, 19/01/2026 06:00
26°C
Thứ hai, 19/01/2026 09:00
23°C
Thứ hai, 19/01/2026 12:00
21°C
Thứ hai, 19/01/2026 15:00
20°C
Thứ hai, 19/01/2026 18:00
20°C
Thứ hai, 19/01/2026 21:00
20°C
Thứ ba, 20/01/2026 00:00
20°C
Thứ ba, 20/01/2026 03:00
21°C
Thứ ba, 20/01/2026 06:00
23°C
Thứ ba, 20/01/2026 09:00
22°C
Thứ ba, 20/01/2026 12:00
21°C
Thứ ba, 20/01/2026 15:00
21°C
Thứ ba, 20/01/2026 18:00
20°C
Thứ ba, 20/01/2026 21:00
20°C
Thứ tư, 21/01/2026 00:00
20°C
Thứ tư, 21/01/2026 03:00
20°C
Thứ tư, 21/01/2026 06:00
20°C
Thứ tư, 21/01/2026 09:00
20°C
Thứ tư, 21/01/2026 12:00
20°C
Thứ tư, 21/01/2026 15:00
20°C
Thứ tư, 21/01/2026 18:00
19°C
Thứ tư, 21/01/2026 21:00
18°C
Thứ năm, 22/01/2026 00:00
18°C
Thứ năm, 22/01/2026 03:00
18°C

Giá vàngTỷ giá

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 158,000 161,000
Hà Nội - PNJ 158,000 161,000
Đà Nẵng - PNJ 158,000 161,000
Miền Tây - PNJ 158,000 161,000
Tây Nguyên - PNJ 158,000 161,000
Đông Nam Bộ - PNJ 158,000 161,000
Cập nhật: 17/01/2026 10:45
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,080 16,280
Miếng SJC Nghệ An 16,080 16,280
Miếng SJC Thái Bình 16,080 16,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,930 16,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,930 16,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,930 16,230
NL 99.99 14,980
Nhẫn tròn ko ép vỉ T.Bình 14,980
Trang sức 99.9 15,520 16,120
Trang sức 99.99 15,530 16,130
Cập nhật: 17/01/2026 10:45
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,608 1,628
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,608 16,282
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,608 16,283
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,572 1,597
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,572 1,598
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,557 1,587
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,129 157,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 110,687 119,187
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 99,577 108,077
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 88,467 96,967
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,181 92,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,835 66,335
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,608 1,628
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,608 1,628
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,608 1,628
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,608 1,628
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,608 1,628
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,608 1,628
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,608 1,628
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,608 1,628
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,608 1,628
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,608 1,628
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,608 1,628
Cập nhật: 17/01/2026 10:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17019 17290 17879
CAD 18347 18623 19240
CHF 32071 32453 33094
CNY 0 3470 3830
EUR 29835 30107 31146
GBP 34352 34744 35682
HKD 0 3239 3442
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14800 15385
SGD 19837 20119 20649
THB 750 813 868
USD (1,2) 26006 0 0
USD (5,10,20) 26047 0 0
USD (50,100) 26076 26095 26387
Cập nhật: 17/01/2026 10:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,087 26,087 26,387
USD(1-2-5) 25,044 - -
USD(10-20) 25,044 - -
EUR 30,063 30,087 31,322
JPY 162.68 162.97 170.33
GBP 34,711 34,805 35,734
AUD 17,330 17,393 17,896
CAD 18,585 18,645 19,231
CHF 32,396 32,497 33,271
SGD 19,993 20,055 20,741
CNY - 3,716 3,827
HKD 3,313 3,323 3,415
KRW 16.49 17.2 18.53
THB 799.54 809.41 863.94
NZD 14,814 14,952 15,346
SEK - 2,801 2,892
DKK - 4,019 4,148
NOK - 2,557 2,639
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,056.99 - 6,818.2
TWD 753.22 - 909.08
SAR - 6,897.06 7,241.93
KWD - 83,726 88,807
Cập nhật: 17/01/2026 10:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,085 26,087 26,387
EUR 29,920 30,040 31,204
GBP 34,514 34,653 35,645
HKD 3,302 3,315 3,428
CHF 32,127 32,256 33,169
JPY 161.76 162.41 169.63
AUD 17,261 17,330 17,901
SGD 20,046 20,127 20,705
THB 814 817 855
CAD 18,570 18,645 19,219
NZD 14,849 15,375
KRW 17.12 18.73
Cập nhật: 17/01/2026 10:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26073 26073 26387
AUD 17258 17358 18283
CAD 18561 18661 19675
CHF 32351 32381 33963
CNY 0 3734.5 0
CZK 0 1220 0
DKK 0 4125 0
EUR 30053 30083 31806
GBP 34708 34758 36519
HKD 0 3390 0
JPY 162.56 163.06 173.62
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.173 0
MYR 0 6640 0
NOK 0 2595 0
NZD 0 14925 0
PHP 0 417 0
SEK 0 2820 0
SGD 20017 20147 20868
THB 0 781.7 0
TWD 0 840 0
SJC 9999 16080000 16080000 16280000
SBJ 14000000 14000000 16280000
Cập nhật: 17/01/2026 10:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,080 26,130 26,387
USD20 26,080 26,130 26,387
USD1 26,080 26,130 26,387
AUD 17,295 17,395 18,532
EUR 30,187 30,187 31,647
CAD 18,492 18,592 19,929
SGD 20,079 20,229 20,829
JPY 162.99 164.49 169.32
GBP 34,770 34,920 35,739
XAU 16,078,000 0 16,282,000
CNY 0 3,617 0
THB 0 817 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/01/2026 10:45