Trung Quốc tung loạt biện pháp kích thích kinh tế mạnh mẽ giữa căng thẳng thương mại

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Ngày 7/5/2025, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) cùng các cơ quan quản lý tài chính đã công bố loạt biện pháp kích thích kinh tế quy mô lớn nhằm ứng phó với áp lực từ cuộc chiến thương mại leo thang với Mỹ. Đây được xem là động thái nới lỏng chính sách tiền tệ mạnh mẽ nhất kể từ đầu năm nay.
Tổng thống Donald Trump: Trung Quốc từ chối bán TikTok sau khi Mỹ áp thuế 54% Mỹ mở cuộc điều tra đất hiếm nhập từ Trung Quốc Trung Quốc giữ nguyên lãi suất: Thị trường Châu Á - Thái Bình Dương giao dịch trái chiều
Trung Quốc tung loạt biện pháp kích thích kinh tế mạnh mẽ giữa căng thẳng thương mại
Thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc Pan Gongsheng cho biết tại một cuộc họp báo rằng Trung Quốc sẽ cắt giảm lãi suất mua lại đảo ngược kỳ hạn bảy ngày 10 điểm cơ bản từ 1,5% xuống 1,4%. Ảnh: Getty.

Bắc Kinh đã mở hầu bao kích thích nền kinh tế lớn thứ hai thế giới bằng gói chính sách tiền tệ mạnh mẽ nhất từ đầu năm 2025, trong bối cảnh căng thẳng thương mại với Mỹ đe dọa triển vọng tăng trưởng. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) cùng với các cơ quan quản lý tài chính hàng đầu hôm qua (7/5) đã đồng loạt công bố giảm lãi suất và tỷ lệ dự trữ bắt buộc, giải phóng hàng trăm tỷ USD vào nền kinh tế đang chật vật.

Động thái này diễn ra đúng thời điểm nhạy cảm, chỉ vài giờ trước khi Bắc Kinh xác nhận cuộc gặp cấp cao sắp tới giữa Phó Thủ tướng Hà Lập Phong và Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent tại Thụy Sĩ, trong nỗ lực giảm nhiệt cuộc chiến thuế quan đang leo thang giữa hai cường quốc kinh tế.

"Trung Quốc đang phải đối mặt với thách thức kinh tế nghiêm trọng nhất trong nhiều năm qua," nhận định của Li Wei, nhà kinh tế tại Viện Nghiên cứu Kinh tế Bắc Kinh. "Việc tung ra gói kích thích quy mô lớn như vậy cho thấy mức độ lo ngại của giới lãnh đạo về tác động từ cuộc chiến thương mại với Mỹ."

PBOC đã hạ lãi suất mua lại đảo ngược (reverse repo) kỳ hạn 7 ngày từ 1,5% xuống còn 1,4%, đồng thời giảm 0,5 điểm phần trăm tỷ lệ dự trữ bắt buộc (RRR) đối với các ngân hàng thương mại. Biện pháp này được ước tính sẽ bơm khoảng 1.000 tỷ nhân dân tệ (tương đương 138,6 tỷ USD) vào hệ thống tài chính, với mục tiêu kích thích cho vay và thúc đẩy tăng trưởng.

Theo các chuyên gia phân tích, đây là phản ứng trực tiếp trước những áp lực ngành xuất khẩu Trung Quốc đang phải chịu đựng sau khi chính quyền Tổng thống Donald Trump áp thuế lên tới 145% đối với nhiều mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vào tháng trước. Bắc Kinh đã đáp trả bằng biện pháp tương tự, áp thuế 125% lên các sản phẩm Mỹ, khiến cuộc chiến thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.

Không chỉ dừng lại ở các biện pháp tiền tệ, chính quyền Trung Quốc còn nhắm đến những lĩnh vực đang gặp khó khăn như bất động sản và ô tô với các chính sách hỗ trợ đặc biệt. Lãi suất cho vay thế chấp nhà kỳ hạn 5 năm dành cho người mua nhà lần đầu sẽ giảm đáng kể, từ 2,85% xuống còn 2,6%. Thị trường bất động sản vốn đã trải qua nhiều năm khủng hoảng giờ đây lại càng chịu thêm áp lực từ các rào cản thương mại mới.

