Starlink vào Việt Nam: Internet vệ tinh tốc độ cao, giá cước thực tế và ai thực sự nên dùng?

Theo dõi tạp chí Điện tử và Ứng dụng trên
Starlink vào Việt Nam chính thức từ tháng 2 năm 2026 với giới hạn 600.000 thiết bị đầu cuối, và internet vệ tinh tốc độ cao từ SpaceX hiện phủ 10 triệu thuê bao tại 155 quốc gia theo bài phân tích của Ookla công bố mới nhất. Tốc độ thực tế bao nhiêu, mức giá có chịu được không và chính phủ mỗi nước đòi điều kiện gì mới là những gì người dùng cần biết trước khi quyết định.

Internet Starlink chạy nhanh hay chậm, số liệu đo từ người dùng thật nói gì?

Ookla, chủ sở hữu nền tảng Speedtest quen thuộc với hàng trăm triệu người dùng internet trên thế giới vừa công bố bài phân tích hiệu suất băng thông rộng vệ tinh toàn cầu dành riêng cho phân khúc vệ tinh. Bài viết tổng hợp dữ liệu từ Speedtest Intelligence, tức số liệu thực tế từ hàng triệu lượt đo tốc độ của người dùng thực trên mạng Starlink, phân tích theo từng quý và từng thị trường. Đây là nguồn dữ liệu độc lập, khác hoàn toàn với số liệu do SpaceX tự công bố, và đó là lý do khiến những con số trong bài phân tích dưới đây phản ánh trung thực hơn những gì người dùng thực sự nhận được.

Starlink vào Việt Nam: Internet vệ tinh tốc độ cao, giá cước thực tế và ai thực sự nên dùng?
Internet Starlink

Kết quả tổng quan cho thấy Starlink hiện chiếm lĩnh phân khúc vệ tinh LEO toàn cầu với 10 triệu thuê bao trên 155 quốc gia, tương đương 97,1% toàn bộ mẫu đo tốc độ vệ tinh qua Speedtest trong quý 3 năm 2025. Tại châu Á - Thái Bình Dương, Ookla theo dõi 11 thị trường có dịch vụ được cấp phép thương mại từ quý 4 năm 2024 đến quý 4 năm 2025, ghi lại hiệu suất với biên độ dao động rất lớn giữa các quốc gia. Những con số đó có ý nghĩa thực tiễn trực tiếp với bất kỳ ai đang cân nhắc dùng Starlink tại Việt Nam hoặc muốn hiểu tại sao dịch vụ hoạt động tốt ở nơi này nhưng kém hơn ở nơi khác.

Người dùng Việt Nam thường đặt ra ba câu hỏi nhất khi nghe đến Starlink, đó là tốc độ thực tế đạt bao nhiêu, mức giá có hợp lý so với thu nhập không, và liệu chính phủ có thực sự cho phép dùng lâu dài hay không. Dữ liệu của Ookla cung cấp câu trả lời định lượng cho cả ba câu hỏi trên.

Trước khi Starlink xuất hiện, thị trường vệ tinh châu Á - Thái Bình Dương vận hành trên nền tảng công nghệ quỹ đạo trung bình (MEO) và quỹ đạo địa tĩnh (GEO), hoạt động ở độ cao từ 8.000 đến 36.000 km so với mặt đất. Khoảng cách vật lý đó tạo ra độ trễ tín hiệu đủ lớn để vô hiệu hóa gần như toàn bộ ứng dụng thời gian thực, từ gọi video đến học trực tuyến. Ookla đo độ trễ của Kacific, nhà cung cấp GEO phục vụ các đảo Thái Bình Dương và một phần Đông Nam Á, ở mức 599ms tại Philippines trong quý 3 năm 2025. Để hình dung cụ thể hơn, 599ms có nghĩa là người dùng nhấn nút gọi video rồi phải ngồi chờ gần nửa giây trước khi hình ảnh phía bên kia xuất hiện, và khoảng chờ đó lặp lại sau mỗi thao tác, khiến cuộc trò chuyện liên tục bị ngắt quãng và không thể duy trì được.

Starlink vào Việt Nam: Internet vệ tinh tốc độ cao, giá cước thực tế và ai thực sự nên dùng?
Ảnh minh họa vệ tinh Starlink

Starlink vận hành chùm vệ tinh LEO ở độ cao khoảng 550 km, chỉ bằng một phần rất nhỏ so với vệ tinh GEO truyền thống. Khoảng cách ngắn hơn đó kéo thời gian tín hiệu đi và về xuống mức mà người dùng gần như không cảm nhận được độ trễ, tương đương với chất lượng đường truyền cáp quang mặt đất tại các thị trường có hạ tầng trạm mặt đất được đặt gần. Chính sự rút ngắn độ trễ này thay đổi hoàn toàn những gì kết nối vệ tinh có thể làm được, từ chỗ chỉ dùng được cho email và tin nhắn văn bản đến chỗ đáp ứng được gọi video, họp trực tuyến, chơi game và làm việc từ xa, biến Starlink thành lựa chọn thực dụng tại nhiều địa bàn thay vì phương án buộc phải dùng khi không còn cách nào khác.

SpaceX mất liên lạc với vệ tinh Starlink, nghi vỡ vụn trên quỹ đạo

Địa lý của châu Á - Thái Bình Dương tự nó đã tạo ra thị trường cho Starlink mà không cần thêm bất kỳ chiến dịch quảng bá nào. Philippines và Indonesia cộng lại có hơn 24.000 hòn đảo, những vùng lãnh thổ mà chi phí triển khai cáp quang hoàn toàn không khả thi về mặt kinh tế. Mông Cổ là một trong những quốc gia thưa dân nhất thế giới, với khoảng 30% dân số sống rải rác trên lãnh thổ rộng lớn mà không một nhà mạng mặt đất nào có thể phủ sóng có lãi. Tại các quốc đảo Thái Bình Dương, mật độ dân số thấp kết hợp với địa hình quần đảo khiến hạ tầng cáp quang toàn diện trở thành điều không tưởng về mặt tài chính, đẩy hàng triệu người dân ra khỏi mọi giải pháp kết nối mặt đất có chi phí hợp lý. Việt Nam với địa hình dài hẹp, nhiều vùng núi và hải đảo cũng mang đúng những đặc điểm địa lý đó, và vệ tinh LEO về bản chất được xây dựng để vươn tới chính những vùng mà hạ tầng số không thể vươn tới.

Tại sao Starlink vào được Việt Nam nhưng vẫn bị chặn ở Thái Lan?

Điều mà nhiều người dùng không nhận ra là Starlink không thể hoạt động tại một quốc gia chỉ vì công nghệ đã sẵn sàng. Tại tất cả các thị trường đang hoạt động ở châu Á - Thái Bình Dương, SpaceX phải vượt qua các quy định pháp luật mà mỗi chính phủ đặt ra, thường xoay quanh ba vấn đề cốt lõi là ai sở hữu hạ tầng định tuyến dữ liệu, cơ quan an ninh có thể giám sát được không và dữ liệu người dùng đi qua trạm nào trước khi ra ngoài lãnh thổ quốc gia.

Australia, New Zealand và Nhật Bản là những thị trường gia nhập sớm nhất vào tháng 4 năm 2021, bởi cả ba đều có các quy định pháp luật về viễn thông đủ hoàn thiện để cấp phép cho Starlink mà không cần cập nhật điều luật nào. Riêng Nhật Bản triển khai Starlink ban đầu như công cụ bổ sung hạ tầng chứ không phải thay thế mạng có sẵn. KDDI chọn Starlink cho đường truyền backhaul nông thôn từ năm 2022, kết nối 1.200 trạm thu phát sóng di động ở vùng xa vốn không có cáp quang kéo đến. Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản cũng thử nghiệm dịch vụ cho mục đích tác chiến trước khi SpaceX mở rộng ra khách hàng thông thường.

