TPBank lãi 1.891 tỷ đồng quý II, thu phí thanh toán ngân hàng số giảm một nửa
| Nhiều ngân hàng có thể lãi đậm quý II Lợi nhuận ABBank tăng 20% nhờ giảm trích lập, nợ dưới tiêu chuẩn gấp 4,6 lần Lợi nhuận HDBank tăng 31%, nợ nhóm 5 tăng gấp đôi, dòng tiền âm 20.332 tỷ |
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong (HoSE: TPB) công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2026 ngày 30/7/2026, kèm văn bản giải trình số 74/2026/TPB.HĐQT do ông Lê Quang Tiến, Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị, ký ngày 29/7/2026. Báo cáo chưa qua kiểm toán.
Văn bản giải trình nêu lợi nhuận sau thuế hợp nhất quý II đạt 1.891 tỷ đồng, tăng 261 tỷ đồng, tương ứng 16,04% so với cùng kỳ 2025, nhờ mở rộng quy mô tín dụng, tăng thu dịch vụ và hoạt động của công ty quản lý nợ mới thành lập. Tính chung sáu tháng, lợi nhuận sau thuế hợp nhất chỉ đạt 3.573 tỷ đồng, tăng 7,75%. Phần lợi nhuận thuộc về cổ đông ngân hàng mẹ đạt 3.493 tỷ đồng, tăng 5,33%. Lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu sáu tháng đạt 1.259 đồng, gần như đi ngang so với mức 1.255 đồng cùng kỳ 2025.
Phần thuyết minh phía sau văn bản giải trình cho thấy một bức tranh khác về chất lượng tài sản và hiệu quả mảng ngân hàng số. Đáng chú ý nhất, nợ xấu của TPBank tăng gần 60% chỉ sau sáu tháng, nhanh hơn nhiều so với tốc độ mở rộng tín dụng.
![]() |
| Biểu đồ chứng khoán TPB phiên sáng ngày 3/8 |
Nợ xấu tăng nhanh hơn nhiều so với tốc độ cho vay
Thuyết minh số 11 phân loại dư nợ cho vay khách hàng theo năm nhóm. Tại ngày 30/6/2026, nợ nhóm 3 là 2.119 tỷ đồng, nợ nhóm 4 là 1.800 tỷ đồng, nợ nhóm 5 là 2.359 tỷ đồng, tổng ba nhóm nợ xấu đạt 6.278 tỷ đồng. Cuối năm 2025, ba nhóm này lần lượt ở mức 1.158 tỷ đồng, 1.406 tỷ đồng và 1.374 tỷ đồng, tổng cộng 3.938 tỷ đồng. Nợ xấu TPBank vì vậy tăng thêm 2.340 tỷ đồng, tương ứng 59,4% chỉ sau sáu tháng. Riêng nợ nhóm 5, tức nợ có khả năng mất vốn và cũng là nhóm nặng nhất trong thang phân loại, tăng thêm 985 tỷ đồng, tương ứng 71,7%.
![]() |
| Bảng phân loại nợ trong báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2026 của TPBank cho thấy nợ nhóm 5 tăng từ 1.374 tỷ đồng lên 2.359 tỷ đồng chỉ sau sáu tháng. Ảnh chụp màn hình báo cáo. |
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay khách hàng tăng từ 1,29% lên 1,86%. Trong khi đó, dư nợ cho vay chỉ tăng 10,57%, từ 305.817 tỷ đồng lên 338.148 tỷ đồng. Tốc độ tăng nợ xấu nhanh gấp gần sáu lần tốc độ tăng dư nợ. Nhóm 2, nhóm nợ cần chú ý và thường bổ sung cho nợ xấu ở các quý sau, tăng từ 5.034 tỷ đồng lên 6.390 tỷ đồng, tương ứng 26,9%. Cộng cả bốn nhóm từ 2 đến 5, tổng dư nợ có vấn đề của TPBank đạt 12.669 tỷ đồng, tăng 41,2%.
Đối lập với tốc độ tăng nợ xấu, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng sáu tháng chỉ ở mức 1.321 tỷ đồng, gần như không đổi so với 1.314 tỷ đồng cùng kỳ. Riêng quý II, khoản chi phí dự phòng còn giảm 6,11%. TPBank giải trình việc trích lập thực hiện đúng quy định phân loại nợ của cơ quan quản lý.