"Đây là một nỗ lực toàn diện nhằm cứu vãn tình hình," Zhang Min, nhà phân tích tại China Securities, cho biết. "Chính phủ đang cố gắng vừa giảm thiểu tác động từ cuộc chiến thương mại, vừa giải quyết những vấn đề cơ cấu tồn đọng trong nền kinh tế."

Đáng chú ý, PBOC cũng tuyên bố sẽ từng bước giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc với các công ty tài chính cho vay mua ô tô từ mức 5% hiện tại xuống 0%. Động thái này nhằm thúc đẩy tiêu dùng nội địa và hỗ trợ ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc, đặc biệt là các nhà sản xuất xe điện, vốn đang phải đối mặt với các rào cản thuế quan và phi thuế quan ngày càng tăng tại các thị trường phương Tây.

Trên thị trường tài chính, phản ứng ban đầu là tích cực. Chỉ số Shanghai Composite tăng 2,8% và Hang Seng Index tại Hồng Kông tăng 3,2% sau thông báo. Đồng nhân dân tệ cũng phục hồi một phần sau chuỗi ngày giảm giá so với đồng USD, nhưng vẫn ở mức thấp nhất trong 16 tháng qua.

Lynn Song, chuyên gia kinh tế trưởng khu vực Trung Quốc tại ING, cho rằng đây mới chỉ là khởi đầu của một loạt biện pháp kích thích có thể được triển khai trong những tháng tới. "Chúng tôi dự kiến lãi suất sẽ còn giảm thêm 20 điểm cơ bản và RRR sẽ giảm 50 điểm cơ bản nữa trong năm nay," Song nhận định. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng các động thái tiếp theo có thể phụ thuộc vào kết quả của cuộc đàm phán sắp tới và chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Giới quan sát đang đặc biệt chú ý đến cuộc gặp giữa Phó Thủ tướng Hà Lập Phong và Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent tại Thụy Sĩ trong tuần này. Đây là cuộc đàm phán cấp cao đầu tiên kể từ khi cuộc chiến thuế quan mới bùng nổ, và kết quả của nó sẽ có tác động sâu rộng đến triển vọng kinh tế toàn cầu.

"Cả hai bên đều có nhiều điều để mất trong một cuộc chiến thương mại kéo dài," Sarah Johnson, chuyên gia kinh tế quốc tế tại Morgan Stanley, nhận xét. "Nhưng với áp lực chính trị ở cả hai nước, việc đạt được một thỏa thuận sẽ không hề dễ dàng."

Trong khi đó, các nền kinh tế châu Á khác đang theo dõi sát sao diễn biến tình hình, bởi một Trung Quốc tăng trưởng chậm lại sẽ có tác động dây chuyền đến toàn khu vực. Nhật Bản và Hàn Quốc, hai đối tác thương mại lớn của Trung Quốc, đã bày tỏ lo ngại về khả năng cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung có thể làm gián đoạn chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Theo dự báo mới nhất từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tăng trưởng GDP của Trung Quốc năm 2025 có thể giảm xuống dưới 4% nếu cuộc chiến thương mại tiếp tục leo thang, mức thấp nhất trong hơn ba thập kỷ nếu không tính đến giai đoạn đại dịch Covid-19.

Với gói kích thích mới, Bắc Kinh đang gửi đi thông điệp rõ ràng: Họ sẵn sàng sử dụng mọi công cụ có sẵn để bảo vệ nền kinh tế trước những cơn gió ngược từ bên ngoài. Tuy nhiên, câu hỏi lớn vẫn còn đó: Liệu những biện pháp này có đủ mạnh để đối phó với những thách thức chưa từng có trong quan hệ kinh tế Mỹ-Trung hay không?

