Khả năng thâm nhập thị trường của Starlink và cách thức tiếp cận làm chủ công nghệ của Việt Nam
Chính phủ Việt Nam đã cấp giấy phép dịch vụ Internet vệ tinh cho Starlink, bao gồm giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Starlink Services Việt Nam, công ty 100% vốn nước ngoài thuộc SpaceX, với số lượng thuê bao tối đa lên tới 600.000 thiết bị trong giai đoạn thí điểm. Starlink được phép triển khai 4 trạm gateway (cổng mặt đất) tại Phú Thọ, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh, kết nối trực tiếp vệ tinh với hạ tầng Internet mặt đất.
![]() |
| Tổng bí thư Tô Lâm chứng kiến lễ trao giấy phép giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Công ty Starlink trao giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng (loại mạng viễn thông cố định vệ tinh) cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Starlink Services Việt Nam... Ảnh: TTXVN |
Việt Nam sẽ là một trong những thị trường Đông Nam Á có dịch vụ Starlink chính thức, sau Philippines, Malaysia, Indonesia và Timor-Leste. Đây là lần đầu tiên Việt Nam cấp phép cho công ty 100% vốn nước ngoài cung cấp dịch vụ viễn thông.
Bài báo này đề cập đến các khả năng thâm nhập thị trường Việt Nam của Starlink và cách thức mà Việt Nam có thể tiếp cận, làm chủ công nghệ mới này.
Các khả năng thâm nhập thị trường của Starlink
Mặc dù là dịch vụ Internet vệ tinh quỹ đạo thấp có nhiều ưu điểm vượt trội, tốc độ cao, độ trễ thấp và vùng phủ siêu rộng, có thể vượt qua các thách thức về thiên tai, thời tiết, chiến tranh nhưng cơ hội để Starlink có thể thâm nhập thị trường băng rộng phổ thông và cạnh tranh trực tiếp với các nhà mạng viễn thông Việt Nam là rất thấp và nhiều lý do.
Thứ nhất, Việt Nam đã có hạ tầng băng rộng di động mặt đất bao gồm cả cố định di động rất tốt.
Theo số liệu công bố của Cục Viễn thông, Bộ Khoa học và Công nghệ, tính đến tháng 4/2025, các doanh nghiệp viễn thông đã triển khai hơn 318.000 trạm thu phát sóng cho khoảng 146.000 vị trí, phủ sóng băng rộng di động 3G, 4G, 5G đến hơn 99,8% dân số, phục vụ 119 triệu thuê bao. Riêng hạ tầng 5G phủ sóng 25,5% dân số sau gần một năm được cấp phép. Tốc độ Internet di động lọt vào Top 20 thế giới.
Với Internet cố định, số thuê bao đạt 24,4 triệu, tốc độ 176,68 Mbps, tăng gần 47%, xếp hạng 33/155 toàn cầu. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng cáp quang đạt 85,1%, trong khi toàn bộ xã, phường trên cả nước đã có cáp quang kéo đến, với tổng chiều dài mạng lưới hơn 1,2 triệu km.
Giá cước viễn thông tại Việt Nam hiện nằm trong nhóm rẻ nhất thế giới, đặc biệt là ở mảng Internet cố định và dữ liệu di động.
Thứ hai, chính dịch vụ Internet vệ tinh có những hạn chế về kinh tế và kỹ thuật.
Giá đầu cuối cao hơn nhiều so với giá đầu cuối của các mạng viễn thông mặt đất; giá cước cao hơn giá dịch vụ di động mặt đất và cao so với thu nhập của người dân; thuê bao cần chảo thu vệ tinh cố định và thiết bị WiFi để kết nối.
Vì vậy Starlink không có cơ hội trở thành nhà cung cấp băng rộng đại trà, cũng khó tạo áp lực cạnh tranh lên các mạng di động và cố định mặt đất. Vai trò chủ yếu là bổ sung chiến lược và thị trường chuyên biệt.
......Vai trò quan trọng của Starlink sẽ là:
Mở rộng vùng phủ khó tiếp cận: Starlink mang lại kết nối Internet băng thông rộng ở vùng sâu vùng xa, hải đảo, khu vực chưa có hạ tầng cáp tốt, vốn là điểm khó về chi phí triển khai cho các mạng cáp quang truyền thống.
Bổ sung cho hạ tầng hiện tại: Starlink không phải thay thế 3G/5G hay cáp quang, mà bổ sung kết nối ở những nơi hạ tầng truyền thống chưa mạnh, đồng thời làm kênh dự phòng trong thiên tai, bão lũ, hay sự cố mạng mặt đất.
Phục vụ các yêu cầu, ứng dụng chuyên biệt: an ninh, cứu hộ, giáo dục ở vùng hẻo lánh, ngoại thương hàng hải, nghề cá xa bờ, dầu khí ngoài khơi, du lịch biển đảo. Nó sẽ rất hiệu quả ở những nơi Internet di động không phủ sóng, trong khi VSAT truyền thống rất đắt.
Starlink cũng có thể cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp khai khoáng, lâm nghiệp, công trình xa xôi; cho các dự án thủy điện nhỏ vùng sâu, các công trình cao tốc qua vùng núi, các đồn biên phòng, trạm khí tượng vùng sâu.
Đặc biệt Starlink có thể cung cấp dịch vụ cho phân khúc cao cấp đặc biệt như resort biệt lập, du thuyền, người dùng cần kết nối quốc tế độc lập. Đây có thể là nhóm sẵn sàng trả phí cao.
