VREF 2026: ‘Định hình chuẩn mực để thị trường bất động sản phát triển bền vững’

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Vừa qua, tại Hà Nội, dưới sự chỉ đạo của Hiệp hội Bất động sản Việt Nam (VNREA), Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam (VARS) và Viện Nghiên cứu Đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam (VARS IRE) tổ chức Diễn đàn Thị trường bất động sản Việt Nam 2026 – VREF 2026 với chủ đề “Định hình chuẩn mực để thị trường bất động sản phát triển bền vững”.
Doanh nghiệp có thêm 'thước đo' mới tại Diễn đàn Thị trường BĐS Việt Nam 2026 Dòng tiền Nam tiến đổ mạnh vào chung cư hạng sang trung tâm TP. Hồ Chí Minh Siêu đô thị lấn biển ESG++: Chiến lược đầu tư bền vững

Sự kiện thu hút gần 500 đại biểu, bao gồm đại diện lãnh đạo các cơ quan, bộ, ban, ngành từ Quốc hội, Chính phủ, Bộ Xây dựng…, các chuyên gia kinh tế hàng đầu trong nước và quốc tế; cùng đông đảo thành viên trong hệ sinh thái VARS.

Phát biểu khai mạc Diễn đàn, TS. Nguyễn Văn Khôi, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam cho biết, năm 2025 thị trường bất động sản đã khép lại với nhiều kết quả tích cực.

VREF 2026: ‘Định hình chuẩn mực để thị trường bất động sản phát triển bền vững’
TS. Nguyễn Văn Khôi, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam.

Nhờ việc triển khai đồng bộ các chính sách mới liên quan đến đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản, nhiều vướng mắc của doanh nghiệp đã từng bước được tháo gỡ, góp phần cải thiện nguồn cung và thanh khoản thị trường.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh đánh giá, thị trường bất động sản Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển mới, nhưng cũng tồn tại không ít thách thức. Giá nhà ở tại các đô thị lớn vẫn duy trì ở mức cao; cơ cấu nguồn cung mất cân đối, đặc biệt thiếu nhà ở giá phù hợp với đại bộ phận người dân; hàng nghìn dự án còn tồn đọng chưa được xử lý dứt điểm.

Trong thời gian qua, Chính phủ đã tập trung sửa đổi, hoàn thiện khung pháp lý; ưu tiên phát triển nhà ở xã hội; đồng thời tháo gỡ khó khăn cho phân khúc nhà ở thương mại. Đến nay, khoảng 926 dự án với tổng vốn hơn 724 nghìn tỷ đồng đã được “khơi thông”, tạo tiền đề quan trọng cho thị trường phát triển lành mạnh hơn.

Trình bày báo cáo thị trường bất động sản Việt Nam năm 2025, bà Phạm Thị Miền, Phó Viện trưởng VARS IRE cho biết, thị trường địa ốc năm qua ghi nhận nguồn cung tăng trưởng tích cực, tiến tới giai đoạn trước Covid-19 và giao dịch sôi động trong phần lớn thời gian.

VREF 2026: ‘Định hình chuẩn mực để thị trường bất động sản phát triển bền vững’
Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh phát biểu tại diễn đàn.

Năm 2025, toàn thị trường có hơn 128 nghìn sản phẩm nhà ở chào bán mới, mức cao nhất trong giai đoạn 2019-2025 và tăng 88% so với năm 2024. Riêng quý 4/2025, thị trường ghi nhận hơn 42 nghìn sản phẩm mở bán mới, tăng 24% so với quý trước và 48% so với cùng kỳ năm trước. Lượng tồn kho tăng nhanh nhưng chủ yếu là các sản phẩm đang triển khai và nhà ở hình thành trong tương lai, phản ánh nguồn cung cho giai đoạn tiếp theo.

Tuy vậy, tình trạng lệch pha cung - cầu vẫn tiếp diễn. Tại một số địa phương, chủ yếu thuộc khu vực miền Nam, nguồn cung nhà ở thương mại có mức giá phù hợp hơn tăng mạnh, giúp cải thiện cục bộ cán cân thị trường. Ngược lại, tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh (cũ), mức độ lệch pha ngày càng rõ nét khi nguồn cung nhà ở xã hội dù tăng mạnh vẫn không theo kịp nguồn cung nhà ở thương mại có giá phổ biến trên 80 triệu đồng/m2.

