Chất lượng tài sản của Eximbank

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Eximbank báo lãi lớn quý III nhưng mới đạt 41% kế hoạch năm sau 9 tháng. Ngân hàng báo nợ xấu vượt 4.300 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu tăng.

chat luong tai san cua eximbank

Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, Mã chứng khoán: EIB) vừa công bố báo cáo tài chính quý III với nhiều biến động tài chính.

Mục tiêu lợi nhuận năm còn xa dù lãi lớn

Báo cáo tài chính hợp nhất quý III của Eximbank cho thấy ngân hàng ghi nhận lợi nhuận trước thuế tăng đột biến, đạt gần 904 tỷ đồng, tương ứng 194,4%, tức gấp 3 lần so với cùng kỳ năm 2023.

Lũy kế 9 tháng, lợi nhuận ngân hàng đạt hơn 2.377 tỷ đồng, tăng 39% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, năm nay, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận năm là 5.180 tỷ đồng nên sau 3 quý, Eximbank mới thực hiện được 45,9% kế hoạch lợi nhuận đặt ra.

Trong quý III vừa rồi, động lực tăng trưởng của ngân hàng đến từ các mảng kinh doanh chính như tín dụng, kinh doanh ngoại hối...

Cụ thể, thu nhập lãi thuần đóng góp đáng kể vào lợi nhuận ngân hàng với hơn 1.535 tỷ đồng, tăng 76,8% so với cùng kỳ. Lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối đạt gần 282 tỷ đồng, tăng 265,3% so với cùng kỳ. Lãi thuần từ hoạt động kinh doanh khác tăng 181,5%, mang về cho ngân hàng 89,2 tỷ đồng.

Chiều ngược lại, mảng dịch vụ giảm nhẹ, từ 115,6 tỷ đồng trong quý III/2023 xuống còn 102,9 tỷ đồng trong quý này, giảm tương ứng 11%.

Đến cuối quý III, lãi từ hoạt động chứng khoán đầu tư tăng từ 6.983 tỷ đồng hồi đầu năm lên 21.801 tỷ đồng. Chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán đạt 11.148 tỷ đồng, chiếm một nửa; chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn (không bao gồm trái phiếu đặc biệt VAMC) ghi nhận 10.653 tỷ đồng, tăng 211,2% so với hồi đầu năm. Tuy nhiên, hoạt động chứng khoán đầu tư về cơ bản không mấy khởi sắc khi ghi nhận khoản lỗ 40,2 tỷ đồng trong quý vừa qua, trong khi cùng kỳ năm trước vẫn có lãi tới 141 tỷ đồng.

Tổng thu nhập hoạt động (TOI) của ngân hàng đạt 1.970 tỷ đồng, tăng 59,5% so với cùng kỳ. Sau khi trừ đi chi phí hoạt động, lãi thuần từ hoạt động kinh doanh đạt 1.105 tỷ đồng, tăng 131,8%.

chat luong tai san cua eximbank

Các chỉ tiêu tài chính của Eximbank (Ảnh chụp màn hình).

Nợ có khả năng mất vốn tăng nhanh

Tổng tài sản tính đến cuối quý III của ngân hàng đạt 223.683 tỷ đồng, tăng 11% so với đầu năm. Huy động vốn từ tổ chức kinh tế và cư dân đạt 167.603 tỷ đồng, tăng 7%.

Dư nợ cho vay của ngân hàng đạt 159.483 tỷ đồng, tăng 14% so với đầu năm. Trong đó, chiếm chủ yếu là cho vay tổ chức, cá nhân trong nước song ngân hàng không có thuyết minh chi tiết về khoản này.

Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước chỉ còn 2.546 tỷ đồng, giảm 37% so với đầu năm. Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác cũng giảm 25% còn 32.300 tỷ đồng. Tiền vay Ngân hàng Nhà nước của Eximbank tăng đột biến lên 1.533 tỷ đồng, trong khi đầu năm chỉ tiêu này là chưa đến 20 tỷ đồng.