Có thể bạn quan tâm

Kospi lao dốc mạnh nhất châu Á sau cú bán tháo cổ phiếu công nghệ trên Phố Wall

Kospi lao dốc mạnh nhất châu Á sau cú bán tháo cổ phiếu công nghệ trên Phố Wall

Kinh tế số
Thị trường chứng khoán châu Á chìm trong sắc đỏ phiên sáng nay 6/2, khi làn sóng bán tháo cổ phiếu công nghệ tại Mỹ lan rộng kéo chỉ số Kospi của Hàn Quốc trở thành tâm điểm sụt giảm trong khu vực.
Giá dầu lao dốc hơn 4% sau tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran, lo ngại nguồn cung hạ nhiệt

Giá dầu lao dốc hơn 4% sau tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran, lo ngại nguồn cung hạ nhiệt

Thị trường
Giá dầu thế giới giảm mạnh trong phiên giao dịch đầu tuần khi phát biểu mới từ Tổng thống Mỹ Donald Trump về khả năng nối lại đối thoại với Iran làm dịu bớt nỗi lo địa chính trị, vốn từng đẩy thị trường năng lượng lên mức cao nhất nhiều tháng.
Thị trường bán dẫn sẽ vượt mốc 1.000 tỷ USD trong năm 2026

Thị trường bán dẫn sẽ vượt mốc 1.000 tỷ USD trong năm 2026

Kinh tế số
Những phân tích mới dự báo doanh thu toàn cầu của ngành công nghiệp bán dẫn dự kiến sẽ vượt mốc 1.000 tỷ USD vào năm 2026, đánh dấu một cột mốc lịch sử đối với ngành công nghiệp này.
Chứng khoán châu Âu đối mặt phiên giảm sâu khi nỗi lo toàn cầu bùng phát trở lại

Chứng khoán châu Âu đối mặt phiên giảm sâu khi nỗi lo toàn cầu bùng phát trở lại

Thị trường
Thị trường chứng khoán châu Âu được dự báo sẽ mở cửa trong sắc đỏ trong phiên đầu tuần hôm nay 2/2, khi tâm lý lo ngại bao trùm các thị trường toàn cầu, xuất phát từ cú lao dốc mạnh của kim loại quý, biến động tiền số và những nghi ngờ ngày càng lớn xoay quanh làn sóng đầu tư trí tuệ nhân tạo.
Giá vàng lao dốc 6%, bạc mất 12%, đồng USD bật tăng

Giá vàng lao dốc 6%, bạc mất 12%, đồng USD bật tăng

Thị trường
Thị trường kim loại quý toàn cầu tiếp tục rung lắc mạnh trong phiên giao dịch đầu tuần hôm nay 2/2, khi giá vàng giảm thêm khoảng 6% và bạc lao dốc hơn 12%, nối dài đợt bán tháo dữ dội đã bắt đầu từ cuối tuần trước.
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Nghệ An
Phan Thiết
Quảng Bình
Thừa Thiên Huế
Hà Giang
Hải Phòng
Khánh Hòa
Hà Nội

26°C

Cảm giác: 26°C
mây cụm
Thứ ba, 17/02/2026 00:00
22°C
Thứ ba, 17/02/2026 03:00
22°C
Thứ ba, 17/02/2026 06:00
23°C
Thứ ba, 17/02/2026 09:00
22°C
Thứ ba, 17/02/2026 12:00
21°C
Thứ ba, 17/02/2026 15:00
20°C
Thứ ba, 17/02/2026 18:00
19°C
Thứ ba, 17/02/2026 21:00
19°C
Thứ tư, 18/02/2026 00:00
19°C
Thứ tư, 18/02/2026 03:00
19°C
Thứ tư, 18/02/2026 06:00
21°C
Thứ tư, 18/02/2026 09:00
21°C
Thứ tư, 18/02/2026 12:00
20°C
Thứ tư, 18/02/2026 15:00
20°C
Thứ tư, 18/02/2026 18:00
20°C
Thứ tư, 18/02/2026 21:00
19°C
Thứ năm, 19/02/2026 00:00
19°C
Thứ năm, 19/02/2026 03:00
20°C
Thứ năm, 19/02/2026 06:00
20°C
Thứ năm, 19/02/2026 09:00
21°C
Thứ năm, 19/02/2026 12:00
20°C
Thứ năm, 19/02/2026 15:00
20°C
Thứ năm, 19/02/2026 18:00
19°C
Thứ năm, 19/02/2026 21:00
18°C
Thứ sáu, 20/02/2026 00:00
18°C
Thứ sáu, 20/02/2026 03:00
19°C
Thứ sáu, 20/02/2026 06:00
21°C
Thứ sáu, 20/02/2026 09:00
22°C
Thứ sáu, 20/02/2026 12:00
21°C
Thứ sáu, 20/02/2026 15:00
21°C
Thứ sáu, 20/02/2026 18:00
20°C
Thứ sáu, 20/02/2026 21:00
20°C
Thứ bảy, 21/02/2026 00:00
20°C
Thứ bảy, 21/02/2026 03:00
21°C
TP Hồ Chí Minh