Philippines, Malaysia và Indonesia đều trải qua quá trình đàm phán kéo dài với cơ quan quản lý trước khi được cấp phép. Starlink ra mắt tại Philippines vào tháng 2 năm 2023, trở thành thị trường Đông Nam Á đầu tiên, hoạt động theo giấy phép Dịch vụ giá trị gia tăng do Ủy ban viễn thông quốc gia cấp. Malaysia tiếp bước vào tháng 7 năm 2023 sau khi hoàn tất thủ tục cấp phép từ MCMC. Hành trình vào Indonesia phức tạp hơn cả, khi vị thế sở hữu 100% nước ngoài của SpaceX liên tục vấp phải phản đối cho đến tháng 5 năm 2024, buộc lễ ra mắt tại Bali phải gắn với cam kết kết nối hơn 2.700 trung tâm y tế cộng đồng trên cả nước, qua đó đặt dịch vụ vào khung hạ tầng công cộng phục vụ người dân thay vì định vị như một sản phẩm thương mại.

Hai thị trường gia nhập gần nhất đều phải tiến hành sửa đổi luật trước khi Starlink được phép hoạt động. Sri Lanka sửa đổi Luật viễn thông lần đầu tiên sau 28 năm, với Ủy ban quản lý viễn thông cấp phép vào tháng 8 năm 2024, nhưng tranh chấp về quy định giám sát hợp pháp kéo dài khiến ngày khai trương thương mại bị lùi đến tận tháng 7 năm 2025. Bangladesh đi theo hướng khác khi xây dựng từ đầu một khung pháp lý hoàn toàn mới về hệ thống vệ tinh phi địa tĩnh (NGSO) thông qua BTRC vào tháng 3 năm 2025, trong đó áp lực từ công chúng sau làn sóng cắt internet trong bất ổn tháng 7 năm 2024 là một trong những động lực thúc đẩy tiến trình này diễn ra nhanh hơn dự kiến.

Starlink chính thức được cấp phép tại Việt Nam

Tại Việt Nam, Starlink nhận giấy phép thương mại chính thức vào tháng 2/2026, cho phép tối đa 600.000 thiết bị đầu cuối và sở hữu nước ngoài 100%. Tại Thái Lan, Starlink bị đình lại từ tháng 11 năm 2025 do vướng quy định về sở hữu nước ngoài, cùng điều kiện từng buộc Indonesia phải mất gần một năm đàm phán mới tháo gỡ được, và đến nay lập trường của các bên vẫn chưa thay đổi.

Vệ tinh Trung Quốc đạt tốc độ truyền dữ liệu nhanh gấp 5 lần Starlink với laser 2 watt
Vệ tinh Trung Quốc đạt tốc độ truyền dữ liệu nhanh gấp 5 lần Starlink với laser 2 watt

Hàn Quốc khai trương vào tháng 12 năm 2025 theo mô hình bắt buộc thành lập công ty con đặt trụ sở trong nước, tức SpaceX phải lập pháp nhân hoạt động trực tiếp tại Hàn Quốc thay vì vận hành từ nước ngoài. Tại Ấn Độ, SpaceX đã có đủ giấy phép từ IN-SPACe vào tháng 7 năm 2025 cùng thỏa thuận phân phối với cả nhà mạng Bharti Airtel lẫn Reliance Jio, nhưng vẫn còn chờ giải quyết yêu cầu định giá phổ tần và thủ tục xét duyệt an ninh trước khi dịch vụ chính thức đến tay người dùng. Tại Trung Quốc, Starlink bị đóng cửa hoàn toàn và Trung Quốc tự phát triển ba chùm vệ tinh LEO nội địa gồm Guowang, Qianfan và Honghu-3 như những giải pháp thay thế mang tính tự chủ công nghệ.

Tốc độ thực tế internet Starlink ở 11 thị trường

Đây là phần người dùng quan tâm nhất, và dữ liệu Ookla cho thấy khoảng cách hiệu suất giữa các thị trường lớn hơn nhiều người hình dung, với nguyên nhân chủ yếu không phải công nghệ mà là khoảng cách đến trạm mặt đất.

Australia dẫn đầu khu vực với tốc độ tải xuống trung bình 162,47 Mbps trong quý 4 năm 2025, từng chạm đỉnh 167,37 Mbps vào quý 3 năm 2025. Australia vận hành 20 trạm mặt đất trải rộng năm tiểu bang. New Zealand có độ trễ đa máy chủ 35ms trong quý 4 năm 2025, thấp nhất trong số tất cả các thị trường Starlink trên toàn cầu, tức là tốt hơn nhiều đường cáp quang mặt đất phổ thông. Cả hai đều hoạt động từ tháng 4 năm 2021, đủ thời gian để mạng lưới trạm mặt đất phủ rộng trở thành nền tảng của lợi thế hiệu suất.

Starlink vào Việt Nam: Internet vệ tinh tốc độ cao, giá cước thực tế và ai thực sự nên dùng?
Tốc độ tải xuống Starlink tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương phân hóa theo từng thị trường. Nguồn Ookla

Nhật Bản trải qua biên độ biến động đáng chú ý trong vòng một năm, khi tốc độ tải xuống trung bình bắt đầu ở mức 91,13 Mbps trong quý 4 năm 2024 rồi giảm mạnh xuống còn 61,75 Mbps trong quý 1 năm 2025 trước khi phục hồi lên 104,60 Mbps vào quý 4 năm 2025, một quy luật phản ánh chính xác điều đã xảy ra tại Đức và Thụy Sĩ, khi tốc độ suy giảm vì nhu cầu tăng nhanh hơn dung lượng mạng có thể đáp ứng rồi dần hồi phục khi SpaceX bổ sung thêm vệ tinh và nâng công suất trạm, và đây là bài học quan trọng cho người dùng Việt Nam cần ghi nhớ, rằng chất lượng dịch vụ trong những tháng đầu triển khai chưa phản ánh đầy đủ mức ổn định mà dịch vụ có thể đạt được về dài hạn.

Đông Nam Á cho thấy biên độ kết quả rộng nhất trong khu vực. Malaysia cải thiện từ 53,74 Mbps trong quý 4 năm 2024 lên 98,68 Mbps trong quý 4 năm 2025, tức gần gấp đôi chỉ trong một năm. Philippines tăng khiêm tốn hơn từ 42,68 Mbps lên 53,27 Mbps. Indonesia đi ngược chiều, giảm từ 45,16 Mbps xuống 40,69 Mbps vì lượng thuê bao tăng nhanh hơn dung lượng mạng được mở rộng. Nam Á cho thấy kết quả ban đầu ấn tượng nhất: Bangladesh đạt 88,95 Mbps và Sri Lanka đạt 140,68 Mbps ngay trong những quý đầu vận hành.

