AI và Starlink đang buộc ngành viễn thông Việt Nam thay đổi
Việt Nam đủ nền tảng để tự tạo ra trí tuệ nhân tạo |
Khi phóng viên đặt câu hỏi liệu Việt Nam có nguy cơ mãi ở vị trí quốc gia tiêu thụ trí tuệ nhân tạo hay không, ông Julian Gorman khẳng định điều ngược lại và dẫn ra những gì ông tận mắt chứng kiến. Ông đã tiếp xúc trực tiếp với nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang đầu tư mạnh vào việc phát triển trí tuệ nhân tạo phục vụ thị trường trong nước, và ông tin tưởng đà phát triển đó chưa có dấu hiệu dừng lại. Ba yếu tố mà ông xác định là lợi thế cạnh tranh thực sự của Việt Nam gồm ngôn ngữ đặc thù, truyền thống văn hóa và cấu trúc xã hội đặc thù, những điều mà các nền tảng trí tuệ nhân tạo toàn cầu khó lòng phục vụ trọn vẹn nếu không có sự tham gia trực tiếp của đội ngũ phát triển bản địa.
![]() |
Ông Gorman kể lại cách đây 7 đến 8 năm, nếu ai hỏi ông về công thức thành công trong lĩnh vực 5G hay trí tuệ nhân tạo, ông sẽ không nghĩ đến Việt Nam. Nhưng tốc độ chuyển dịch trong những năm gần đây, cùng với tầm nhìn của cả chính phủ lẫn cộng đồng doanh nghiệp về việc dùng công nghệ để chuyển đổi nền kinh tế và đời sống xã hội, đã hoàn toàn thay đổi đánh giá của ông về vị thế Việt Nam trong bản đồ trí tuệ nhân tạo toàn cầu.
Điểm mấu chốt mà đại diện GSMA nhấn mạnh là sự phân tách hai chiều tác động khác nhau của trí tuệ nhân tạo lên hạ tầng viễn thông. Chiều thứ nhất là trí tuệ nhân tạo được vận hành trên nền tảng mạng viễn thông để giúp mạng tự tối ưu, tiết giảm chi phí vận hành và phản ứng nhanh hơn với nhu cầu người dùng theo thời gian thực. Chiều thứ hai là mạng viễn thông được xây dựng đặc thù để chạy các ứng dụng trí tuệ nhân tạo có tiêu chuẩn rất cao trong y tế, vận tải tự hành hay sản xuất công nghiệp. Hai chiều này không thể tách rời và cùng quyết định lẫn nhau, và đây chính là lý do đầu tư vào hạ tầng viễn thông ở thời điểm hiện tại, xét cho cùng, cũng là đặt nền móng cho toàn bộ hạ tầng trí tuệ nhân tạo của tương lai.
Starlink và vệ tinh quỹ đạo thấp đang bổ trợ hay cạnh tranh trực tiếp với nhà mạng truyền thống |
Starlink và công nghệ vệ tinh quỹ đạo thấp đang tạo ra sức cạnh tranh mà các nhà mạng truyền thống chưa từng gặp trước đây. Bà Jeanette Whyte cho biết chỉ trong 5 năm qua, các công ty viễn thông trên toàn thế giới đã đầu tư vào phát triển hạ tầng mạng khoảng 230 tỷ USD và đây thực sự là một con số đầu tư rất lớn. Để thu được lợi nhuận tương xứng trên khoản đầu tư đó là thách thức không nhỏ với bất kỳ doanh nghiệp viễn thông nào, và thách thức đó càng khó giải hơn khi ngay lúc này các công nghệ mới như vệ tinh quỹ đạo thấp LEO hay Starlink đang xuất hiện và "chen chân" vào cùng một thị trường kết nối mà các nhà mạng truyền thống đã và đang dốc vốn đầu tư suốt nhiều năm qua.
![]() |
Bà Jeanette Whyte định vị công nghệ vệ tinh quỹ đạo thấp trong vai trò bổ trợ với hai điểm mạnh đặc thù khó có công nghệ mặt đất nào thay thế được. Điểm mạnh thứ nhất là khả năng phủ sóng các vùng địa lý khó tiếp cận như miền núi, hải đảo và vùng sâu vùng xa mà việc xây dựng hạ tầng mặt đất tại đó không có hiệu quả kinh tế. Điểm mạnh thứ hai là vai trò trong các tình huống khẩn cấp như thiên tai hay thảm họa, khi mạng mặt đất bị gián đoạn và hệ thống cảnh báo sớm cần một kênh liên lạc dự phòng hoạt động hoàn toàn độc lập. Với mục tiêu phủ sóng 5G đạt 99% dân số vào năm 2030 của Việt Nam, vệ tinh quỹ đạo thấp có thể lấp đầy chính xác phần địa lý còn lại mà 5G mặt đất chưa với tới về mặt kinh tế.
| Starlink không còn một mình |
Tuy nhiên, câu chuyện về vệ tinh không dừng lại ở vai trò phủ sóng 5G ở những vùng sâu, vùng xa và hải đảo, bà Jeanette Whyte nhận định các cuộc xung đột khu vực gần đây đã cho thấy hạ tầng kết nối quốc tế "mỏng manh" đến mức đáng lo, đặc biệt là các tuyến cáp quang biển và hạ tầng trung chuyển tín hiệu toàn cầu. Ngành viễn thông quốc tế đang phản ứng bằng cách hướng đến xây dựng năng lực định tuyến thay thế và các cơ chế dự phòng kết nối, nhưng bà nhấn mạnh đây không thể là nỗ lực của từng quốc gia tự xoay xở.