34°C

Cảm giác: 40°C
mây thưa
Thứ ba, 17/02/2026 00:00
26°C
Thứ ba, 17/02/2026 03:00
31°C
Thứ ba, 17/02/2026 06:00
36°C
Thứ ba, 17/02/2026 09:00
35°C
Thứ ba, 17/02/2026 12:00
28°C
Thứ ba, 17/02/2026 15:00
27°C
Thứ ba, 17/02/2026 18:00
26°C
Thứ ba, 17/02/2026 21:00
25°C
Thứ tư, 18/02/2026 00:00
25°C
Thứ tư, 18/02/2026 03:00
31°C
Thứ tư, 18/02/2026 06:00
36°C
Thứ tư, 18/02/2026 09:00
34°C
Thứ tư, 18/02/2026 12:00
28°C
Thứ tư, 18/02/2026 15:00
27°C
Thứ tư, 18/02/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 18/02/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 19/02/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 19/02/2026 03:00
31°C
Thứ năm, 19/02/2026 06:00
36°C
Thứ năm, 19/02/2026 09:00
33°C
Thứ năm, 19/02/2026 12:00
29°C
Thứ năm, 19/02/2026 15:00
27°C
Thứ năm, 19/02/2026 18:00
26°C
Thứ năm, 19/02/2026 21:00
26°C
Thứ sáu, 20/02/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 20/02/2026 03:00
31°C
Thứ sáu, 20/02/2026 06:00
35°C
Thứ sáu, 20/02/2026 09:00
34°C
Thứ sáu, 20/02/2026 12:00
27°C
Thứ sáu, 20/02/2026 15:00
26°C
Thứ sáu, 20/02/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 20/02/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 21/02/2026 00:00
24°C
Thứ bảy, 21/02/2026 03:00
29°C
Đà Nẵng

28°C

Cảm giác: 31°C
mây cụm
Thứ ba, 17/02/2026 00:00
22°C
Thứ ba, 17/02/2026 03:00
24°C
Thứ ba, 17/02/2026 06:00
24°C
Thứ ba, 17/02/2026 09:00
25°C
Thứ ba, 17/02/2026 12:00
24°C
Thứ ba, 17/02/2026 15:00
24°C
Thứ ba, 17/02/2026 18:00
24°C
Thứ ba, 17/02/2026 21:00
23°C
Thứ tư, 18/02/2026 00:00
24°C
Thứ tư, 18/02/2026 03:00
24°C
Thứ tư, 18/02/2026 06:00
24°C
Thứ tư, 18/02/2026 09:00
24°C
Thứ tư, 18/02/2026 12:00
23°C
Thứ tư, 18/02/2026 15:00
23°C
Thứ tư, 18/02/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 18/02/2026 21:00
23°C
Thứ năm, 19/02/2026 00:00
23°C
Thứ năm, 19/02/2026 03:00
24°C
Thứ năm, 19/02/2026 06:00
25°C
Thứ năm, 19/02/2026 09:00
24°C
Thứ năm, 19/02/2026 12:00
23°C
Thứ năm, 19/02/2026 15:00
23°C
Thứ năm, 19/02/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 19/02/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 20/02/2026 00:00
23°C
Thứ sáu, 20/02/2026 03:00
24°C
Thứ sáu, 20/02/2026 06:00
24°C
Thứ sáu, 20/02/2026 09:00
24°C
Thứ sáu, 20/02/2026 12:00
23°C
Thứ sáu, 20/02/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 20/02/2026 18:00
21°C
Thứ sáu, 20/02/2026 21:00
20°C
Thứ bảy, 21/02/2026 00:00
20°C
Thứ bảy, 21/02/2026 03:00
23°C
Nghệ An