Về chất lượng tài sản, số dư nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) của Eximbank vào cuối quý III ở mức 4.318 tỷ đồng, tăng gần 16% so với cuối năm trước, đưa tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay khách hàng tăng từ 2,65% lên 2,71%.

Trong đó, số dư nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) tăng 51% so với cùng kỳ năm trước từ 1.868 tỷ đồng lên 2.825 tỷ đồng.

Dự phòng rủi ro khách hàng cũng tăng lên đáng kể, từ mức 1.535 tỷ đồng đầu năm lên 1.724 tỷ đồng tại cuối tháng 9, tương đương mức tăng 12,3%. Ngoài ra, do chất lượng nợ vay đi xuống, Eximbank đã phải gia tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng lên 704 tỷ đồng, tăng 60% so với cùng kỳ năm ngoái.

Các khoản lãi, phí phải thu tăng 32%, từ 805 tỷ đồng lên 1.064 tỷ đồng. Đây là khoản tiền chưa nhận về mà dự kiến thu trong tương lai từ các tài sản sinh lời, trong đó bao gồm các sản phẩm cho vay, nhưng vẫn được các ngân hàng hạch toán để tạo nên lợi nhuận.

Về nguyên tắc kế toán, ngân hàng chỉ được dự thu với khoản lãi sinh ra từ các khoản nợ đủ tiêu chuẩn (nợ nhóm 1), vốn là các khoản nợ lành mạnh, được đánh giá có khả năng thu hồi nợ tốt.

Năm nay, nhà băng này đặt mục tiêu hết năm tổng tài sản tăng lên 223.500 tỷ đồng; huy động vốn thêm 10,5%, đạt 175.000 tỷ đồng. Dư nợ tín dụng dự kiến tăng trưởng hơn 14%, khoảng 161.000 tỷ đồng, trong khi mục tiêu tỷ lệ nợ xấu giảm về 1,8%.

Đến cuối tháng 9, Eximbank có 6.380 nhân viên, tăng thêm 146 người so với đầu năm. Chi phí cho nhân viên tăng 20% so với cùng kỳ năm trước, lên 496 tỷ đồng trong quý III.

Eximbank có dần phục hồi sau chục năm tụt lại phía sau?

Lợi nhuận của Eximbank "lao dốc" từ năm 2013 và trong gần chục năm sau đó, khi các ngân hàng cùng quy mô bứt phá thì lợi nhuận của Eximbank quanh quẩn mức 1.000 tỷ đồng mỗi năm. Bảng xếp hạng top ngân hàng nhiều năm cũng không có tên Eximbank.

Tuy nhiên, kết quả kinh doanh bắt đầu khởi sắc trong năm 2022 với khoản lãi hơn 3.700 tỷ đồng, bước đầu khẳng định cho lời hứa đưa Eximbank trở lại quỹ đạo sau nhiều năm tụt hậu quá sâu của bà Lương Thị Cẩm Tú, cựu Chủ tịch Eximbank giai đoạn đó.

chat luong tai san cua eximbank

Sau nhiều năm lục đục ở dàn nhân sự cấp thượng tầng, 2022 là năm đầu tiên nhà băng này tổ chức đại hội cổ đông thành công và dàn xếp được bộ máy hội đồng quản trị nhiệm kỳ mới.

Song đến năm 2023, một lần nữa thượng tầng biến chuyển, khi bà Đỗ Hà Phương làm Chủ tịch Eximbank thay bà Tú, lợi nhuận Eximbank lại giảm hơn 1.000 tỷ đồng.

Gần nhất, đến tháng 4 năm nay, chủ tịch mới của nhà băng này là ông Nguyễn Cảnh Anh. Trước khi tham gia Eximbank, ông Cảnh Anh có nhiều năm làm việc tại các tập đoàn, định chế tài chính lớn như Techcombank, Viettel, Vingroup và gần nhất là EVN Finance.

Trong bối cảnh ngành ngân hàng có nhiều thay đổi, như mặt bằng lãi suất đi lên, tín dụng bất động sản gặp khó, tốc độ tăng trưởng chậm của kinh tế toàn cầu, lạm phát cao... lãnh đạo Eximbank lại tiếp tục có những đề xuất thay đổi lớn.