Starlink vào Việt Nam: Internet vệ tinh tốc độ cao, giá cước thực tế và ai thực sự nên dùng?
Các thị trường gần trạm cổng Starlink ghi nhận độ trễ thấp nhất tại châu Á – Thái Bình Dương. Nguồn Ookla

Về độ trễ, mối tương quan giữa hạ tầng trạm mặt đất và chất lượng dịch vụ thực tế hiện ra rõ ràng nhất khi đặt các thị trường cạnh nhau, với những thị trường có trạm cổng Starlink nội địa được xác nhận như Australia ở mức 36ms, New Zealand 35ms và Bangladesh 35ms đều đạt độ trễ tương đương băng thông rộng mặt đất, trong khi những thị trường phải định tuyến tín hiệu qua trạm cổng ở xa cho kết quả cao hơn rất nhiều, điển hình là Đông Timor ở mức 157ms, Mông Cổ 137ms và Maldives 118ms. Minh chứng thực tế nhất đến từ Kenya, khi Starlink triển khai một điểm hiện diện mạng tại Nairobi vào tháng 1 năm 2025 và độ trễ của thị trường này lập tức giảm từ 289ms xuống còn 53ms, cho thấy cam kết đặt trạm mặt đất trong nước tác động trực tiếp và đo lường được lên chất lượng dịch vụ mà người dân nhận được. Với Việt Nam, điều khoản về hạ tầng trạm cổng trong giấy phép tháng 2 năm 2026 vì vậy sẽ là yếu tố quyết định mức độ trễ mà người dùng thực sự trải nghiệm trong năm đầu tiên sử dụng dịch vụ.

Giá cước Starlink đắt hay rẻ, tùy vào thu nhập của từng quốc gia

Đây là câu hỏi người dùng quan tâm nhất và cũng là điểm khó giải thích nhất, bởi nhìn qua số liệu thì mức giá thuê bao hàng tháng của Starlink tại các thị trường khu vực tương đối đồng nhất về mặt giá trị danh nghĩa. Với gói tiêu chuẩn dao động từ khoảng 47 USD tại Australia đến 68 USD tại Philippines, tức chênh lệch chưa đến 25 USD giữa những thị trường có thu nhập bình quân đầu người cách nhau hàng chục lần, và chính khoảng cách thu nhập đó mới là điều tạo ra sự bất bình đẳng thực sự trong khả năng tiếp cận dịch vụ, khi Nhật Bản với gói 8.800 yên mỗi tháng tương đương khoảng 57 USD chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong thu nhập hộ gia đình tại đất nước có GDP bình quân đầu người vào khoảng 33.000 USD, trong khi cùng mức giá xấp xỉ 50 USD tại Bangladesh hay Sri Lanka lại đặt lên vai người dùng một gánh nặng hoàn toàn khác khi GDP bình quân đầu người của cả hai quốc gia này đều dưới ngưỡng 4.000 USD.

Starlink vào Việt Nam: Internet vệ tinh tốc độ cao, giá cước thực tế và ai thực sự nên dùng?
Chi phí thuê bao Starlink hộ gia đình theo năm chênh lệch lớn giữa các thị trường châu Á – Thái Bình Dương. Nguồn Ookla

Philippines cho thấy rõ nhất khoảng cách giữa con số giá tuyệt đối và sức mua thực tế của người dùng khi Khảo sát Hộ gia đình về Công nghệ Thông tin và Truyền thông Quốc gia năm 2024 của Cơ quan Thống kê Philippines cho thấy chi tiêu internet hàng tháng trung bình của hộ gia đình chỉ ở mức 1.069 peso tương đương khoảng 19 USD, trong khi gói Starlink sau đợt tăng giá 40% vào tháng 5 năm 2025 đã lên đến 3.800 peso tương đương khoảng 68 USD, tăng từ mức cũ 2.700 peso, có nghĩa là người dùng phổ thông Philippines phải bỏ ra cho Starlink gần 3,6 lần mức chi internet trung bình của một hộ gia đình, và đó chính là lý do băng thông rộng vệ tinh chỉ chiếm 2,2% số hộ gia đình có kết nối tại đây.

Tại Indonesia, Starlink đặt giá khởi điểm ở mức 750.000 rupiah mỗi tháng tương đương khoảng 46 USD, vượt hơn gấp đôi mức chi tiêu internet hộ gia đình thông thường khi mới ra mắt, khiến tăng trưởng thuê bao chủ yếu đến từ khu vực tổ chức và doanh nghiệp hơn là người tiêu dùng cá nhân, bao gồm chương trình y tế cộng đồng của chính phủ, các nhà khai thác hàng hải và ngành khai khoáng tại Kalimantan và Papua. Hệ quả của làn sóng tăng trưởng thiên về tổ chức này hiện ra rõ trong dữ liệu Ookla, khi số mẫu thiết bị duy nhất của Indonesia tăng 33,9% từ quý 4 năm 2024 đến quý 4 năm 2025 nhưng tốc độ tải xuống trung bình lại giảm từ 45,16 Mbps xuống 40,69 Mbps, tín hiệu cho thấy nhu cầu đang vượt qua dung lượng trạm cổng hiện có, và từ tháng 7 năm 2025 Starlink phản ứng bằng cách áp dụng thêm phí tăng cường nhu cầu tại các khu vực trạm cổng tải cao trong khoảng từ 8 đến 9,4 triệu rupiah tương đương 490 đến 574 USD cho thuê bao mới, một cơ chế định giá linh hoạt theo điều kiện mạng hoàn toàn không tồn tại ở bất kỳ nhà mạng mặt đất nào và người dùng cần tính đến khi so sánh tổng chi phí thực tế.

Malaysia lại kể câu chuyện hoàn toàn ngược lại khi số mẫu thiết bị duy nhất giảm 27,2% trong khi tốc độ tải xuống trung bình gần gấp đôi, từ 53,74 Mbps lên 98,68 Mbps, bởi tải mạng giảm xuống khi một bộ phận thuê bao chuyển sang cáp quang nhờ chương trình JENDELA, sáng kiến hạ tầng số trị giá 21 tỷ ringgit tương đương 5,26 tỷ USD trong khuôn khổ Kế hoạch Malaysia lần thứ 12 nhằm đưa cáp quang đến 7,5 triệu hộ vào cuối năm 2025, và chính làn sóng mở rộng cáp quang đó đang thu hẹp dần thị trường khả dụng của Starlink tại các vùng bán đảo, buộc Starlink phải tung ra gói Residential Lite ở mức 129 ringgit mỗi tháng tương đương khoảng 29 USD vào tháng 5 năm 2025 như phản ứng trực tiếp trước sức ép cạnh tranh.

Tại Philippines, mức giảm 6,2% số mẫu thiết bị gắn trực tiếp với đợt tăng giá 40%, vì các gói cáp quang tại Metro Manila chạy từ 1.500 đến 2.700 peso mỗi tháng cho tốc độ 100 Mbps trở lên đang bào mòn lý do chọn Starlink với người dùng đô thị có lựa chọn thay thế. Mông Cổ đi theo chiều hoàn toàn khác với mức tăng trưởng 92% về số mẫu thiết bị duy nhất, phản ánh nhu cầu địa lý thuần túy khi khoảng 30% dân số sống rải rác trên lãnh thổ mênh mông mà hạ tầng cáp quang gần như không có khả năng vươn tới.

Chính phủ cấp phép càng nhanh, người dùng được dùng Starlink càng tốt

Nam Á là khu vực gia nhập muộn nhất trong hành trình mở rộng của Starlink tại châu Á - Thái Bình Dương nhưng lại cho thấy hiệu suất vượt kỳ vọng tính theo thời gian hoạt động, khi ngay trong quý vận hành thứ hai Bangladesh đã đạt tốc độ tải xuống trung bình 88,95 Mbps và độ trễ 35ms vào quý 4 năm 2025, một con số ngang bằng Australia và New Zealand vốn đã hoạt động từ năm 2021 và phản ánh trực tiếp quyết định đặt trạm cổng gần các trung tâm nhu cầu lớn ngay từ những ngày đầu triển khai.