28°C

Cảm giác: 29°C
mây cụm
Thứ ba, 17/02/2026 00:00
19°C
Thứ ba, 17/02/2026 03:00
20°C
Thứ ba, 17/02/2026 06:00
21°C
Thứ ba, 17/02/2026 09:00
20°C
Thứ ba, 17/02/2026 12:00
19°C
Thứ ba, 17/02/2026 15:00
19°C
Thứ ba, 17/02/2026 18:00
19°C
Thứ ba, 17/02/2026 21:00
19°C
Thứ tư, 18/02/2026 00:00
18°C
Thứ tư, 18/02/2026 03:00
19°C
Thứ tư, 18/02/2026 06:00
19°C
Thứ tư, 18/02/2026 09:00
18°C
Thứ tư, 18/02/2026 12:00
18°C
Thứ tư, 18/02/2026 15:00
18°C
Thứ tư, 18/02/2026 18:00
18°C
Thứ tư, 18/02/2026 21:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 00:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 03:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 06:00
21°C
Thứ năm, 19/02/2026 09:00
22°C
Thứ năm, 19/02/2026 12:00
19°C
Thứ năm, 19/02/2026 15:00
19°C
Thứ năm, 19/02/2026 18:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 21:00
18°C
Thứ sáu, 20/02/2026 00:00
18°C
Thứ sáu, 20/02/2026 03:00
20°C
Thứ sáu, 20/02/2026 06:00
22°C
Thứ sáu, 20/02/2026 09:00
21°C
Thứ sáu, 20/02/2026 12:00
18°C
Thứ sáu, 20/02/2026 15:00
18°C
Thứ sáu, 20/02/2026 18:00
18°C
Thứ sáu, 20/02/2026 21:00
18°C
Thứ bảy, 21/02/2026 00:00
18°C
Thứ bảy, 21/02/2026 03:00
22°C
Phan Thiết

31°C

Cảm giác: 34°C
mây đen u ám
Thứ ba, 17/02/2026 00:00
23°C
Thứ ba, 17/02/2026 03:00
30°C
Thứ ba, 17/02/2026 06:00
32°C
Thứ ba, 17/02/2026 09:00
29°C
Thứ ba, 17/02/2026 12:00
25°C
Thứ ba, 17/02/2026 15:00
23°C
Thứ ba, 17/02/2026 18:00
22°C
Thứ ba, 17/02/2026 21:00
21°C
Thứ tư, 18/02/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 18/02/2026 03:00
30°C
Thứ tư, 18/02/2026 06:00
33°C
Thứ tư, 18/02/2026 09:00
30°C
Thứ tư, 18/02/2026 12:00
25°C
Thứ tư, 18/02/2026 15:00
24°C
Thứ tư, 18/02/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 18/02/2026 21:00
22°C
Thứ năm, 19/02/2026 00:00
23°C
Thứ năm, 19/02/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 19/02/2026 06:00
33°C
Thứ năm, 19/02/2026 09:00
30°C
Thứ năm, 19/02/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 19/02/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 19/02/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 19/02/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 20/02/2026 00:00
23°C
Thứ sáu, 20/02/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 20/02/2026 06:00
32°C
Thứ sáu, 20/02/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 20/02/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 20/02/2026 15:00
23°C
Thứ sáu, 20/02/2026 18:00
22°C
Thứ sáu, 20/02/2026 21:00
20°C
Thứ bảy, 21/02/2026 00:00
22°C
Thứ bảy, 21/02/2026 03:00
29°C
Quảng Bình

26°C

Cảm giác: 26°C
mây cụm
Thứ ba, 17/02/2026 00:00
19°C
Thứ ba, 17/02/2026 03:00
22°C
Thứ ba, 17/02/2026 06:00
23°C
Thứ ba, 17/02/2026 09:00
20°C
Thứ ba, 17/02/2026 12:00
19°C
Thứ ba, 17/02/2026 15:00
19°C
Thứ ba, 17/02/2026 18:00
19°C
Thứ ba, 17/02/2026 21:00
19°C
Thứ tư, 18/02/2026 00:00
19°C
Thứ tư, 18/02/2026 03:00
20°C
Thứ tư, 18/02/2026 06:00
23°C
Thứ tư, 18/02/2026 09:00
22°C
Thứ tư, 18/02/2026 12:00
18°C
Thứ tư, 18/02/2026 15:00
18°C
Thứ tư, 18/02/2026 18:00
17°C
Thứ tư, 18/02/2026 21:00
17°C
Thứ năm, 19/02/2026 00:00
17°C
Thứ năm, 19/02/2026 03:00
23°C
Thứ năm, 19/02/2026 06:00
24°C
Thứ năm, 19/02/2026 09:00
22°C
Thứ năm, 19/02/2026 12:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 15:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 18:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 21:00
17°C
Thứ sáu, 20/02/2026 00:00
18°C
Thứ sáu, 20/02/2026 03:00
23°C
Thứ sáu, 20/02/2026 06:00
25°C
Thứ sáu, 20/02/2026 09:00
22°C
Thứ sáu, 20/02/2026 12:00
18°C
Thứ sáu, 20/02/2026 15:00
17°C
Thứ sáu, 20/02/2026 18:00
17°C
Thứ sáu, 20/02/2026 21:00
17°C
Thứ bảy, 21/02/2026 00:00
17°C
Thứ bảy, 21/02/2026 03:00
24°C
Thừa Thiên Huế