Cụ thể, dự kiến tháng 11, nhà băng này sẽ tổ chức cuộc họp cổ đông bất thường, nhằm thông qua việc thay đổi trụ sở chính. Đây là lần đầu ngân hàng này họp cổ đông bất thường tại Hà Nội, thay vì tại TPHCM như trước đây.

Bản thân ngân hàng cũng đang trong giai đoạn vướng "bão" tin đồn, khi thị trường mới đây lan truyền văn bản "kiến nghị và phản ánh khẩn cấp về rủi ro nghiêm trọng dẫn đến mất an toàn hoạt động và nguy cơ sụp đổ hệ thống Eximbank". Ngân hàng cho biết tài liệu không xuất phát từ ngân hàng và chưa được xác thực song cũng không khẳng định tài liệu là sai.

Hồi tháng 4, ngân hàng cũng vướng lùm xùm. Một khách hàng ở Quảng Ninh cho rằng bản thân không tiêu thẻ tín dụng nên không thanh toán và sau 11 năm, nợ xấu từ 8,5 triệu đồng lên thành 8,84 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Hoàng Hải - khi đó là quyền Tổng giám đốc tại ĐHĐCĐ nói khoản nợ thẻ tín dụng 8,8 tỷ đồng gây hoang mang dư luận là bài học lớn của nhà băng, sẽ không để tình trạng này lặp lại. Ngân hàng cũng không thu khoản nợ 8,8 tỷ đồng mà làm việc lại với khách hàng để thống nhất cách xử lý hợp tình và hài hòa lợi ích đôi bên.

Mới nhất, bà Trần Thị Thanh Nhã - vợ của ông Ngo Tony - Trưởng Ban kiểm soát Eximbank - đã đăng ký bán hết 123.298 cổ phiếu, chiếm 0,006% vốn ngân hàng từ ngày 30/10 đến ngày 8/11.

Phương thức giao dịch là theo phương thức khớp lệnh. Nếu giao dịch thành công bà Nhã sẽ không còn là cổ đông của EIB. Bà Nhã sẽ thu về khoảng 2,5 tỷ đồng nếu giao dịch thành công. Trong khi đó, ông Ngo Tony không nắm giữ bất kỳ cổ phiếu EIB nào.

Hiện tại, Công ty cổ phần Tập đoàn Gelex là cổ đông lớn nhất tại Eximbank khi sở hữu 10% vốn. Vietcombank là cổ đông lớn thứ 2, sở hữu 4,51% vốn. Công ty cổ phần Chứng khoán VIX sở hữu 3,58% vốn. Có 2 cá nhân là bà Lương Thị Cẩm Tú (Phó chủ tịch Eximbank) và Lê Thị Mai Loan giữ lần lượt 1,12% và 1,03% vốn.


XEM THÊM: Eximbank lên tiếng về tài liệu 'rủi ro nghiêm trọng' lan truyền trên mạng


Theo Dân Trí

Có thể bạn quan tâm

Hà Nội thúc đẩy kinh tế số từ hộ kinh doanh

Hà Nội thúc đẩy kinh tế số từ hộ kinh doanh

Hạ tầng thông minh
Phát triển kinh tế số không chỉ được đo bằng số lượng doanh nghiệp công nghệ hay những dự án quy mô lớn, mà còn nằm ở khả năng đưa công nghệ đến với từng hộ kinh doanh, từng cửa hàng và từng cơ sở sản xuất. Với cách tiếp cận này, Hà Nội đang lựa chọn một hướng đi thực chất: xây dựng kinh tế số từ chính lực lượng đông đảo nhất của nền kinh tế.
Bộ Tài chính Việt Nam trao đổi kinh nghiệm với Cơ quan Dịch vụ Tài chính Nhật Bản về phát triển thị trường chứng khoán

Bộ Tài chính Việt Nam trao đổi kinh nghiệm với Cơ quan Dịch vụ Tài chính Nhật Bản về phát triển thị trường chứng khoán