Điều đáng chú ý hơn cả không phải là con số hiệu suất mà là tốc độ BTRC của Bangladesh xây dựng và phê duyệt toàn bộ khung pháp lý NGSO hoàn toàn mới chỉ trong vài tuần thay vì vài năm như thông lệ, cho thấy khi một chính phủ thực sự coi băng thông rộng vệ tinh là ưu tiên chính sách chứ không phải thách thức pháp lý cần xử lý từng bước thì kết quả đến với người dùng cuối nhanh hơn và tốt hơn rất nhiều so với những thị trường để quá trình đàm phán kéo dài hàng năm trời.

Starlink vào Việt Nam: Internet vệ tinh tốc độ cao, giá cước thực tế và ai thực sự nên dùng?
Hầu hết các thị trường châu Á - Thái Bình Dương tăng trưởng về số mẫu thiết bị, duy nhất có hai thị trường giảm mạnh. Nguồn Ookla

Sri Lanka nhận giấy phép vào tháng 8 năm 2024 nhưng tranh chấp về điều khoản giám sát hợp pháp kéo dài gần một năm, đẩy ngày ra mắt thương mại đến tháng 7 năm 2025, và một khi tranh chấp được giải quyết, dịch vụ đạt ngay 140,68 Mbps và độ trễ 103ms vào quý 4 năm 2025, cho thấy năng lực kỹ thuật của hệ thống không phải vấn đề mà chính quá trình đàm phán pháp lý mới là thứ giữ người dùng chờ đợi suốt gần một năm.

Khả năng thâm nhập thị trường của Starlink và cách thức tiếp cận làm chủ công nghệ của Việt Nam
Khả năng thâm nhập thị trường của Starlink và cách thức tiếp cận làm chủ công nghệ của Việt Nam

Với 2,6 triệu kết nối băng thông rộng cố định đang hoạt động trên thị trường, Starlink gia nhập Sri Lanka với vai trò bổ sung chứ không thay thế hạ tầng có sẵn, phủ đến những vùng duyên hải, vùng đồi chè và nội địa nông thôn mà mạng cố định và di động chưa vươn tới, và đây cũng chính là hình mẫu mà nhiều người kỳ vọng sẽ lặp lại tại Việt Nam, một thị trường Starlink nhiều khả năng sẽ không cạnh tranh trực tiếp với VNPT hay Viettel tại các đô thị lớn mà tập trung phục vụ vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo vốn nằm ngoài tầm với kinh tế của hạ tầng mặt đất.

Ấn Độ và Việt Nam là hai thị trường dân số lớn nhất chưa triển khai thương mại đầy đủ trong giai đoạn Ookla phân tích. Việt Nam cấp phép Starlink từ tháng 2/2026 với giới hạn 600.000 thiết bị đầu cuối theo quy định. Ấn Độ có đủ giấy phép và thỏa thuận phân phối với cả Bharti Airtel lẫn Reliance Jio, vẫn chờ giải quyết yêu cầu định giá phổ tần và giải phóng mặt bằng an ninh. Quy mô dân số Ấn Độ có nghĩa là ngay cả một đợt triển khai thương mại từng phần cũng tạo ra bước mở rộng có trọng lượng cho sự hiện diện của Starlink toàn khu vực.

Cạnh tranh từ Qianfan và Amazon Leo sẽ thay đổi cuộc chơi ra sao

Starlink bước vào năm 2026 với vị thế chủ đạo tại các thị trường đã chọn, nhưng bối cảnh cạnh tranh đang thay đổi theo hai hướng cùng lúc. Amazon Leo đạt được thỏa thuận tiếp nhận toàn bộ khách hàng Sky Muster từ NBN Co của Australia từ giữa năm 2026, một quyết định mà chính NBN Co thực hiện sau khi công nhận vệ tinh LEO đã vượt qua hạ tầng GEO truyền thống, và trao cho Amazon Leo vai trò hạ tầng bán sỉ mà chưa nhà khai thác LEO nào khác giành được trong khu vực.

Starlink vào Việt Nam: Internet vệ tinh tốc độ cao, giá cước thực tế và ai thực sự nên dùng?
Amazon Leo

Chùm vệ tinh LEO Qianfan do Trung Quốc xây dựng và vận hành này đã thử nghiệm dịch vụ tại Malaysia và Mông Cổ, ký thỏa thuận bán sỉ với MEASAT của Malaysia và đạt thỏa thuận hợp tác với National Telecom Public Company của Thái Lan. Điểm khác biệt cốt lõi của Qianfan so với Starlink nằm ở cách tiếp cận thị trường, khi thay vì xin giấy phép tiêu dùng trực tiếp và đối mặt với các quy định sở hữu nước ngoài như SpaceX từng vấp phải tại Indonesia hay Thái Lan, Qianfan chọn con đường hợp tác với nhà khai thác địa phương, qua đó khéo léo tránh được toàn bộ những ràng buộc pháp lý từng làm phức tạp hành trình của Starlink. Với các chính phủ từng do dự về cơ cấu sở hữu của SpaceX, sự xuất hiện của Qianfan mang đến một lựa chọn địa chính trị hoàn toàn mới mà trước đây không tồn tại, và mô hình bán sỉ mà Qianfan đang triển khai tại các thị trường Trung Á đang đặt nền tảng cho một hạ tầng LEO song song có khả năng cạnh tranh trực tiếp với Starlink ngay tại những quốc gia đang cân nhắc có nên phê duyệt cho SpaceX hay không.

Starlink vào Việt Nam: Internet vệ tinh tốc độ cao, giá cước thực tế và ai thực sự nên dùng?
Ảnh minh họa

Năng lực kết nối trực tiếp thiết bị cầm tay, hay còn gọi là D2D, cũng bắt đầu định hình các cuộc đàm phán cấp phép sắp tới theo một chiều hướng mà nhiều cơ quan quản lý chưa kịp chuẩn bị, khi KDDI của Nhật Bản, đối tác Starlink từ lâu, trở thành một trong những nhà khai thác đầu tiên trên thế giới kích hoạt dịch vụ này, cho phép điện thoại thông thường kết nối thẳng lên vệ tinh mà không cần bất kỳ thiết bị đầu cuối chuyên dụng nào. Với các cơ quan quản lý tại những thị trường còn đang đàm phán điều kiện gia nhập của Starlink, D2D không đơn thuần là một tính năng mới mà là một chiều kích hoàn toàn khác của câu hỏi cấp phép vệ tinh, kéo phạm vi đàm phán từ chỗ chỉ xoay quanh băng thông rộng cố định sang cả phổ tần di động vốn thuộc lãnh địa quản lý riêng biệt và nhạy cảm hơn nhiều, khiến những cuộc đàm phán vốn đã phức tạp trở nên khó giải quyết hơn trong thời gian ngắn.

Amazon chi tới 9,8 tỷ USD thâu tóm GlobalStar để đối đầu Starlink
Amazon chi tới 9,8 tỷ USD thâu tóm GlobalStar để đối đầu Starlink

Nhìn lại toàn bộ dữ liệu mà Ookla thu thập, châu Á - Thái Bình Dương là khu vực mà mô hình mở rộng toàn cầu của Starlink được thử thách khắc nghiệt và toàn diện nhất, bởi không khu vực nào khác trên thế giới hội tụ đủ cả bốn chiều đối lập cùng một lúc, gồm điều kiện địa lý tự nhiên mà vệ tinh là lựa chọn duy nhất có thể triển khai và những thị trường nơi cáp quang đang thu hẹp dần không gian tăng trưởng của dịch vụ vệ tinh, những chính phủ chủ động dọn đường cho SpaceX trong vài tuần và những chính phủ đóng cửa hoàn toàn hoặc đặt ra điều kiện mà hai bên chưa tìm được tiếng nói chung sau nhiều năm.