Theo đó, trong năm 2025, toàn thị trường ghi nhận hơn 80 nghìn căn hộ chung cư mới, gấp 2 lần năm 2024. Tuy nhiên, khoảng 25% nguồn cung căn hộ mới có giá trên 100 triệu đồng/m2, tương đương hơn 20 nghìn sản phẩm, gấp gần 10 lần so với năm trước. Riêng tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh (cũ), khoảng 85% nguồn cung căn hộ mở bán mới có mức giá trên 80 triệu đồng/m². Cơ cấu phân khúc tiếp tục dịch chuyển khi tỷ trọng căn hộ sang trọng và siêu sang tăng mạnh, trong khi phân khúc nhà ở thương mại bình dân tiếp tục vắng bóng.

VREF 2026: ‘Định hình chuẩn mực để thị trường bất động sản phát triển bền vững’
Quang cảnh diễn đàn.

Xét theo khu vực, cơ cấu nguồn cung tiếp tục được cải thiện theo hướng đa dạng hóa. Miền Bắc vẫn giữ vị thế dẫn đầu, chiếm 48% tổng nguồn cung cả nước. Khu vực miền Nam vươn lên mạnh mẽ, chiếm 37% nhờ hàng loạt dự án được triển khai đồng loạt sau thời gian dài trầm lắng. Trong khi khu vực miền Trung duy trì ổn định ở mức 15%. Về phía doanh nghiệp, nguồn cung có tính cạnh tranh hơn trong quý 4 nhưng cả năm vẫn chủ yếu được dẫn dắt bởi các chủ đầu tư lớn, trong đó Vingroup tiếp tục là doanh nghiệp đóng góp lớn nhất cho thị trường.

Chia sẻ về vấn đề thanh khoản, ông Lê Đình Chung, Phó Chủ tịch Hội đồng nghiên cứu và đánh giá thị trường bất động sản VARS, Tổng Giám đốc SGO Homes cho biết, tỷ lệ hấp thụ bình quân năm 2025 đạt khoảng 68%, tương đương gần 88 nghìn giao dịch thành công.

Ba quý đầu năm, nhiều dự án dù có mức giá cao vẫn ghi nhận tỷ lệ hấp thụ tốt nhờ nhu cầu ở thực và đầu tư gia tăng. Tuy nhiên, sang quý 4, tỷ lệ hấp thụ có xu hướng giảm nhẹ khi nguồn cung tăng mạnh và tâm lý nhà đầu tư trở nên thận trọng hơn trong bối cảnh lãi suất huy động và cho vay bắt đầu nhích lên.

Ông Chung cũng cho biết, nhu cầu ở thực tiếp tục giữ vai trò quan trọng, song động lực chính của thị trường vẫn đến từ cầu đầu tư. Hơn 75% giao dịch đến từ người mua nhà thứ hai trở lên, trong đó có khoảng 10% là nhóm đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính ngắn hạn. Đáng chú ý, tỷ lệ người trẻ mua căn nhà đầu tiên đang có xu hướng gia tăng nhờ các chính sách ưu đãi và phương thức thanh toán linh hoạt từ chủ đầu tư.

Cùng với sự phục hồi của giao dịch, mặt bằng giá bất động sản nhà ở tiếp tục tăng cao và thiết lập mặt bằng mới tại hầu hết các khu vực. Phân khúc thấp tầng và đất nền ghi nhận mức tăng giá chào bán từ 5-10%. Nhiều chủ đầu tư áp dụng phương thức giãn tiến độ xây dựng nhằm giảm áp lực tài chính ban đầu cho nhà đầu tư, trong khi nhiều dự án dành quỹ sản phẩm riêng, ưu đãi cho nhóm khách hàng cam kết vào ở sớm, hạn chế chuyển nhượng để ưu tiên hình thành cộng đồng cư dân thực. Riêng phân khúc đất nền, giá chào bán mới ghi nhận mức tăng lên tới 20% do nguồn cung khan hiếm kéo dài.