Như vậy, nhìn theo các góc độ về an ninh hạ tầng mạng, dự phòng quốc gia, kinh tế biển, kinh tế vùng sâu thì Starlink vẫn có chỗ sống, dù không lớn. Đây là thị trường ngách nhỏ nhưng có thể có biên lợi nhuận cao.
Cách thức tiếp cận và làm chủ công nghệ của Việt Nam
Việc cấp phép cho Starlink hoạt động tại Việt Nam mang đến cho các nhà mạng cả cơ hội và thách thức, đó là làm sao tận dụng được lợi thế công nghệ của nó và có chỗ đứng tốt trong hệ sinh thái mới mà nó tạo ra.

Việt Nam mong muốn có hệ thống vệ tinh quỹ đạo thấp (LEO) của riêng mình để cung cấp dịch vụ băng rộng. Tuy nhiên cơ hội cho Việt Nam trong 5-10 năm tới là rất thấp nhiều lý do, trong đó hai lý do quan trọng nhất là năng lực đầu tư và quỹ đạo vệ tinh.
Lý do thứ nhất là năng lực đầu tư. Để có được một hệ thống vệ tinh quỹ đạo thấp cung cấp dịch vụ Internet các nhà cung cấp phải đầu tư hàng chục tỷ USD. Ngay cả khi chỉ mong muốn đầu tư một mạng quy mô nhỏ phủ sóng dịch vụ khu vực hẹp thì vốn đầu tư cũng không nhỏ vì giá sản xuất và phóng vệ tinh sẽ rất đắt, chi phí khai thác, thay thế vệ tinh (tuổi thọ khoảng 5 năm) cũng rất lớn. Với khả năng phát triển thuê bao rất nhỏ như đã trình bày ở trên thì không có hiệu quả kinh tế.
Lý do thứ hai là quỹ đạo vệ tinh. Quỹ đạo dưới 1000km hiện nay đã vô cùng chật chội vì đã có hơn 6000 vệ tinh của Starlink và hàng ngàn vệ tinh của các hệ thống khác đang khai thác, chưa kể hàng chục ngàn vệ tinh đã được đăng ký với Liên minh viễn thông quốc tế ITU. Cơ hội để có thể phối hợp thành công quỹ đạo vệ tinh cho hệ thống mới là rất thấp và đòi hỏi tiêu tốn nhiều nguồn lực. Lưu ý rằng thời hạn để đưa vệ tinh vào sử dụng kể từ khi đăng ký với ITU chỉ là 7 năm.
| Trung Quốc thách thức Starlink trong cuộc đua vệ tinh không gian |
Vì vậy lựa chọn vị trí thích hợp của Việt Nam trong 5-10 năm tới nên là người sử dụng thông minh, dần nâng cấp thành người đồng kiến tạo hệ thống và trở thành trung tâm tích hợp NTN khu vực. Việt Nam có lợi thế hơn so với nhiều nước cấp phép cho Starlink là buộc Starlink phải đặt 4 trạm gateway ở Việt Nam. Đó có thể là một điểm nút để Việt Nam có thể lựa chọn vị trí thích hợp trong chuỗi cung ứng dịch vụ viễn thông mới, với sự kết nối mạng viễn thông mặt đất với mạng phi mặt đất (Non Terrestrial Networks-NTN). Hệ thống mạng mặt đất rất mạnh với mạng lõi và hệ thống truyền dẫn tương đối hiện đại, FTTH phủ sâu, 4G/5G phủ gần toàn dân. Đây là một lợi thế lớn để Việt Nam có cơ hội lớn để đạt được vị trí này.
Tuy nhiên người sử dụng thông minh không thể là người sử dụng thụ động. Nếu chỉ mua dịch vụ như một khách hàng bình thường thì chưa đủ thông minh. Việc sử dụng thông minh phải gồm 4 điều kiện: đa nguồn, không nên chỉ phụ thuộc vào Starlink; kiểm soát được thành phần mặt đất; tích hợp được vào chiến lược dự phòng quốc gia; tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc tế.
Để đạt được mục tiêu này và sử dụng hiệu quả hệ thống đã được cấp phép, Việt Nam nên có ngay dự án tích hợp NTN nói chung và Starlink nói riêng với mạng mặt đất, đặc biệt là mạng 5G để phục vụ một số ngành kinh tế quan trọng cần đến LEO như nghề cá xa bờ, vận tải, khai thác dầu khí. Từ đó phát triển một chiến lược quốc gia thích hợp, tiến tới trở thành trung tâm tích hợp NTN khu vực.
Quỹ đạo Trái Đất hiện đang có 13.026 vệ tinh hoạt động tính đến 1/10/2025, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước. Starlink của ... |
MobiFone triển khai dịch vụ Internet không dây cố định 5G (5G FWA) trên nền mạng 5G sẵn có với tốc độ 300-400 Mbps, giá ... |
Việt Nam vừa ghi dấu một bước tiến quan trọng trong chiến lược phát triển hạ tầng số khi chính thức cấp phép cho dịch ... |
Có thể bạn quan tâm
9.000 vệ tinh Starlink: Cuộc chinh phục bầu trời của Elon Musk và 9 triệu khách hàng (Bài 1)
Công nghệ số
Băng tần 6 GHz sẽ trở thành 'chìa khóa' triển khai 6G
Viễn thông - Internet
Thực trạng băng rộng di động 5G trên thế giới hiện nay và xu hướng phát triển
Công nghệ số