Kết quả của giai đoạn này sẽ xác định liệu internet vệ tinh LEO có thực sự trở thành hạ tầng kết nối phổ quát phục vụ mọi tầng lớp dân cư hay chỉ dừng lại ở vai trò lớp phủ bổ sung cho những vùng mà mạng mặt đất không tiếp cận tới với tới vì lý do kinh tế, và với Việt Nam vừa cấp phép cho Starlink vào tháng 2 năm 2026 với giới hạn 600.000 thiết bị đầu cuối, câu trả lời sẽ không cần chờ lâu.

GSMA: Quy định quản lý vệ tinh LEO toàn cầu chưa theo kịp thực tế GSMA: Quy định quản lý vệ tinh LEO toàn cầu chưa theo kịp thực tế

Hiệp hội Di động Toàn cầu (GSMA) cho biết hầu hết cơ quan quản lý của các quốc gia trên thế giới chưa có công ...

Internet vệ tinh Starlink vào lớp học vùng sâu, thực tế ra sao? Internet vệ tinh Starlink vào lớp học vùng sâu, thực tế ra sao?

Vệ tinh quỹ đạo thấp Starlink đang hiện thực hóa những gì mà nhiều thập kỷ đầu tư hạ tầng truyền thống chưa làm được, ...

Starlink và mạng vệ tinh LEO đang thay đổi y tế từ xa Starlink và mạng vệ tinh LEO đang thay đổi y tế từ xa

Hàng chục triệu người ở rừng Amazon, vùng núi Appalachia (Hoa Kỳ), các trạm y tế ven đường Kenya và cộng đồng bản địa Alaska ...

Có thể bạn quan tâm

Từ 15/4, tất cả thuê bao di động phải xác thực thông tin theo quy định mới cần lưu ý

Từ 15/4, tất cả thuê bao di động phải xác thực thông tin theo quy định mới cần lưu ý

Viễn thông - Internet
Từ ngày 15/4/2026, quy định xác thực sinh trắc học khuôn mặt đối với thuê bao di động của Bộ Khoa học và Công nghệ chính thức có hiệu lực. Với các thuê bao đã sử dụng số điện thoại để đăng ký tài khoản VNeID mức độ 2 hoặc đã xác thực bằng căn cước công dân gắn chip sẽ không phải thực hiện xác thực lại, trừ trường hợp có thay đổi thiết bị từ ngày 15/6.
Từ 15/4, người dân đổi điện thoại di động cần chú ý điều quan trọng này

Từ 15/4, người dân đổi điện thoại di động cần chú ý điều quan trọng này

Chính sách số
Từ ngày 15/4, người dùng di động khi đăng ký SIM mới hoặc thay đổi điện thoại sẽ phải thực hiện xác thực sinh trắc học khuôn mặt theo quy định tại Thông tư 08.
ITU chốt chuẩn kỹ thuật 6G toàn cầu

ITU chốt chuẩn kỹ thuật 6G toàn cầu

Viễn thông - Internet
Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) vừa hoàn thiện bộ 20 yêu cầu hiệu suất kỹ thuật tối thiểu cho mạng thông tin di động 6G, hay còn gọi là IMT-2030, trong đó có 7 yêu cầu hoàn toàn mới dành riêng cho 6G, mở ra lộ trình chuẩn hóa công nghệ viễn thông quy mô toàn cầu hướng tới năm 2030.
Từ cánh đồng Brazil đến phòng khám Zambia - Khi internet vệ tinh thay đổi cuộc đời người nông dân và bác sĩ (Bài 4)

Từ cánh đồng Brazil đến phòng khám Zambia - Khi internet vệ tinh thay đổi cuộc đời người nông dân và bác sĩ (Bài 4)

Viễn thông - Internet
Fernando Oliveira nhớ rõ buổi sáng hôm đó tại Taquaritinga, bang São Paulo. Ông đang lái máy gặt trên cánh đồng ngô rộng 400 hecta thì điện thoại rung - đối tác thu mua gửi hợp đồng kỹ thuật số cần ký trước 10 giờ sáng. Hai năm trước, ông đã bỏ lỡ một hợp đồng tương tự vì phải lái xe mất 40 phút vào thị trấn để dùng internet. Lần này, Fernando dừng máy gặt, mở laptop, ký hợp đồng điện tử ngay trên ruộng và gửi đi, tất cả trong 8 phút.
Xác thực sinh trắc học SIM từ 15/4/2026: Ai được miễn, ai bị khóa số và lộ trình xử lý cụ thể

Xác thực sinh trắc học SIM từ 15/4/2026: Ai được miễn, ai bị khóa số và lộ trình xử lý cụ thể

Chính sách số
Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ban hành Thông tư 08/2026/TT-BKHCN, có hiệu lực từ ngày 15/4/2026, yêu cầu toàn bộ thuê bao di động mặt đất phải xác thực thông tin gắn với dữ liệu sinh trắc học khuôn mặt. Người dùng cần hiểu rõ mình thuộc nhóm nào, được miễn hay phải làm thủ tục, và điều gì xảy ra nếu bỏ qua thời hạn.
Xem thêm
Hà Nội
TP Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
Hải Phòng
Khánh Hòa
Nghệ An
Phan Thiết
Quảng Bình
Thừa Thiên Huế
Hà Giang
Hà Nội

28°C

Cảm giác: 33°C
mây đen u ám
Thứ tư, 15/04/2026 00:00
25°C
Thứ tư, 15/04/2026 03:00
28°C
Thứ tư, 15/04/2026 06:00
27°C
Thứ tư, 15/04/2026 09:00
33°C
Thứ tư, 15/04/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 15/04/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 15/04/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 15/04/2026 21:00
25°C
Thứ năm, 16/04/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 16/04/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 16/04/2026 06:00
29°C
Thứ năm, 16/04/2026 09:00
32°C
Thứ năm, 16/04/2026 12:00
26°C
Thứ năm, 16/04/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 16/04/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 16/04/2026 21:00
26°C
Thứ sáu, 17/04/2026 00:00
23°C
Thứ sáu, 17/04/2026 03:00
23°C
Thứ sáu, 17/04/2026 06:00
23°C
Thứ sáu, 17/04/2026 09:00
23°C
Thứ sáu, 17/04/2026 12:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 18:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 18/04/2026 00:00
24°C
Thứ bảy, 18/04/2026 03:00
27°C
Thứ bảy, 18/04/2026 06:00
30°C
Thứ bảy, 18/04/2026 09:00
29°C
Thứ bảy, 18/04/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 18/04/2026 15:00
24°C
Thứ bảy, 18/04/2026 18:00
23°C
Thứ bảy, 18/04/2026 21:00
24°C
Chủ nhật, 19/04/2026 00:00
25°C
Chủ nhật, 19/04/2026 03:00
28°C
Chủ nhật, 19/04/2026 06:00
31°C
Chủ nhật, 19/04/2026 09:00
31°C
Chủ nhật, 19/04/2026 12:00
24°C
TP Hồ Chí Minh