VREF 2026: ‘Định hình chuẩn mực để thị trường bất động sản phát triển bền vững’
VREF 2026: ‘Định hình chuẩn mực để thị trường bất động sản phát triển bền vững’

Trên thị trường thứ cấp, mặt bằng giá nhà ở thấp tầng tăng khoảng 20% so với cùng kỳ năm trước. Giao dịch tập trung chủ yếu tại các dự án có mức giá từ 100-200 triệu đồng/m2, nằm trong các đô thị đã hình thành, có dân cư về ở và hệ thống hạ tầng - tiện ích đồng bộ. Ngược lại, nhiều sản phẩm biệt thự, liền kề dù ghi nhận mức tăng giá cao nhưng thanh khoản hạn chế do dự án chưa hoàn thiện, vị trí kết nối chưa thuận lợi, hạ tầng khu vực chưa theo kịp.

Phân khúc căn hộ chung cư tiếp tục là điểm nóng của thị trường với giá chào bán mới tại các đô thị lớn đồng loạt tăng mạnh, khi các dự án phát triển mới đều định vị sản phẩm ở phân khúc cao cấp trở lên trong bối cảnh chi phí liên quan đến đất đai tăng mạnh.

Tại Hà Nội, giá căn hộ chào bán mới trung bình đạt khoảng 100 triệu đồng/m2, tăng 40% so với năm 2024. Tại TP. Hồ Chí Minh (cũ), giá chào bán mới đạt trung bình 111 triệu đồng/m2, tăng 23% so với năm trước, với hàng loạt dự án sang trọng được mở bán vào thời điểm cuối năm, khẳng định tín hiệu tăng trưởng của thị trường. Tại Đà Nẵng, giá chào bán mới căn hộ chung cư trung bình cũng vượt ngưỡng 83 triệu đồng/m2, tăng 14% so với năm 2024.

Các chuyên gia nhận định, năm 2026 thị trường bất động sản Việt Nam cần tiếp tục giải quyết bài toán mất cân đối nguồn cung, đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, nhà ở giá phù hợp, tăng cường minh bạch, cơ cấu lại sản phẩm theo nhu cầu thực; đồng thời thúc đẩy mô hình phát triển đô thị xanh, thông minh và thân thiện môi trường.

Diễn đàn VREF 2026 được đánh giá là kênh đối thoại chính sách quan trọng, góp phần cung cấp dữ liệu thị trường, định hình chuẩn mực phát triển và đề xuất giải pháp giúp thị trường bất động sản Việt Nam phát triển ổn định, bền vững trong giai đoạn tới.

Có thể bạn quan tâm

Bất động sản mở đường cho hệ sinh thái RWA, thúc đẩy kinh tế số Việt Nam

Bất động sản mở đường cho hệ sinh thái RWA, thúc đẩy kinh tế số Việt Nam

Fintech
Bất động sản được đánh giá là lĩnh vực tiên phong trong quá trình mã hóa tài sản thực (RWA), góp phần mở rộng thanh khoản, thu hút dòng vốn và hình thành hệ sinh thái tài sản số tại Việt Nam. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia chia sẻ tại Vietnam RWA Summit 2026 diễn ra ở Hà Nội.
Fast Retailing lập kỷ lục doanh thu và lợi nhuận 9 tháng đầu năm tài chính 2026

Fast Retailing lập kỷ lục doanh thu và lợi nhuận 9 tháng đầu năm tài chính 2026

Thị trường
Fast Retailing, tập đoàn sở hữu thương hiệu UNIQLO, vừa công bố kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm tài chính 2026 với doanh thu và lợi nhuận đạt mức cao kỷ lục. Đà tăng trưởng đến từ hoạt động tích cực của UNIQLO tại các thị trường quốc tế, qua đó giúp tập đoàn nâng dự báo doanh thu và lợi nhuận cho cả năm tài chính.
Giải pháp tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế giai đoạn 2026-2030

Giải pháp tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế giai đoạn 2026-2030