Chính từ góc nhìn đó, bà Jeanette Whyte khuyến nghị Việt Nam nên áp dụng cùng một mức điều kiện theo quy định của pháp luật cho tất cả các đơn vị cung cấp dịch vụ kết nối, kể cả công ty vệ tinh, bởi khi một bên chịu nhiều quy định hơn bên kia thì kết quả cạnh tranh không còn phụ thuộc vào năng lực nữa.
74% người dùng sẵn sàng chia sẻ dữ liệu |
Một kết quả khảo sát mà bà Jeanette Whyte chia sẻ cho thấy người tiêu dùng không ngại chia sẻ dữ liệu, điều họ ngại là không biết dữ liệu đó đi về đâu. Trong cuộc khảo sát thực hiện tại 5 quốc gia có Việt Nam, 74% người được hỏi cho biết họ sẵn sàng chia sẻ dữ liệu cá nhân nhiều hơn nếu tin tưởng rằng dữ liệu của họ được bảo vệ thực chất trước nguy cơ lừa đảo. Kết quả đó cho thấy "điểm nghẽn" lớn nhất hiện nay không phải là mong muốn của người dùng mà là mức độ tin cậy thực tế vào hệ thống bảo vệ dữ liệu.
![]() |
Bà Whyte chỉ ra "mâu thuẫn" mà người dùng nào cũng đang sống trong đó khi người tiêu dùng vừa lo ngại về lừa đảo và gian lận, vừa lo ngại rằng chính dữ liệu của họ sẽ bị lạm dụng nếu được chia sẻ cho các bên khác phục vụ mục đích chống lừa đảo. Gỡ được "mâu thuẫn" đó là việc Việt Nam và nhiều quốc gia trong khu vực đang phải làm từng bước một. Bà nhận định Việt Nam đã xây dựng được các quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu, nhưng điều cốt yếu tiếp theo là thực thi có hiệu lực và minh bạch để người tiêu dùng có cơ sở thực tế để đặt niềm tin.
GSMA cũng xây dựng một chương trình phối hợp toàn cầu về chia sẻ dữ liệu chống lừa đảo, trong đó thiết lập tiêu chuẩn kỹ thuật để các nhà mạng và nền tảng cảnh báo nhau trên nền tảng di động, đồng thời xây dựng các giao thức bảo mật cho đường truyền nhằm đảm bảo thông tin chia sẻ phục vụ chống gian lận không bị chặn hoặc đánh cắp trên đường truyền.
| Ba trụ cột hạ tầng, đổi mới và niềm tin quyết định tương lai kinh tế số Việt Nam |
Theo ông Julian Gorman, quy mô của nạn lừa đảo trực tuyến toàn cầu đã lên tới 500 triệu USD và đây là mối đe dọa "tiềm ẩn" đang làm "lung lay" nền tảng niềm tin của người tiêu dùng vào toàn bộ hệ sinh thái số. Ông nhận định đây là rủi ro mang tính toàn cầu chứ không phải vấn đề riêng của Việt Nam, nhưng lại đặc biệt nguy hiểm với các quốc gia đang tăng tốc chuyển đổi số vì niềm tin chính là nền tảng để mọi giao dịch số có thể diễn ra.
Để đối phó với mối nguy đó, GSMA khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đang vận hành đội đặc nhiệm chống lừa đảo với 39 tổ chức tham gia đến từ 14 đến 17 quốc gia. Điều đáng chú ý là đội đặc nhiệm tập hợp được cả những công ty bên ngoài ngành viễn thông như Google và TikTok. Sự tham gia của các nền tảng phản ánh thực tế lừa đảo trực tuyến đang khai thác "khoảng trống" giữa các ngành, giữa các quốc gia và giữa các quy định pháp luật không nhất quán, nên phản ứng hiệu quả duy nhất phải là phối hợp liên ngành và xuyên biên giới. Ông Gorman bày tỏ mong muốn các nhà mạng Việt Nam sớm trở thành thành viên chính thức của đội đặc nhiệm này.
Sự kiện M360 ASEAN dự kiến tổ chức vào tháng 9 tới sẽ tập hợp đại diện các nhà mạng trong toàn khu vực cùng đại diện các bộ ngành và cơ quan quản lý để cùng thảo luận về đảm bảo an ninh và khả năng chống chịu của hạ tầng viễn thông khu vực. Bà Whyte kêu gọi Việt Nam tham gia tích cực hơn vào các diễn đàn khu vực về hài hòa hóa tiêu chuẩn phổ tần, chính sách chia sẻ dữ liệu xuyên biên giới và xây dựng quy chuẩn an ninh hạ tầng chung. Theo bà, sức mạnh của ASEAN mang tính tập thể và tiếng nói của Việt Nam trong các cuộc thảo luận chính sách khu vực cần được nâng tầm để phản ánh đúng vị thế mà quốc gia này đang gây dựng trên bản đồ kinh tế số.
Nokia và VNPT ký gia hạn hợp đồng triển khai thiết bị AirScale tại Hà Nội, các tỉnh biên giới và miền Nam, giúp tăng ... |
Mạng 5G của Việt Nam phủ sóng 91,2% dân số trong năm 2025, các nhà mạng tập trung xây dựng hạ tầng tại các thành ... |
Phát biểu tại GSMA Digital Summit Hanoi 2026 diễn ra ngày 26/5 tại Hà Nội, ông Alex Sinclair, Giám đốc Công nghệ GSMA, khẳng định ... |
Có thể bạn quan tâm
Hạ tầng viễn thông là 'nền tảng' cho mọi khát vọng số của Việt Nam
Viễn thông - Internet
Bắc Ninh công bố thủ tục hành chính sửa đổi lĩnh vực Viễn thông và Internet
Viễn thông - Internet