29°C

Cảm giác: 36°C
mưa vừa
Thứ tư, 15/04/2026 00:00
28°C
Thứ tư, 15/04/2026 03:00
31°C
Thứ tư, 15/04/2026 06:00
34°C
Thứ tư, 15/04/2026 09:00
34°C
Thứ tư, 15/04/2026 12:00
29°C
Thứ tư, 15/04/2026 15:00
28°C
Thứ tư, 15/04/2026 18:00
28°C
Thứ tư, 15/04/2026 21:00
27°C
Thứ năm, 16/04/2026 00:00
28°C
Thứ năm, 16/04/2026 03:00
34°C
Thứ năm, 16/04/2026 06:00
37°C
Thứ năm, 16/04/2026 09:00
36°C
Thứ năm, 16/04/2026 12:00
29°C
Thứ năm, 16/04/2026 15:00
29°C
Thứ năm, 16/04/2026 18:00
28°C
Thứ năm, 16/04/2026 21:00
27°C
Thứ sáu, 17/04/2026 00:00
28°C
Thứ sáu, 17/04/2026 03:00
34°C
Thứ sáu, 17/04/2026 06:00
37°C
Thứ sáu, 17/04/2026 09:00
34°C
Thứ sáu, 17/04/2026 12:00
29°C
Thứ sáu, 17/04/2026 15:00
29°C
Thứ sáu, 17/04/2026 18:00
28°C
Thứ sáu, 17/04/2026 21:00
27°C
Thứ bảy, 18/04/2026 00:00
28°C
Thứ bảy, 18/04/2026 03:00
34°C
Thứ bảy, 18/04/2026 06:00
33°C
Thứ bảy, 18/04/2026 09:00
32°C
Thứ bảy, 18/04/2026 12:00
29°C
Thứ bảy, 18/04/2026 15:00
28°C
Thứ bảy, 18/04/2026 18:00
27°C
Thứ bảy, 18/04/2026 21:00
27°C
Chủ nhật, 19/04/2026 00:00
28°C
Chủ nhật, 19/04/2026 03:00
33°C
Chủ nhật, 19/04/2026 06:00
36°C
Chủ nhật, 19/04/2026 09:00
32°C
Chủ nhật, 19/04/2026 12:00
28°C
Đà Nẵng

27°C

Cảm giác: 31°C
mây thưa
Thứ tư, 15/04/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 15/04/2026 03:00
30°C
Thứ tư, 15/04/2026 06:00
32°C
Thứ tư, 15/04/2026 09:00
27°C
Thứ tư, 15/04/2026 12:00
25°C
Thứ tư, 15/04/2026 15:00
25°C
Thứ tư, 15/04/2026 18:00
24°C
Thứ tư, 15/04/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 16/04/2026 00:00
24°C
Thứ năm, 16/04/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 16/04/2026 06:00
27°C
Thứ năm, 16/04/2026 09:00
27°C
Thứ năm, 16/04/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 16/04/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 16/04/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 16/04/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 17/04/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 17/04/2026 03:00
26°C
Thứ sáu, 17/04/2026 06:00
27°C
Thứ sáu, 17/04/2026 09:00
26°C
Thứ sáu, 17/04/2026 12:00
25°C
Thứ sáu, 17/04/2026 15:00
25°C
Thứ sáu, 17/04/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 17/04/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 18/04/2026 00:00
25°C
Thứ bảy, 18/04/2026 03:00
26°C
Thứ bảy, 18/04/2026 06:00
26°C
Thứ bảy, 18/04/2026 09:00
26°C
Thứ bảy, 18/04/2026 12:00
25°C
Thứ bảy, 18/04/2026 15:00
24°C
Thứ bảy, 18/04/2026 18:00
23°C
Thứ bảy, 18/04/2026 21:00
22°C
Chủ nhật, 19/04/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 19/04/2026 03:00
26°C
Chủ nhật, 19/04/2026 06:00
26°C
Chủ nhật, 19/04/2026 09:00
26°C
Chủ nhật, 19/04/2026 12:00
25°C
Hải Phòng

27°C

Cảm giác: 31°C
mây cụm
Thứ tư, 15/04/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 15/04/2026 03:00
27°C
Thứ tư, 15/04/2026 06:00
28°C
Thứ tư, 15/04/2026 09:00
29°C
Thứ tư, 15/04/2026 12:00
25°C
Thứ tư, 15/04/2026 15:00
25°C
Thứ tư, 15/04/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 15/04/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 16/04/2026 00:00
26°C
Thứ năm, 16/04/2026 03:00
27°C
Thứ năm, 16/04/2026 06:00
28°C
Thứ năm, 16/04/2026 09:00
29°C
Thứ năm, 16/04/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 16/04/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 16/04/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 16/04/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 17/04/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 17/04/2026 03:00
24°C
Thứ sáu, 17/04/2026 06:00
24°C
Thứ sáu, 17/04/2026 09:00
24°C
Thứ sáu, 17/04/2026 12:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 18:00
21°C
Thứ sáu, 17/04/2026 21:00
21°C
Thứ bảy, 18/04/2026 00:00
23°C
Thứ bảy, 18/04/2026 03:00
27°C
Thứ bảy, 18/04/2026 06:00
27°C
Thứ bảy, 18/04/2026 09:00
27°C
Thứ bảy, 18/04/2026 12:00
25°C
Thứ bảy, 18/04/2026 15:00
24°C
Thứ bảy, 18/04/2026 18:00
23°C
Thứ bảy, 18/04/2026 21:00
23°C
Chủ nhật, 19/04/2026 00:00
25°C
Chủ nhật, 19/04/2026 03:00
29°C
Chủ nhật, 19/04/2026 06:00
30°C
Chủ nhật, 19/04/2026 09:00
28°C
Chủ nhật, 19/04/2026 12:00
25°C
Khánh Hòa

26°C

Cảm giác: 26°C
bầu trời quang đãng
Thứ tư, 15/04/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 15/04/2026 03:00
33°C
Thứ tư, 15/04/2026 06:00
35°C
Thứ tư, 15/04/2026 09:00
32°C
Thứ tư, 15/04/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 15/04/2026 15:00
24°C
Thứ tư, 15/04/2026 18:00
23°C
Thứ tư, 15/04/2026 21:00
23°C
Thứ năm, 16/04/2026 00:00
27°C
Thứ năm, 16/04/2026 03:00
35°C
Thứ năm, 16/04/2026 06:00
38°C
Thứ năm, 16/04/2026 09:00
33°C
Thứ năm, 16/04/2026 12:00
25°C
Thứ năm, 16/04/2026 15:00
23°C
Thứ năm, 16/04/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 16/04/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 00:00
26°C
Thứ sáu, 17/04/2026 03:00
35°C
Thứ sáu, 17/04/2026 06:00
37°C
Thứ sáu, 17/04/2026 09:00
32°C
Thứ sáu, 17/04/2026 12:00
24°C
Thứ sáu, 17/04/2026 15:00
23°C
Thứ sáu, 17/04/2026 18:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 18/04/2026 00:00
26°C
Thứ bảy, 18/04/2026 03:00
34°C
Thứ bảy, 18/04/2026 06:00
35°C
Thứ bảy, 18/04/2026 09:00
31°C
Thứ bảy, 18/04/2026 12:00
23°C
Thứ bảy, 18/04/2026 15:00
21°C
Thứ bảy, 18/04/2026 18:00
20°C
Thứ bảy, 18/04/2026 21:00
19°C
Chủ nhật, 19/04/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 19/04/2026 03:00
34°C
Chủ nhật, 19/04/2026 06:00
37°C
Chủ nhật, 19/04/2026 09:00
32°C
Chủ nhật, 19/04/2026 12:00
23°C
Nghệ An