Kinh tế số
Nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới, Việt Nam cần có chính sách vi mô đột phá, chuyển trọng tâm từ các giải pháp kích cầu ngắn hạn sang nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên tăng cường liên kết vùng phát triển nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh

Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên tăng cường liên kết vùng phát triển nông nghiệp thông minh, kinh tế xanh

Hạ tầng thông minh
Trong bối cảnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn trở thành xu hướng phát triển tất yếu, việc tăng cường liên kết giữa Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên được xác định là giải pháp quan trọng nhằm mở rộng không gian phát triển, hình thành chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại và thu hút nguồn lực đầu tư.
Chứng khoán hôm nay 17/7: VN-Index mất mốc 1.800 điểm, PNJ và VNM ngược dòng

Chứng khoán hôm nay 17/7: VN-Index mất mốc 1.800 điểm, PNJ và VNM ngược dòng

Thị trường
Chứng khoán hôm nay 17/7, VN-Index giảm 16,79 điểm còn 1.787,45 điểm, mất mốc 1.800 điểm. Ngân hàng phân hóa, PNJ và VNM ngược dòng, khối ngoại bán ròng mạnh.
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Quảng Bình
Thừa Thiên Huế
Hà Giang
Hải Phòng
Khánh Hòa
Nghệ An
Phan Thiết
Hà Nội

27°C

Cảm giác: 31°C
mây đen u ám
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
32°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
35°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
34°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
30°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
27°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
32°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
34°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
32°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
26°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
34°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
28°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
31°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
33°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
32°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
29°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
26°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
27°C
TP Hồ Chí Minh

32°C

Cảm giác: 39°C
mây cụm
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
29°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
33°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
36°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
37°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
31°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
30°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
30°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
33°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
32°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
32°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
27°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
26°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
34°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
29°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
32°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
34°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
32°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
30°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
26°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
27°C
Đà Nẵng

33°C

Cảm giác: 37°C
mây đen u ám
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
32°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
31°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
30°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
29°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
27°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
29°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
31°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
31°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
30°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
29°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
27°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
27°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
28°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
29°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
29°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
30°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
30°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
28°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
28°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
26°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
27°C
Quảng Bình

31°C

Cảm giác: 31°C
mây đen u ám
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
25°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
26°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
29°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
25°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
24°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
22°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
23°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
33°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
31°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
24°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
23°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
22°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
29°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
33°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
23°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
22°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
33°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
31°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
29°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
23°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
22°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
22°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
24°C
Thừa Thiên Huế

37°C

Cảm giác: 38°C
mây cụm
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
37°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
33°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
25°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
24°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
37°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
33°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
36°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
23°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
35°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
35°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
23°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
34°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
34°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
32°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
23°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
26°C
Hà Giang

32°C

Cảm giác: 38°C
mây thưa
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
24°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
34°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
31°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
25°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
24°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
25°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
29°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
30°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
31°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
28°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
30°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
24°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
24°C
Hải Phòng

28°C

Cảm giác: 32°C
mây đen u ám
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
32°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
30°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
32°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
27°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
32°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
32°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
30°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
27°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
26°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
28°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
28°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
28°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
32°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
33°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
32°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
28°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
27°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
28°C
Khánh Hòa

38°C

Cảm giác: 40°C
mây cụm
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
29°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
38°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
41°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
33°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
29°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
38°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
39°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
35°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
37°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
31°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
27°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
28°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
35°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
39°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
33°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
24°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
27°C
Nghệ An

25°C

Cảm giác: 26°C
mây đen u ám
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
23°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
29°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
24°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
22°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
22°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
21°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
21°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
22°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
30°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
35°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
33°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
23°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
34°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
29°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
23°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
23°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
23°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
30°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
31°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
24°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
23°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
23°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
22°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
23°C
Phan Thiết