27°C

Cảm giác: 27°C
mây thưa
Thứ ba, 17/02/2026 00:00
20°C
Thứ ba, 17/02/2026 03:00
28°C
Thứ ba, 17/02/2026 06:00
26°C
Thứ ba, 17/02/2026 09:00
26°C
Thứ ba, 17/02/2026 12:00
22°C
Thứ ba, 17/02/2026 15:00
21°C
Thứ ba, 17/02/2026 18:00
20°C
Thứ ba, 17/02/2026 21:00
20°C
Thứ tư, 18/02/2026 00:00
21°C
Thứ tư, 18/02/2026 03:00
24°C
Thứ tư, 18/02/2026 06:00
28°C
Thứ tư, 18/02/2026 09:00
26°C
Thứ tư, 18/02/2026 12:00
21°C
Thứ tư, 18/02/2026 15:00
19°C
Thứ tư, 18/02/2026 18:00
19°C
Thứ tư, 18/02/2026 21:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 00:00
19°C
Thứ năm, 19/02/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 19/02/2026 06:00
27°C
Thứ năm, 19/02/2026 09:00
26°C
Thứ năm, 19/02/2026 12:00
21°C
Thứ năm, 19/02/2026 15:00
19°C
Thứ năm, 19/02/2026 18:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 21:00
18°C
Thứ sáu, 20/02/2026 00:00
19°C
Thứ sáu, 20/02/2026 03:00
27°C
Thứ sáu, 20/02/2026 06:00
27°C
Thứ sáu, 20/02/2026 09:00
25°C
Thứ sáu, 20/02/2026 12:00
21°C
Thứ sáu, 20/02/2026 15:00
19°C
Thứ sáu, 20/02/2026 18:00
17°C
Thứ sáu, 20/02/2026 21:00
17°C
Thứ bảy, 21/02/2026 00:00
18°C
Thứ bảy, 21/02/2026 03:00
27°C
Hà Giang

26°C

Cảm giác: 26°C
mây đen u ám
Thứ ba, 17/02/2026 00:00
18°C
Thứ ba, 17/02/2026 03:00
20°C
Thứ ba, 17/02/2026 06:00
20°C
Thứ ba, 17/02/2026 09:00
19°C
Thứ ba, 17/02/2026 12:00
19°C
Thứ ba, 17/02/2026 15:00
19°C
Thứ ba, 17/02/2026 18:00
19°C
Thứ ba, 17/02/2026 21:00
18°C
Thứ tư, 18/02/2026 00:00
18°C
Thứ tư, 18/02/2026 03:00
18°C
Thứ tư, 18/02/2026 06:00
19°C
Thứ tư, 18/02/2026 09:00
18°C
Thứ tư, 18/02/2026 12:00
18°C
Thứ tư, 18/02/2026 15:00
18°C
Thứ tư, 18/02/2026 18:00
18°C
Thứ tư, 18/02/2026 21:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 00:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 03:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 06:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 09:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 12:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 15:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 18:00
18°C
Thứ năm, 19/02/2026 21:00
17°C
Thứ sáu, 20/02/2026 00:00
17°C
Thứ sáu, 20/02/2026 03:00
17°C
Thứ sáu, 20/02/2026 06:00
17°C
Thứ sáu, 20/02/2026 09:00
17°C
Thứ sáu, 20/02/2026 12:00
16°C
Thứ sáu, 20/02/2026 15:00
17°C
Thứ sáu, 20/02/2026 18:00
17°C
Thứ sáu, 20/02/2026 21:00
17°C
Thứ bảy, 21/02/2026 00:00
17°C
Thứ bảy, 21/02/2026 03:00
18°C
Hải Phòng