24°C

Cảm giác: 25°C
bầu trời quang đãng
Thứ tư, 15/04/2026 00:00
26°C
Thứ tư, 15/04/2026 03:00
37°C
Thứ tư, 15/04/2026 06:00
41°C
Thứ tư, 15/04/2026 09:00
40°C
Thứ tư, 15/04/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 15/04/2026 15:00
23°C
Thứ tư, 15/04/2026 18:00
22°C
Thứ tư, 15/04/2026 21:00
21°C
Thứ năm, 16/04/2026 00:00
24°C
Thứ năm, 16/04/2026 03:00
36°C
Thứ năm, 16/04/2026 06:00
42°C
Thứ năm, 16/04/2026 09:00
40°C
Thứ năm, 16/04/2026 12:00
27°C
Thứ năm, 16/04/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 16/04/2026 18:00
23°C
Thứ năm, 16/04/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 00:00
25°C
Thứ sáu, 17/04/2026 03:00
30°C
Thứ sáu, 17/04/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 17/04/2026 09:00
23°C
Thứ sáu, 17/04/2026 12:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 18:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 21:00
21°C
Thứ bảy, 18/04/2026 00:00
22°C
Thứ bảy, 18/04/2026 03:00
27°C
Thứ bảy, 18/04/2026 06:00
34°C
Thứ bảy, 18/04/2026 09:00
32°C
Thứ bảy, 18/04/2026 12:00
22°C
Thứ bảy, 18/04/2026 15:00
21°C
Thứ bảy, 18/04/2026 18:00
20°C
Thứ bảy, 18/04/2026 21:00
20°C
Chủ nhật, 19/04/2026 00:00
22°C
Chủ nhật, 19/04/2026 03:00
31°C
Chủ nhật, 19/04/2026 06:00
36°C
Chủ nhật, 19/04/2026 09:00
25°C
Chủ nhật, 19/04/2026 12:00
21°C
Phan Thiết

27°C

Cảm giác: 27°C
mây thưa
Thứ tư, 15/04/2026 00:00
27°C
Thứ tư, 15/04/2026 03:00
31°C
Thứ tư, 15/04/2026 06:00
33°C
Thứ tư, 15/04/2026 09:00
31°C
Thứ tư, 15/04/2026 12:00
27°C
Thứ tư, 15/04/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 15/04/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 15/04/2026 21:00
26°C
Thứ năm, 16/04/2026 00:00
28°C
Thứ năm, 16/04/2026 03:00
32°C
Thứ năm, 16/04/2026 06:00
32°C
Thứ năm, 16/04/2026 09:00
31°C
Thứ năm, 16/04/2026 12:00
27°C
Thứ năm, 16/04/2026 15:00
26°C
Thứ năm, 16/04/2026 18:00
25°C
Thứ năm, 16/04/2026 21:00
25°C
Thứ sáu, 17/04/2026 00:00
27°C
Thứ sáu, 17/04/2026 03:00
31°C
Thứ sáu, 17/04/2026 06:00
32°C
Thứ sáu, 17/04/2026 09:00
30°C
Thứ sáu, 17/04/2026 12:00
27°C
Thứ sáu, 17/04/2026 15:00
27°C
Thứ sáu, 17/04/2026 18:00
25°C
Thứ sáu, 17/04/2026 21:00
24°C
Thứ bảy, 18/04/2026 00:00
27°C
Thứ bảy, 18/04/2026 03:00
30°C
Thứ bảy, 18/04/2026 06:00
31°C
Thứ bảy, 18/04/2026 09:00
29°C
Thứ bảy, 18/04/2026 12:00
26°C
Thứ bảy, 18/04/2026 15:00
25°C
Thứ bảy, 18/04/2026 18:00
24°C
Thứ bảy, 18/04/2026 21:00
24°C
Chủ nhật, 19/04/2026 00:00
26°C
Chủ nhật, 19/04/2026 03:00
30°C
Chủ nhật, 19/04/2026 06:00
31°C
Chủ nhật, 19/04/2026 09:00
29°C
Chủ nhật, 19/04/2026 12:00
26°C
Quảng Bình

26°C

Cảm giác: 26°C
mây rải rác
Thứ tư, 15/04/2026 00:00
28°C
Thứ tư, 15/04/2026 03:00
36°C
Thứ tư, 15/04/2026 06:00
39°C
Thứ tư, 15/04/2026 09:00
35°C
Thứ tư, 15/04/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 15/04/2026 15:00
24°C
Thứ tư, 15/04/2026 18:00
26°C
Thứ tư, 15/04/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 16/04/2026 00:00
28°C
Thứ năm, 16/04/2026 03:00
35°C
Thứ năm, 16/04/2026 06:00
38°C
Thứ năm, 16/04/2026 09:00
31°C
Thứ năm, 16/04/2026 12:00
24°C
Thứ năm, 16/04/2026 15:00
25°C
Thứ năm, 16/04/2026 18:00
24°C
Thứ năm, 16/04/2026 21:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 00:00
23°C
Thứ sáu, 17/04/2026 03:00
32°C
Thứ sáu, 17/04/2026 06:00
28°C
Thứ sáu, 17/04/2026 09:00
27°C
Thứ sáu, 17/04/2026 12:00
23°C
Thứ sáu, 17/04/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 18:00
21°C
Thứ sáu, 17/04/2026 21:00
21°C
Thứ bảy, 18/04/2026 00:00
23°C
Thứ bảy, 18/04/2026 03:00
28°C
Thứ bảy, 18/04/2026 06:00
31°C
Thứ bảy, 18/04/2026 09:00
25°C
Thứ bảy, 18/04/2026 12:00
22°C
Thứ bảy, 18/04/2026 15:00
21°C
Thứ bảy, 18/04/2026 18:00
20°C
Thứ bảy, 18/04/2026 21:00
20°C
Chủ nhật, 19/04/2026 00:00
23°C
Chủ nhật, 19/04/2026 03:00
33°C
Chủ nhật, 19/04/2026 06:00
30°C
Chủ nhật, 19/04/2026 09:00
28°C
Chủ nhật, 19/04/2026 12:00
21°C
Thừa Thiên Huế

30°C

Cảm giác: 35°C
mây thưa
Thứ tư, 15/04/2026 00:00
29°C
Thứ tư, 15/04/2026 03:00
34°C
Thứ tư, 15/04/2026 06:00
36°C
Thứ tư, 15/04/2026 09:00
30°C
Thứ tư, 15/04/2026 12:00
26°C
Thứ tư, 15/04/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 15/04/2026 18:00
25°C
Thứ tư, 15/04/2026 21:00
24°C
Thứ năm, 16/04/2026 00:00
28°C
Thứ năm, 16/04/2026 03:00
36°C
Thứ năm, 16/04/2026 06:00
40°C
Thứ năm, 16/04/2026 09:00
24°C
Thứ năm, 16/04/2026 12:00
22°C
Thứ năm, 16/04/2026 15:00
21°C
Thứ năm, 16/04/2026 18:00
22°C
Thứ năm, 16/04/2026 21:00
23°C
Thứ sáu, 17/04/2026 00:00
27°C
Thứ sáu, 17/04/2026 03:00
28°C
Thứ sáu, 17/04/2026 06:00
33°C
Thứ sáu, 17/04/2026 09:00
31°C
Thứ sáu, 17/04/2026 12:00
23°C
Thứ sáu, 17/04/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 18:00
21°C
Thứ sáu, 17/04/2026 21:00
21°C
Thứ bảy, 18/04/2026 00:00
24°C
Thứ bảy, 18/04/2026 03:00
32°C
Thứ bảy, 18/04/2026 06:00
34°C
Thứ bảy, 18/04/2026 09:00
31°C
Thứ bảy, 18/04/2026 12:00
23°C
Thứ bảy, 18/04/2026 15:00
22°C
Thứ bảy, 18/04/2026 18:00
21°C
Thứ bảy, 18/04/2026 21:00
21°C
Chủ nhật, 19/04/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 19/04/2026 03:00
33°C
Chủ nhật, 19/04/2026 06:00
34°C
Chủ nhật, 19/04/2026 09:00
31°C
Chủ nhật, 19/04/2026 12:00
22°C
Hà Giang