32°C

Cảm giác: 35°C
mây cụm
Thứ tư, 22/07/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 03:00
33°C
Thứ tư, 22/07/2026 06:00
34°C
Thứ tư, 22/07/2026 09:00
34°C
Thứ tư, 22/07/2026 12:00
28°C
Thứ tư, 22/07/2026 15:00
27°C
Thứ tư, 22/07/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 22/07/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 23/07/2026 00:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 03:00
33°C
Thứ năm, 23/07/2026 06:00
34°C
Thứ năm, 23/07/2026 09:00
33°C
Thứ năm, 23/07/2026 12:00
28°C
Thứ năm, 23/07/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 23/07/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 23/07/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 24/07/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 03:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 06:00
34°C
Thứ sáu, 24/07/2026 09:00
32°C
Thứ sáu, 24/07/2026 12:00
28°C
Thứ sáu, 24/07/2026 15:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 18:00
26°C
Thứ sáu, 24/07/2026 21:00
25°C
Thứ bảy, 25/07/2026 00:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 03:00
33°C
Thứ bảy, 25/07/2026 06:00
33°C
Thứ bảy, 25/07/2026 09:00
32°C
Thứ bảy, 25/07/2026 12:00
27°C
Thứ bảy, 25/07/2026 15:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 18:00
26°C
Thứ bảy, 25/07/2026 21:00
25°C
Chủ nhật, 26/07/2026 00:00
27°C

Giá vàngTỷ giá

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,000 145,000
Hà Nội - PNJ 141,000 145,000
Đà Nẵng - PNJ 141,000 145,000
Miền Tây - PNJ 141,000 145,000
Tây Nguyên - PNJ 141,000 145,000
Đông Nam Bộ - PNJ 141,000 145,000
Cập nhật: 21/07/2026 09:45
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 14,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 14,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 14,550
NL 99.99 12,880
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,830
Trang sức 99.9 13,740 14,440
Trang sức 99.99 13,750 14,450
Cập nhật: 21/07/2026 09:45
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,415 145
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,415 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,385 143
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,584 141,584
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,611 107,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 876 974
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,589 87,389
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,727 83,527
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,987 59,787
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 21/07/2026 09:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17899 18174 18754
CAD 18157 18433 19045
CHF 31812 32193 32834
CNY 0 3847 3940
EUR 29395 29616 30693
GBP 34535 34927 35868
HKD 0 3224 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15133 15720
SGD 19837 20119 20695
THB 696 759 812
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26484
Cập nhật: 21/07/2026 09:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,110 26,110 26,490
USD(1-2-5) 25,066 - -
USD(10-20) 25,066 - -
EUR 29,507 29,531 30,940
JPY 157.42 157.7 167.2
GBP 34,695 34,789 35,987
AUD 18,079 18,144 18,834
CAD 18,336 18,395 19,073
CHF 32,054 32,154 33,104
SGD 19,952 20,014 20,795
CNY - 3,811 3,957
HKD 3,287 3,297 3,434
KRW 16.39 17.09 18.59
THB 745 754.2 807.64
NZD 15,084 15,224 15,673
SEK - 2,670 2,764
DKK - 3,947 4,086
NOK - 2,673 2,768
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,009.36 - 6,785.05
TWD 734.93 - 890.24
SAR - 6,884 7,250.55
KWD - 83,192 88,508
Cập nhật: 21/07/2026 09:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,706 34,845 35,878
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,909 32,037 32,965
JPY 157.78 158.41 166.31
AUD 18,073 18,146 18,743
SGD 20,025 20,105 20,694
THB 762 765 800
CAD 18,352 18,426 19,004
NZD 15,173 15,719
KRW 17.01 18.85
Cập nhật: 21/07/2026 09:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26125 26125 26485
AUD 18076 18176 19101
CAD 18338 18438 19450
CHF 32050 32080 33666
CNY 3828 3853 3988.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29573 29603 31329
GBP 34839 34889 36642
HKD 0 3355 0
JPY 158.34 158.84 169.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15227 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19992 20122 20848
THB 0 726 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Cập nhật: 21/07/2026 09:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,120 26,170 26,523
USD20 26,120 26,170 26,523
USD1 23,997 26,170 26,523
AUD 18,114 18,214 19,330
EUR 29,355 29,455 31,133
CAD 18,273 18,373 19,694
SGD 20,062 20,212 20,786
JPY 158.76 160.26 165.9
GBP 34,713 34,863 35,947
XAU 14,298,000 0 14,602,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/07/2026 09:45