Fintech
Ngày 14/7/2026, tại Tokyo, Đoàn công tác của Bộ Tài chính do Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi làm trưởng đoàn đã làm việc với Cơ quan Dịch vụ Tài chính Nhật Bản (JFSA) và Ủy ban Chứng khoán và Giám sát Giao dịch Nhật Bản (SESC).
Đề xuất đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào diện báo cáo phòng, chống rửa tiền

Đề xuất đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào diện báo cáo phòng, chống rửa tiền

Fintech
Sáng 14/7, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự án luật sửa đổi ba đạo luật ngành ngân hàng, bổ sung trách nhiệm phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa.
Hướng đến phát triển bền vững, Mastercard và VPBank ra mắt tính năng mới

Hướng đến phát triển bền vững, Mastercard và VPBank ra mắt tính năng mới

Fintech
Như vậy, VPBank là ngân hàng đầu tiên trên thị trường triển khai giải pháp này dành cho chủ thẻ tín dụng VPBank Mastercard. Sáng kiến này giúp khách hàng ước tính lượng phát thải carbon từ các giao dịch chi tiêu hằng ngày, từ đó đưa ra những lựa chọn chi tiêu bền vững hơn.
VSDC đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa, triển khai hiệu quả lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán

VSDC đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa, triển khai hiệu quả lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán

Fintech
Trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam hướng tới nâng hạng lên thị trường mới nổi, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam với 20 năm hình thành và phát triển, được đánh giá là một trong những đơn vị tiên phong tháo gỡ các nút thắt về hạ tầng kỹ thuật, tạo nền tảng cho quá trình hiện đại hóa và nâng hạng thị trường.
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Hà Giang
Hải Phòng
Khánh Hòa
Nghệ An
Phan Thiết
Quảng Bình
Hà Nội

30°C

Cảm giác: 37°C
mây đen u ám
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
32°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
35°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
34°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
30°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
27°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
32°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
34°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
32°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
26°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
34°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
28°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
31°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
33°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
32°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
29°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
26°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
27°C
Chủ nhật, 26/07/2026 03:00
31°C
TP Hồ Chí Minh

33°C

Cảm giác: 40°C
mây cụm
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
29°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
33°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
36°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
37°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
31°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
30°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
30°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
33°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
32°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
32°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
27°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
26°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
34°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
29°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
32°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
34°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
32°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
30°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
26°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
27°C
Chủ nhật, 26/07/2026 03:00
32°C
Đà Nẵng

32°C

Cảm giác: 36°C
mây đen u ám
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
32°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
31°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
30°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
29°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
27°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
29°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
31°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
31°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
30°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
29°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
27°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
27°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
28°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
29°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
30°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
30°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
28°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
28°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
26°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
27°C
Chủ nhật, 26/07/2026 03:00
30°C
Thừa Thiên Huế

39°C

Cảm giác: 39°C
mây cụm
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
37°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
33°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
25°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
24°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
37°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
33°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
36°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
23°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
35°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
35°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
23°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
34°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
34°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
32°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
23°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
26°C
Chủ nhật, 26/07/2026 03:00
35°C
Hà Giang

34°C

Cảm giác: 40°C
mây thưa
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
24°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
34°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
31°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
25°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
24°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
29°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
30°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
31°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
28°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
30°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
24°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 26/07/2026 03:00
26°C
Hải Phòng

28°C

Cảm giác: 33°C
mây đen u ám
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
32°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
30°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
32°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
27°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
32°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
32°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
30°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
27°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
26°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
28°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
28°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
28°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
32°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
33°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
32°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
28°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
27°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
28°C
Chủ nhật, 26/07/2026 03:00
32°C
Khánh Hòa

40°C

Cảm giác: 41°C
mây rải rác
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
29°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
38°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
41°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
33°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
29°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
38°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
39°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
35°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
37°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
31°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
28°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
35°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
39°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
33°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
24°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
27°C
Chủ nhật, 26/07/2026 03:00
36°C
Nghệ An