27°C

Cảm giác: 28°C
bầu trời quang đãng
Thứ tư, 15/04/2026 00:00
25°C
Thứ tư, 15/04/2026 03:00
33°C
Thứ tư, 15/04/2026 06:00
38°C
Thứ tư, 15/04/2026 09:00
38°C
Thứ tư, 15/04/2026 12:00
30°C
Thứ tư, 15/04/2026 15:00
26°C
Thứ tư, 15/04/2026 18:00
24°C
Thứ tư, 15/04/2026 21:00
23°C
Thứ năm, 16/04/2026 00:00
24°C
Thứ năm, 16/04/2026 03:00
32°C
Thứ năm, 16/04/2026 06:00
37°C
Thứ năm, 16/04/2026 09:00
36°C
Thứ năm, 16/04/2026 12:00
29°C
Thứ năm, 16/04/2026 15:00
24°C
Thứ năm, 16/04/2026 18:00
22°C
Thứ năm, 16/04/2026 21:00
21°C
Thứ sáu, 17/04/2026 00:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 03:00
27°C
Thứ sáu, 17/04/2026 06:00
30°C
Thứ sáu, 17/04/2026 09:00
28°C
Thứ sáu, 17/04/2026 12:00
23°C
Thứ sáu, 17/04/2026 15:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 18:00
22°C
Thứ sáu, 17/04/2026 21:00
22°C
Thứ bảy, 18/04/2026 00:00
23°C
Thứ bảy, 18/04/2026 03:00
28°C
Thứ bảy, 18/04/2026 06:00
31°C
Thứ bảy, 18/04/2026 09:00
31°C
Thứ bảy, 18/04/2026 12:00
25°C
Thứ bảy, 18/04/2026 15:00
24°C
Thứ bảy, 18/04/2026 18:00
23°C
Thứ bảy, 18/04/2026 21:00
23°C
Chủ nhật, 19/04/2026 00:00
24°C
Chủ nhật, 19/04/2026 03:00
28°C
Chủ nhật, 19/04/2026 06:00
30°C
Chủ nhật, 19/04/2026 09:00
30°C
Chủ nhật, 19/04/2026 12:00
23°C

Giá vàngTỷ giá

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 ▲200K 17,300 ▲150K
Kim TT/AVPL 17,010 ▲150K 17,310 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,000 ▲150K 17,300 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 15,600 ▼100K 15,800 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 15,550 ▼100K 15,750 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,410 ▼100K 16,810 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,360 ▼100K 16,760 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,290 ▼100K 16,740 ▼100K
Cập nhật: 14/04/2026 20:00
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,700 ▲1500K 172,700 ▲1500K
Hà Nội - PNJ 169,700 ▲1500K 172,700 ▲1500K
Đà Nẵng - PNJ 169,700 ▲1500K 172,700 ▲1500K
Miền Tây - PNJ 169,700 ▲1500K 172,700 ▲1500K
Tây Nguyên - PNJ 169,700 ▲1500K 172,700 ▲1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 169,700 ▲1500K 172,700 ▲1500K
Cập nhật: 14/04/2026 20:00
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,000 ▲150K 17,300 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 17,000 ▲150K 17,300 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 17,000 ▲150K 17,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,970 ▲120K 17,270 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,970 ▲120K 17,270 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,970 ▲120K 17,270 ▲120K
NL 99.90 15,630 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,680 ▲30K
Trang sức 99.9 16,460 ▲120K 17,160 ▲120K
Trang sức 99.99 16,470 ▲120K 17,170 ▲120K
Cập nhật: 14/04/2026 20:00
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲20K 173 ▼1542K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 ▲20K 17,302 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 ▲20K 17,303 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,702 ▲20K 1,727 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,702 ▲20K 1,728 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,682 ▲20K 1,712 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,005 ▲146853K 169,505 ▲152703K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,663 ▲1125K 128,563 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,678 ▲1020K 116,578 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,692 ▲915K 104,592 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 9,107 ▼81088K 9,997 ▼89098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,648 ▲626K 71,548 ▲626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲20K 173 ▼1542K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲20K 173 ▼1542K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲20K 173 ▼1542K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲20K 173 ▼1542K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲20K 173 ▼1542K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲20K 173 ▼1542K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲20K 173 ▼1542K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲20K 173 ▼1542K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲20K 173 ▼1542K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲20K 173 ▼1542K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲20K 173 ▼1542K
Cập nhật: 14/04/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18200 18475 19051
CAD 18602 18879 19495
CHF 33085 33471 34108
CNY 0 3800 3870
EUR 30411 30686 31714
GBP 34851 35244 36175
HKD 0 3231 3433
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15218 15805
SGD 20159 20442 20971
THB 737 800 853
USD (1,2) 26069 0 0
USD (5,10,20) 26110 0 0
USD (50,100) 26138 26158 26361
Cập nhật: 14/04/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 30,545 30,569 31,830
JPY 161.35 161.64 170.32
GBP 35,055 35,150 36,139
AUD 18,367 18,433 19,012
CAD 18,805 18,865 19,442
CHF 33,302 33,406 34,176
SGD 20,311 20,374 21,052
CNY - 3,800 3,921
HKD 3,304 3,314 3,432
KRW 16.44 17.14 18.53
THB 784.42 794.11 846.57
NZD 15,179 15,320 15,679
SEK - 2,826 2,908
DKK - 4,087 4,206
NOK - 2,747 2,827
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,238.84 - 6,999.91
TWD 753.77 - 907.53
SAR - 6,918.45 7,242.94
KWD - 83,916 88,736
Cập nhật: 14/04/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 30,417 30,539 31,723
GBP 34,960 35,100 36,109
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,039 33,172 34,112
JPY 161.54 162.19 169.49
AUD 18,319 18,393 18,985
SGD 20,317 20,399 20,983
THB 803 806 842
CAD 18,755 18,830 19,398
NZD 15,202 15,735
KRW 17.05 18.73
Cập nhật: 14/04/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26361
AUD 18379 18479 19404
CAD 18781 18881 19898
CHF 33323 33353 34944
CNY 3803.2 3828.2 3963.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30587 30617 32345
GBP 35159 35209 36962
HKD 0 3355 0
JPY 162.11 162.61 173.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15324 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20323 20453 21174
THB 0 766.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17000000 17000000 17300000
SBJ 15000000 15000000 17300000
Cập nhật: 14/04/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,164 26,132 26,361
USD20 26,164 26,132 26,361
USD1 26,164 26,132 26,361
AUD 18,342 18,442 19,561
EUR 30,669 30,669 32,077
CAD 18,699 18,799 20,104
SGD 20,367 20,517 21,445
JPY 162.46 163.96 168.53
GBP 34,961 35,311 36,189
XAU 16,998,000 0 17,302,000
CNY 0 3,712 0
THB 0 801 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/04/2026 20:00