26°C

Cảm giác: 26°C
mây cụm
Thứ ba, 17/02/2026 00:00
21°C
Thứ ba, 17/02/2026 03:00
24°C
Thứ ba, 17/02/2026 06:00
22°C
Thứ ba, 17/02/2026 09:00
23°C
Thứ ba, 17/02/2026 12:00
22°C
Thứ ba, 17/02/2026 15:00
21°C
Thứ ba, 17/02/2026 18:00
20°C
Thứ ba, 17/02/2026 21:00
20°C
Thứ tư, 18/02/2026 00:00
20°C
Thứ tư, 18/02/2026 03:00
22°C
Thứ tư, 18/02/2026 06:00
23°C
Thứ tư, 18/02/2026 09:00
22°C
Thứ tư, 18/02/2026 12:00
22°C
Thứ tư, 18/02/2026 15:00
21°C
Thứ tư, 18/02/2026 18:00
21°C
Thứ tư, 18/02/2026 21:00
21°C
Thứ năm, 19/02/2026 00:00
21°C
Thứ năm, 19/02/2026 03:00
22°C
Thứ năm, 19/02/2026 06:00
21°C
Thứ năm, 19/02/2026 09:00
23°C
Thứ năm, 19/02/2026 12:00
22°C
Thứ năm, 19/02/2026 15:00
22°C
Thứ năm, 19/02/2026 18:00
21°C
Thứ năm, 19/02/2026 21:00
20°C
Thứ sáu, 20/02/2026 00:00
19°C
Thứ sáu, 20/02/2026 03:00
22°C
Thứ sáu, 20/02/2026 06:00
25°C
Thứ sáu, 20/02/2026 09:00
24°C
Thứ sáu, 20/02/2026 12:00
20°C
Thứ sáu, 20/02/2026 15:00
20°C
Thứ sáu, 20/02/2026 18:00
19°C
Thứ sáu, 20/02/2026 21:00
19°C
Thứ bảy, 21/02/2026 00:00
20°C
Thứ bảy, 21/02/2026 03:00
21°C
Khánh Hòa

31°C

Cảm giác: 33°C
mây rải rác
Thứ ba, 17/02/2026 00:00
22°C
Thứ ba, 17/02/2026 03:00
30°C
Thứ ba, 17/02/2026 06:00
32°C
Thứ ba, 17/02/2026 09:00
29°C
Thứ ba, 17/02/2026 12:00
22°C
Thứ ba, 17/02/2026 15:00
21°C
Thứ ba, 17/02/2026 18:00
22°C
Thứ ba, 17/02/2026 21:00
23°C
Thứ tư, 18/02/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 18/02/2026 03:00
29°C
Thứ tư, 18/02/2026 06:00
32°C
Thứ tư, 18/02/2026 09:00
29°C
Thứ tư, 18/02/2026 12:00
22°C
Thứ tư, 18/02/2026 15:00
21°C
Thứ tư, 18/02/2026 18:00
21°C
Thứ tư, 18/02/2026 21:00
20°C
Thứ năm, 19/02/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 19/02/2026 03:00
29°C
Thứ năm, 19/02/2026 06:00
30°C
Thứ năm, 19/02/2026 09:00
30°C
Thứ năm, 19/02/2026 12:00
22°C
Thứ năm, 19/02/2026 15:00
21°C
Thứ năm, 19/02/2026 18:00
20°C
Thứ năm, 19/02/2026 21:00
19°C
Thứ sáu, 20/02/2026 00:00
21°C
Thứ sáu, 20/02/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 20/02/2026 06:00
32°C
Thứ sáu, 20/02/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 20/02/2026 12:00
21°C
Thứ sáu, 20/02/2026 15:00
19°C
Thứ sáu, 20/02/2026 18:00
19°C
Thứ sáu, 20/02/2026 21:00
18°C
Thứ bảy, 21/02/2026 00:00
20°C
Thứ bảy, 21/02/2026 03:00
29°C