31°C

Cảm giác: 33°C
mây đen u ám
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
29°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
24°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
22°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
22°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
21°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
21°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
35°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
33°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
23°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
34°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
23°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
23°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
30°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
31°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
23°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
23°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
22°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
23°C
Chủ nhật, 26/07/2026 03:00
31°C
Phan Thiết

33°C

Cảm giác: 36°C
mây cụm
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
33°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
34°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
34°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
33°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
34°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
33°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
34°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
28°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
33°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
33°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
32°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
25°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
27°C
Chủ nhật, 26/07/2026 03:00
33°C
Quảng Bình

32°C

Cảm giác: 32°C
mây đen u ám
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
25°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
26°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
29°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
25°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
24°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
22°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
23°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
33°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
31°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
24°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
23°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
22°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
29°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
33°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
23°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
22°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
33°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
31°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
29°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
23°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
22°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
22°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 26/07/2026 03:00
33°C

Giá vàngTỷ giá

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,000 145,000
Hà Nội - PNJ 141,000 145,000
Đà Nẵng - PNJ 141,000 145,000
Miền Tây - PNJ 141,000 145,000
Tây Nguyên - PNJ 141,000 145,000
Đông Nam Bộ - PNJ 141,000 145,000
Cập nhật: 21/07/2026 11:00
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
NL 99.99 12,880
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,830
Trang sức 99.9 13,790 ▲50K 14,490 ▲50K
Trang sức 99.99 13,800 ▲50K 14,500 ▲50K
Cập nhật: 21/07/2026 11:00
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,415 145
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,415 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,385 143
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,584 141,584
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,611 107,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 876 974
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,589 87,389
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,727 83,527
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,987 59,787
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 21/07/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17898 18172 18747
CAD 18156 18432 19047
CHF 31806 32187 32828
CNY 0 3846 3939
EUR 29393 29614 30691
GBP 34542 34934 35864
HKD 0 3225 3427
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15115 15696
SGD 19844 20126 20691
THB 697 760 814
USD (1,2) 26046 0 0
USD (5,10,20) 26087 0 0
USD (50,100) 26116 26130 26489
Cập nhật: 21/07/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,110 26,110 26,490
USD(1-2-5) 25,066 - -
USD(10-20) 25,066 - -
EUR 29,507 29,531 30,940
JPY 157.42 157.7 167.2
GBP 34,695 34,789 35,987
AUD 18,079 18,144 18,834
CAD 18,336 18,395 19,073
CHF 32,054 32,154 33,104
SGD 19,952 20,014 20,795
CNY - 3,811 3,957
HKD 3,287 3,297 3,434
KRW 16.39 17.09 18.59
THB 745 754.2 807.64
NZD 15,084 15,224 15,673
SEK - 2,670 2,764
DKK - 3,947 4,086
NOK - 2,673 2,768
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,009.36 - 6,785.05
TWD 734.93 - 890.24
SAR - 6,884 7,250.55
KWD - 83,192 88,508
Cập nhật: 21/07/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,706 34,845 35,878
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,909 32,037 32,965
JPY 157.78 158.41 166.31
AUD 18,073 18,146 18,743
SGD 20,025 20,105 20,694
THB 762 765 800
CAD 18,352 18,426 19,004
NZD 15,173 15,719
KRW 17.01 18.85
Cập nhật: 21/07/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26125 26125 26485
AUD 18076 18176 19101
CAD 18338 18438 19450
CHF 32050 32080 33666
CNY 3828 3853 3988.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29573 29603 31329
GBP 34839 34889 36642
HKD 0 3355 0
JPY 158.34 158.84 169.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15227 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19992 20122 20848
THB 0 726 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Cập nhật: 21/07/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,120 26,170 26,523
USD20 26,120 26,170 26,523
USD1 23,997 26,170 26,523
AUD 18,114 18,214 19,330
EUR 29,355 29,455 31,133
CAD 18,273 18,373 19,694
SGD 20,062 20,212 20,786
JPY 158.76 160.26 165.9
GBP 34,713 34,863 35,947
XAU 14,298,000 0 14,602,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/07/2026 11:00