Tỷ lệ dự phòng giảm, các khoản phải thu tăng lên
Số dư dự phòng rủi ro cho vay khách hàng cuối kỳ đạt 4.178 tỷ đồng, so với 3.630 tỷ đồng đầu năm. Chia cho tổng nợ xấu, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của TPBank giảm từ khoảng 92% xuống còn khoảng 67%. Cuối năm 2025, cứ 100 đồng nợ xấu ngân hàng để dành sẵn 92 đồng đề phòng mất vốn. Đến giữa năm 2026, phần để dành chỉ còn 67 đồng. Sáu tháng qua, TPBank đã dùng 775 tỷ đồng nguồn dự phòng để xử lý các khoản nợ khó thu hồi. Tổng nợ xấu đã xử lý rủi ro và đang theo dõi ngoài bảng cân đối lên tới 26.663 tỷ đồng, trong đó nợ gốc chiếm 14.707 tỷ đồng.
Thuyết minh số 18 ghi nhận khoản phải thu khác đạt 21.098 tỷ đồng, so với 11.633 tỷ đồng đầu năm, tăng 81,4%, trong đó phải thu bên ngoài tăng từ 11.393 tỷ đồng lên 20.764 tỷ đồng. Các khoản lãi và phí phải thu, tức phần lãi TPBank đã tính vào thu nhập nhưng chưa nhận được tiền, tăng từ 4.021 tỷ đồng lên 5.828 tỷ đồng, tương ứng 44,9%. Lãi cho vay chưa thu được theo dõi ngoài bảng cũng tăng lên 1.328 tỷ đồng.
![]() |
Về cơ cấu tín dụng, dư nợ cho vay hoạt động kinh doanh bất động sản tăng từ 32.255 tỷ đồng lên 49.822 tỷ đồng, tương ứng 54,5%, kéo tỷ trọng nhóm ngành trong tổng dư nợ từ 10,55% lên 14,73%. Nguồn vốn cho phần tăng trưởng này phần lớn đến từ thị trường liên ngân hàng, khi tiền gửi khách hàng chỉ tăng 3,38% lên 288.478 tỷ đồng, còn tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác tăng 27,9%, thêm 31.288 tỷ đồng. Tiền gửi không kỳ hạn, phần vốn rẻ nhất, giảm 4,94%. Chi phí lãi và các chi phí tương tự sáu tháng lên 12.871 tỷ đồng, tăng 68,2%, trong khi thu nhập lãi tăng 40,7%. Chi phí vốn tăng nhanh hơn thu nhập khiến thu nhập lãi thuần chỉ tăng 8,55%, thấp hơn nhiều so với tốc độ mở rộng dư nợ.
Mảng ngân hàng số: thu phí thanh toán giảm một nửa
TPBank nhiều năm gắn thương hiệu với hình ảnh ngân hàng số. Trong văn bản giải trình, ngân hàng khẳng định coi ngân hàng số là lợi thế cạnh tranh và sẽ tiếp tục mở rộng các dịch vụ phi tín dụng gồm thanh toán điện tử, quản lý tài chính cá nhân.
Số liệu tại thuyết minh số 30 cho thấy hướng đi khác. Thu phí từ hoạt động thanh toán, khoản mục phản ánh trực tiếp mức độ khách hàng dùng ứng dụng ngân hàng để giao dịch, chuyển tiền và thanh toán hằng ngày, chỉ đạt 278 tỷ đồng trong sáu tháng đầu năm 2026, giảm gần một nửa so với 553 tỷ đồng cùng kỳ. Thu từ dịch vụ kinh doanh, dịch vụ bảo hiểm và tư vấn cũng giảm, từ 77,5 tỷ đồng xuống 45,2 tỷ đồng.
Toàn bộ mức tăng của mảng dịch vụ đến từ một dòng thu duy nhất, phí dịch vụ khác, tăng từ 1.883 tỷ đồng lên 3.067 tỷ đồng. Báo cáo không thuyết minh chi tiết cấu phần bên trong dòng thu này, nên chưa có cơ sở để xác định phần tăng thêm hơn 1.180 tỷ đồng đến từ hoạt động cụ thể nào. Đi kèm, chi phí dịch vụ khác cũng tăng từ 168 tỷ đồng lên 506 tỷ đồng, gấp ba lần cùng kỳ.