Giá vàngTỷ giá

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,600 17,900
AVPL - Bán Lẻ 17,600 17,900
KTT + Kim Giáp - Bán Lẻ 17,600 17,900
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,560 17,860
Nguyên Liệu 99.99 16,610 16,810
Nguyên Liệu 99.9 16,560 16,760
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 17,410 17,810
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 17,360 17,760
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 17,290 17,740
Cập nhật: 16/02/2026 12:00
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 177,500 180,500
Hà Nội - PNJ 177,500 180,500
Đà Nẵng - PNJ 177,500 180,500
Miền Tây - PNJ 177,500 180,500
Tây Nguyên - PNJ 177,500 180,500
Đông Nam Bộ - PNJ 177,500 180,500
Cập nhật: 16/02/2026 12:00
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,600 17,900
Miếng SJC Nghệ An 17,600 17,900
Miếng SJC Thái Bình 17,600 17,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,580 17,880
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,580 17,880
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,580 17,880
NL 99.90 16,420
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,450
Trang sức 99.9 17,070 17,770
Trang sức 99.99 17,080 17,780
Cập nhật: 16/02/2026 12:00
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 178 181
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 178 18,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 178 18,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,775 1,805
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,775 1,806
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,755 179
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 170,728 177,228
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 125,513 134,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 112,982 121,882
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 100,451 109,351
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 95,617 104,517
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 659 748
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 178 181
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 178 181
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 178 181
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 178 181
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 178 181
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 178 181
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 178 181
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 178 181
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 178 181
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 178 181
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 178 181
Cập nhật: 16/02/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17829 18103 18708
CAD 18530 18807 19448
CHF 33157 33543 34244
CNY 0 3470 3830
EUR 30175 30448 31520
GBP 34630 35022 36001
HKD 0 3190 3398
JPY 163 167 173
KRW 0 17 18
NZD 0 15364 15977
SGD 20010 20292 20871
THB 751 814 869
USD (1,2) 25699 0 0
USD (5,10,20) 25738 0 0
USD (50,100) 25766 25785 26175
Cập nhật: 16/02/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,790 25,790 26,170
USD(1-2-5) 24,759 - -
USD(10-20) 24,759 - -
EUR 30,300 30,324 31,673
JPY 165.96 166.26 174.28
GBP 34,818 34,912 35,953
AUD 18,013 18,078 18,660
CAD 18,699 18,759 19,415
CHF 33,314 33,418 34,325
SGD 20,110 20,173 20,925
CNY - 3,700 3,822
HKD 3,263 3,273 3,376
KRW 16.6 17.31 18.7
THB 795.14 804.96 861.96
NZD 15,296 15,438 15,896
SEK - 2,852 2,954
DKK - 4,052 4,195
NOK - 2,669 2,764
LAK - 0.92 1.29
MYR 6,231.13 - 7,035.4
TWD 745.65 - 903.4
SAR - 6,808.51 7,171.94
KWD - 82,845 88,155
Cập nhật: 16/02/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,810 26,150
EUR 30,282 30,404 31,571
GBP 34,786 34,926 35,920
HKD 3,258 3,271 3,384
CHF 33,213 33,346 34,280
JPY 165.74 166.41 174.03
AUD 18,091 18,164 18,745
SGD 20,231 20,312 20,891
THB 816 819 856
CAD 18,754 18,829 19,398
NZD 15,449 15,978
KRW 17.32 18.91
Cập nhật: 16/02/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25720 25755 26250
AUD 17998 18098 19028
CAD 18722 18822 19836
CHF 33299 33329 34921
CNY 0 3721.5 0
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30327 30357 32083
GBP 34848 34898 36656
HKD 0 3320 0
JPY 161.47 161.97 176.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.3 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6800 0
NOK 0 2735 0
NZD 0 15464 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2920 0
SGD 20149 20279 21011
THB 0 779.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 17600000 17600000 17900000
SBJ 16000000 16000000 17900000
Cập nhật: 16/02/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,780 25,830 26,150
USD20 25,780 25,830 26,150
USD1 25,780 25,830 26,150
AUD 18,104 18,204 19,341
EUR 30,490 30,490 31,936
CAD 18,660 18,760 20,086
SGD 20,237 20,387 21,230
JPY 166.3 167.8 172.5
GBP 34,736 35,086 36,240
XAU 17,598,000 0 17,902,000
CNY 0 3,609 0
THB 0 817 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/02/2026 12:00