![]() |
| Thu phí từ hoạt động thanh toán của TPBank giảm từ 553 tỷ đồng xuống 278 tỷ đồng, trong khi dòng thu phí dịch vụ khác tăng thêm hơn 1.180 tỷ đồng mà báo cáo không thuyết minh chi tiết. Ảnh chụp màn hình báo cáo. |
Phần đầu tư cho công nghệ, hạ tầng cốt lõi để duy trì vị thế ngân hàng số, lại ở mức khiêm tốn. Nguyên giá tài sản cố định vô hình, chủ yếu là phần mềm và hệ thống quản lý dữ liệu, chỉ tăng thêm 26,2 tỷ đồng trong sáu tháng, toàn bộ thuộc phần mềm máy tính. Tổng chi mua sắm tài sản cố định theo báo cáo lưu chuyển tiền tệ đạt 114,8 tỷ đồng, thấp hơn mức 134,2 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Giá trị còn lại của phần mềm máy tính giảm từ 463,8 tỷ đồng xuống 441,9 tỷ đồng. Đáng chú ý, nguyên giá tài sản vô hình đã khấu hao hết nhưng vẫn đang được sử dụng tăng lên 517,1 tỷ đồng, so với 446,8 tỷ đồng cuối năm 2025, nghĩa là một phần hạ tầng phần mềm cốt lõi của ngân hàng đang vận hành vượt tuổi thọ kế toán ban đầu mà chưa được thay thế.
Số nhân sự toàn hệ thống giảm từ 7.959 người xuống 7.794 người sau sáu tháng, nhưng chi cho nhân viên vẫn tăng 30,3%, lên 2.814 tỷ đồng.
Đặt cạnh nhau, ba dữ kiện, thu phí thanh toán giảm một nửa, đầu tư phần mềm chỉ nhích thêm hơn 26 tỷ đồng, và dòng thu tăng trưởng chính lại không được thuyết minh chi tiết, cho thấy khoảng cách giữa thông điệp ngân hàng số mà TPBank truyền thông và những gì con số trong báo cáo tài chính thể hiện.
Tự doanh ghi nhận lỗ, thanh khoản ngắn hạn thu hẹp
Ở mảng tự doanh, hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh lỗ thuần 209 tỷ đồng sau sáu tháng, so với mức lỗ 375 triệu đồng cùng kỳ. TPBank trích lập 230 tỷ đồng dự phòng cho danh mục này, trong đó 207 tỷ đồng thuộc phần trái phiếu chưa niêm yết bị xếp vào nhóm có khả năng mất vốn. Kinh doanh ngoại hối lãi thuần 220 tỷ đồng, giảm 37,3%.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ghi nhận dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh âm 16.933 tỷ đồng. Tiền và tương đương tiền cuối kỳ giảm từ 115.747 tỷ đồng xuống 97.023 tỷ đồng. Bảng phân tích thanh khoản cho thấy mức chênh thanh khoản ròng kỳ hạn đến một tháng âm 63.617 tỷ đồng, kỳ hạn từ một đến ba tháng âm 11.092 tỷ đồng.
Số liệu chưa được giải trình đầy đủ
Toàn bộ số liệu nêu trên trích từ báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2026 do TPBank công bố trên cổng thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Diễn biến nợ xấu, cơ cấu dòng thu phí dịch vụ khác và mức trích lập dự phòng chưa tương xứng với tốc độ nợ xấu là những điểm cần TPBank giải trình thêm trong các kỳ công bố tới.
Đặt trong bối cảnh các ngân hàng đã công bố báo cáo cùng kỳ như BIDV hay HDBank, TPBank cho thấy một biến thể khác của cùng một xu hướng: tăng trưởng lợi nhuận đi kèm chất lượng tài sản suy giảm, nhưng ở TPBank khoảng cách còn nằm giữa thương hiệu ngân hàng số và mức đầu tư công nghệ thực tế. Câu hỏi đáng theo dõi trong các quý tới là liệu TPBank có công bố rõ cấu phần dòng thu phí dịch vụ khác đang gánh toàn bộ tăng trưởng mảng dịch vụ, và liệu ngân hàng có tăng tốc đầu tư hạ tầng công nghệ khi phần mềm cốt lõi đang vận hành vượt tuổi thọ kế toán.
Có thể bạn quan tâm
Grab tiết lộ AI giúp phát triển sản phẩm nhanh gấp 3 lần, doanh thu lập kỷ lục
Doanh nghiệp số
Nhận định chứng khoán 4/8: VN-Index thử vùng cản 1.770-1.780 điểm
Thị trường
Chứng khoán 3/8: VN-Index tăng 27 điểm, công nghệ dẫn sóng
Thị trường



